CHƯƠNG I1: GIỚI THIỆU 1. Lý do lựa chọn đề tài Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng trong việc ôn định, tăng trưởng kinh tế, giúp phân bổ lại nguồn lực, giảm bất bình đẳng thu nhập và xã hội, quản lý doanh nghiệp nhà nước. Nếu ngân sách nhà nước bị thâm hụt lớn sẽ gây bất ổn kinh tế, nó ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực, tổng sản lượng đầu ra, tiết kiệm tư nhân, đầu tư tư nhân và cán cân tài khoản vãng lai (Papadogonas & Stournaras, 2006). Arjomand và các cộng sự (2016) cũng tìm thấy mỗi quan hệ ngược chiều của thâm hụt ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế khi nghiên cứu vai trò của thâm hụt ngân sách ở các quốc gia MENA.
Tuy nhiên, hiện tại ngân sách nhà nước của các quốc gia đang phát triển bị thâm hụt lớn, vì ở các nước này, thu nhập thấp nên số thu thuế không nhiễu, trong khi, nhu cầu về tài trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, bảo hộ các ngành sản xuất trong nước làm chính phủ phải chỉ tiêu rất lớn, vượt xa khả năng thu thuế của mình. Chính vì thực trạng và tầm quan trọng của thâm hụt ngân sách nhà nước, nên có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm nghiên cứu các yếu tố tác động đến thâm hụt ngân sách nhà nước. Theo Neaime (2015), gánh nặng nợ lớn hay số thu thuế không tương xứng với chỉ tiêu của chính phủ cho đầu tư cơ sở hạ tầng làm gia tăng thâm hụt ngân sách nhà nước. Một nghiên cứu khác của Arjomand và các cộng sự (2016), tác giả tìm thấy tăng trưởng kinh tế, lạm phát tác động cùng chiều với thâm hụt ngân sách nhà nước, trong khi, năng suất lao động ảnh hưởng ngược chiều.
và Guan (1999) cho rằng thâm hụt tài khoản vãng lai được tài trợ bởi nợ công, tiền lãi trên các khoản nợ công này tăng lên qua từng năm, dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước lớn hơn. Và cũng có rất nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác tìm hiểu mối quan hệ giữa bộ đôi thâm hụt ngân sách nhà nước và thâm hụt tài khoản vãng lai. Tuy nhiên, hầu hết những nghiên cứu trước đây chỉ dừng lại ở việc phân tích tác động của thâm hụt tài khoản vãng lai đến thâm hụt ngân sách nhà nước mà không phân tích thực nghiệm tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước. Mặc dù một thành phần khác của cán cân thanh toán quốc tế - đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng có những ảnh hưởng đến cân đối ngân sách nhà nước.
Vì vậy, để làm rõ những vấn đề trên, tác giả luận văn chọn dé tai “Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triên ở Châu Á” làm luận văn tốt nghiệp của mình. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu tác động của các thành phan cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á, từ đó đề xuất những chính sách đề bảo đảm cân đối ngân sách nhà nước. Đề tài trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: - _ Các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế, bao gồm: cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài, tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triên ở Châu Á như thế nào? -_ Các giải pháp nào có thể cải thiện cân đối ngân sách nhà nước? 1. Phương pháp nghiên cứu Tác giả luận văn phân tích định tính và định lượng để tìm hiểu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á.
Đối với phân tích định tính, tác giả luận văn sử dụng thống kê mô ta, tong hop dé đánh giá thực trạng về các thành phần cán cân thanh toán quốc tế: cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài, và cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á. Đối với phân tích định lượng, tác giả luận văn thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị dé kiểm định tính dừng của đữ liệu. Tiếp theo, thực hiện hồi quy POLS, FEM, REM theo mô hình nghiên cứu. Từ kết quả hồi quy, lựa chọn mô hình tốt nhất và kiểm định tự tương quan, phương sai thay đổi, đa cộng tuyến.
Sau khi thực hiện các kiểm định trên, tác giả sử dụng mô hình ước lượng GLS để khắc phục và tìm hiểu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triên ở châu Á. Phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á. Trong đó, luận văn tập trung vào nghiên cứu tác động của cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước. Phạm vỉ nghiên cứu: Luận văn thu thập dữ liệu theo năm trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2017 của 10 quốc gia đang phát triển ở châu Á: Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, Án Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Mông Cổ.
