Luận văn thạc sĩ: Ảnh hưởng của nhiệm kỳ đến chất lượng kiểm toán

Luận văn phân tích sâu ảnh hưởng của nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng kiểm toán. Nghiên cứu thực nghiệm tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục sơ đồ

Danh mục bảng

PHẦN MỞ ĐẦU

Lý do thực hiện đề tài

Mục tiêu nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu

Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu

Các đóng góp của đề tài

Kết cấu của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1. Các nghiên cứu ngoài nước

1.2. Các nghiên cứu trong nước

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về chất lượng kiểm toán

2.1.1. Một số khái niệm về chất lượng

2.1.2. Một số khái niệm về chất lượng kiểm toán

2.2. Quy định về nhiệm kỳ kiểm toán

2.2.1. Quy định về nhiệm kỳ kiểm toán các nước trên thế giới

2.2.2. Quy định về nhiệm kỳ kiểm toán tại Việt Nam

2.3. Các lý thuyết nền tảng

2.3.1. Lý thuyết đại diện

2.3.2. Lý thuyết các đối tượng có liên quan

2.4. Mô hình sử dụng trong đề tài

2.4.1. Mô hình chất lượng kiểm toán

2.4.2. Mô hình ảnh hưởng nhiệm kỳ đến chất lượng kiểm toán

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu

3.1.1. Thiết kế nghiên cứu

3.1.2. Mô hình nghiên cứu đề xuất

3.1.3. Giả thuyết nghiên cứu

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

3.3. Phương pháp nghiên cứu

3.3.1. Phân tích thống kê mô tả

3.3.2. Phân tích tương quan

3.3.3. Phân tích hồi quy đa biến

3.3.4. Kiểm định mối tương quan giữa nhiệm kỳ kiểm toán và chất lượng kiểm toán

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thông tin mẫu nghiên cứu

4.2. Kết quả phân tích thống kê mô tả

4.2.1. Mô tả các biến trong mô hình

4.2.2. Thống kê mô tả các biến trong mô hình

4.3. Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến

4.3.1. Phân tích tương quan giữa các biến

4.3.2. Phương pháp nhập các biến thành phần trong mô hình hồi quy

4.3.3. Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính bội

4.3.4. Kiểm định giả thuyết

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

5.1. Một số hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của chất lượng kiểm toán

Chất lượng kiểm toán là một trong những yếu tố then chốt trong hoạt động kiểm toán độc lập. Theo các nghiên cứu học thuật, chất lượng kiểm toán được định nghĩa là mức độ mà các báo cáo kiểm toán cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ và hữu ích cho các bên liên quan. Đây là điều kiện cơ bản để xây dựng lòng tin của công chúng đối với hệ thống tài chính. Tầm quan trọng của chất lượng kiểm toán nằm ở khả năng phát hiện các sai sót, gian lận trong báo cáo tài chính và đảm bảo tính minh bạch của thông tin tài chính. Các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam cần tuân thủ các tiêu chuẩn kiểm toán cao nhất để bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư và duy trì tin cậy thị trường.

1.1. Định nghĩa chất lượng kiểm toán

Chất lượng kiểm toán được hiểu là sự tuân thủ của kiểm toán viên đối với các chuẩn mực kiểm toán và các quy định pháp luật trong quá trình thực hiện công việc. Nó bao gồm khả năng phát hiện và báo cáo các sai sót trọng yếu, cũng như độc lập trong việc đưa ra ý kiến kiểm toán. Chất lượng kiểm toán phụ thuộc vào năng lực chuyên môn, tính liêm chính và tuân thủ đạo đức hành nghề của kiểm toán viên.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán, bao gồm kinh nghiệm của kiểm toán viên, quy mô công ty kiểm toán, tính độc lập, áp lực kinh doanh, và đặc biệt là nhiệm kỳ kiểm toán. Các yếu tố này tác động trực tiếp đến khả năng cung cấp ý kiến kiểm toán có chất lượng cao và đảm bảo bảo vệ lợi ích của các bên liên quan.

II. Ảnh hưởng của nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng

Nhiệm kỳ kiểm toán là thời gian mà một kiểm toán viên hoặc công ty kiểm toán liên tục thực hiện dịch vụ kiểm toán cho cùng một khách hàng. Vấn đề ảnh hưởng nhiệm kỳ đến chất lượng kiểm toán đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, nhất là sau những bê bối tài chính lớn. Tại Việt Nam, các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán cần tuân thủ các quy định về luân chuyển kiểm toán viên. Sự kéo dài nhiệm kỳ kiểm toán có thể dẫn đến sự thiếu khách quan, sự quen thuộc quá mức với khách hàng, và có thể gây áp lực trong việc duy trì mối quan hệ kinh doanh. Mặt khác, một nhiệm kỳ kiểm toán quá ngắn cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng do thiếu thời gian để hiểu rõ hoạt động kinh doanh của khách hàng.

2.1. Tác động tích cực của nhiệm kỳ kiểm toán dài hạn

Một nhiệm kỳ kiểm toán dài hạn cho phép kiểm toán viên tích lũy kiến thức sâu sắc về hoạt động kinh doanh, cơ cấu tổ chức, và rủi ro cụ thể của khách hàng. Điều này giúp nâng cao hiệu quả kiểm toán, phát hiện các dấu hiệu gian lận nhanh hơn, và cung cấp chất lượng kiểm toán cao hơn. Kinh nghiệm tích lũy giúp kiểm toán viên đưa ra những nhận xét và khuyến nghị hữu ích hơn.

2.2. Rủi ro của việc kéo dài nhiệm kỳ kiểm toán

Mặt tiêu cực, khi nhiệm kỳ kiểm toán kéo dài quá lâu, kiểm toán viên có thể mất tính khách quan và độc lập. Sự quen thuộc quá mức có thể dẫn đến sự chủ quan, tin tưởng quá nhiều vào phát biểu của quản lý, và giảm sự cẩn thận trong kiểm toán. Áp lực duy trì mối quan hệ kinh doanh cũng có thể ảnh hưởng đến tính chất lượng kiểm toán, khiến kiểm toán viên không dám đưa ra ý kiến phản đối khi cần thiết.

III. Quy định về nhiệm kỳ kiểm toán tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các quy định về luân chuyển kiểm toán viênluân chuyển công ty kiểm toán được thực hiện nhằm bảo vệ tính độc lập và chất lượng kiểm toán. Theo các quy định hiện hành, công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán phải tuân thủ các yêu cầu về thay đổi kiểm toán viên sau một số năm nhất định. Các quy định này được xây dựng dựa trên kinh nghiệm quốc tế và nhằm giảm thiểu rủi ro liên quan đến sự mất khách quan. Tuy nhiên, việc thực hiện các quy định này cần cân bằng giữa duy trì tính độc lập và bảo đảm hiệu quả kiểm toán. Các công ty kiểm toán lớn, đặc biệt là các công ty Big4, thường tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về nhiệm kỳ kiểm toán để duy trì chất lượng kiểm toán cao.

3.1. Quy định hiện hành về luân chuyển kiểm toán viên

Theo các quy định của Việt Nam, luân chuyển kiểm toán viên cần được thực hiện để bảo vệ tính độc lập. Các quy định cụ thể về số năm tối đa có thể phục vụ cùng một khách hàng được đặt ra để đảm bảo rằng kiểm toán viên không mất tính khách quan. Những quy định này áp dụng đặc biệt với các công ty niêm yết, nơi mà tính minh bạch thông tin tài chính là rất quan trọng.

3.2. So sánh với các quy định quốc tế

Nhiều quốc gia trên thế giới đã thực hiện quy định về luân chuyển công ty kiểm toán hoặc kiểm toán viên chính để bảo vệ tính độc lập. Các quy định quốc tế này được xây dựng dựa trên các bằng chứng về ảnh hưởng của thời gian dài trong nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng kiểm toán. Việt Nam cần tiếp tục cải thiện và hoàn thiện các quy định của mình để phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

IV. Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng nhiệm kỳ đến chất lượng kiểm toán

Luận văn của Lưu Thị Thảo Nguyên thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng kiểm toán tại các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ các báo cáo tài chính và thông tin kiểm toán của các công ty trong một khoảng thời gian nhất định. Bằng cách sử dụng các phương pháp phân tích thống kê, mô hình hồi quy tuyến tính đa biến, và kiểm định giả thuyết, luận văn đã chứng minh mối quan hệ giữa nhiệm kỳ kiểm toán và các chỉ số chất lượng kiểm toán. Kết quả của nghiên cứu thực nghiệm này cung cấp bằng chứng thực tiễn về tác động của nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng kiểm toán, giúp các cơ quan quản lý, công ty kiểm toán và các công ty niêm yết hiểu rõ hơn về vấn đề này.