Nguồn dữ liệu: Các dữ liệu về các biến của mô hình nghiên cứu được thu thập từ worldbank và website chỉ số các biến kinh tế www. Ý nghĩa của đề tài Từ kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ trả lời cho câu hỏi nghiên cứu: các thành phần của cán cân thanh toán quốc tế, gồm: cán cân tài khoản vãng lai và đầu tư trực tiếp nước ngoài tác động đến cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á như thế nào? Từ những nền tảng lý thuyết kết hợp với kết quả của ước lượng GLS, luận văn đưa ra một số đề xuất về chính sách để đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước tai 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á. Kết cấu đề tài Đề tài gồm có các phần sau: Chương l: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đề cân đối ngân sách nhà nước và các nghiên cứu trước đây Trong chương này sẽ giới thiệu một số nghiên cứu liên quan đến cán cân thanh toán quốc tế, cân đối ngân sách nhà nước, tác động của cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài đến cân đối ngân sách nhà nước qua các nghiên cứu thực nghiệm. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu Nội dung của chương trình bảy phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, giới thiệu các biến, các giả định được sử dụng cũng như quy trình thực hiện hồi quy và kiểm định mô hình và kết quả ước lượng.
Chương 4: Phân tích định tính và định lượng về tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước Trình bày kết quả phân tích định tính về thực trạng của ngân sách nhà nước, cán cân tài khoản vãng lai, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại I0 quốc gia đang phát triển ở châu Á. Đồng thời, kết quả hồi quy ước lượng mô hình nghiên cứu tác động của các thành phần cán cân thanh toán quốc tế đến cân đối ngân sách nhà nước cũng được trình bày trong chương này. Chương 5: Kết luận, hàm ý và kiến nghị về chính sách Từ kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả luận văn đề xuất một số kiến nghị về chính sách nhằm đảm bảo cân đối ngân sách nhà nước tại 10 quốc gia đang phát triển ở Châu Á. CO SO LY THUYET VE TAC BONG CUA CÁC THÀNH PHAN CAN CAN THANH TOAN QUOC TE DEN CAN DOI NGAN SACH NHÀ NƯỚC VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Cân đối ngân sách 2. Khái niệm cân đối ngân sách nhà nước Cân đối ngân sách nhà nước là việc điều chỉnh số thu đảm bảo cho chỉ tiêu của chính phủ (Cameron, 2004). Vì vậy, cân bằng ngân sách nhà nước là sự khác biệt giữa tổng số thu và chỉ tiêu. Ngân sách nhà nước bị thâm hụt khi chỉ tiêu công vượt quá số thu thuế và thặng dư khi số thu thuế lớn hơn chỉ tiêu công.
Ngân sách nhà nước có mối quan hệ ngược chiều với chỉ tiêu công. Nghĩa là, nếu số thu thuế không đổi, việc tăng chỉ tiêu công sẽ làm xấu đi ngân sách nhà nước. Ngược lại, ngân sách nhà nước có mối quan hệ cùng chiều với số thu thuế, nếu số thu thuế tăng trong khi chỉ tiêu công không đổi, giúp cải thiện ngân sách nhà nước. Những chính phủ có số thu bất ổn thì thâm hụt ngân sách nhà nước sẽ lớn hơn và nếu chính phủ kiểm soát chỉ tiêu tốt hơn sẽ giảm thâm hụt ngân sách nhà nước (Morrison, 1982).
Tài trợ thâm hụt ngân sách Theo Govil (2014), để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước, chính phủ có thê vay mượn từ ngân hàng trung ương, vay nợ nước ngoài, vay nợ các ngân hàng thương mại và vay nợ từ khu vực phi ngân hàng trong nước. Vay nợ ngân hàng trung ương được thực hiện bằng việc tăng cung tiền (Govil, 2014). Tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách chỉ được sử dụng khi chính phủ buộc phải phát hành tiền để lưu hành lúc thực sự cần thiết (Ghosh, 2002). Giả sử M là lượng tiền tệ đang lưu hành, V là vòng quay của tiền, P là mức giá hàng hóa, T là khối lượng giao dịch, mua bán, theo Boariu & Bilan (2007), phương trình sức mua tiền tệ của Irving Fisher có dạng: M*V=P*T (2.1) Vì vậy, nếu cung tiền tăng, trong khi khối lượng hàng hóa và dịch vụ, vòng quay tiền tệ không thay đổi, mức giá gia tăng.
Tại một mức thu nhập danh nghĩa, sự gia tăng mức giá làm giảm thu nhập thực của các cá nhân và tô chức. Vì vậy, tăng cung tiền để tài trợ cho thâm hụt ngân sách nhà nước tác động đến việc phân phối thu nhập của người dân theo đúng chủ đích của chính phủ, đó là, lượng tiền tăng thêm được dùng để mua hàng hóa, dịch vụ và chi tiêu công (Fischer & Dornbusch, 1997). Tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách làm tăng giá. Tuy nhiên, trong dài hạn, tăng cung tiền để tài trợ thâm hụt ngân sách nhà nước có làm lạm phát gia tăng hay không, còn phụ thuộc vào cách sử dụng nguồn lực của chính phủ (Boariu & Bilan, 2007).