4.1. Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu sử dụng

Nghiên cứu thực nghiệm sử dụng dữ liệu từ các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, bao gồm thông tin về kiểm toán viên, công ty kiểm toán, và chỉ số chất lượng kiểm toán. Phương pháp nghiên cứu bao gồm phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan, và mô hình hồi quy đa biến để kiểm định giả thuyết về ảnh hưởng của nhiệm kỳ kiểm toán.

4.2. Các kết quả chính từ nghiên cứu

Kết quả của nghiên cứu thực nghiệm cho thấy có mối quan hệ có ý nghĩa giữa nhiệm kỳ kiểm toánchất lượng kiểm toán. Các công ty kiểm toán Big4 thường duy trì chất lượng kiểm toán cao hơn, và việc tuân thủ quy định về nhiệm kỳ kiểm toán giúp bảo vệ tính độc lập. Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà hoạch định chính sách và các công ty kiểm toán tại Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/12/2025
Tài liệu luận văn ảnh hưởng của nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lượng kiểm toán

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu, phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu,. kết cấu của đề tài gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu.

Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu. Chƣơng 5: Kết luận và hạn chế của đề tài. Tài liệu tham khảo. Phụ lục Footer Page 12 of 21.

Header Page 13 of 21. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC 1. Các nghiên cứu ngoài nƣớc Ảnh hƣởng của nhiệm kỳ kiểm toán đến chất lƣợng kiểm toán luôn là chủ đề thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm của các đối tƣợng sử dụng cũng nhƣ các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Chƣơng này sẽ tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam, nhằm có cái nhìn tổng quát về tình hình nghiên cứu về chủ đề này.

Trên thế giới có một số nghiên cứu liên quan về chất lƣợng kiểm toán và nhiệm kỳ kiểm toán, dƣới đây là một vài nghiên cứu tiêu biểu: Johnson, V. Audit-firm tenure and the quality of financial reports. Contemporary Accounting Research 19 (4): 637-660. Bài nghiên cứu tiến hành điều tra xem nhiệm kỳ công ty kiểm toán có ảnh hƣởng đến chất lƣợng báo cáo tài chính hay không, với đối tƣợng nghiên cứu là các tập đoàn bảo hiểm của Hoa Kỳ.

Tác giả sử dụng hai thƣớc đo đại diện chất lƣợng báo cáo tài chính: giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích không mong đợi (unexpected accruals) và kết cấu khoản dồn tích về thu nhập (accrual components of earnings), với số lƣợng mẫu đƣợc sử dụng là 11.148 quan sát công ty công bố trên Compustat (đây là một cơ sở dữ liệu thông tin tài chính, thống kê và thị trƣờng cho toàn công ty trên thế giới) trong thời gian 10 năm (từ 1986-1995). Mô hình sử dụng để tính khoản dồn tích bất thƣờng là mô hình Jones 1991 đƣợc sửa đổi theo Jiambalvo (1994) và Subramanyam (1996), với công thức nhƣ sau: |UAIt| = TAit/Ait-1 = 1jt(1/Ait-1) + 2jt( [( REVit - ARit)/Ait-1] + 3jt(PPEit/Ait-1) + it Trong đó TA là tổng các khoản dồn tích, A: tổng tài sản, REV: tổng doanh thu bán hàng, AR: khoản phải thu, và PPE: tổng tài sản cố định. Các hệ số 1jt, 2jt và 3jt là các thông số ƣớc tính dồn tích mong đợi sử dụng cho tất cả các công ty trong ngành công nghiệp thứ j (đƣợc xác định bởi hai chữ số mã SIC) và năm tài chính t. Sau đó, tác giả dựa vào mô hình hồi quy dƣới đây để kiểm tra các mối quan hệ giữa khoản dồn tích bất thƣờng và nhiệm kỳ kiểm toán: Footer Page 13 of 21.

Header Page 14 of 21. 7 |UAIt| = 0 + 1(OCFit/Ait-1) + 2LAit + 3LEVit + 4FCit + 5AGEit + 6SHORTit + 7LONGit + it Trong đó |UAIt|: giá trị tuyệt đối của khoản dồn tích bất thƣờng của công ty i tại thời điểm t; OCFit: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i tại thời điểm t; Ait-1: tổng tài sản của công ty i tại thời điểm t – 1; LAit: logarit tổng tài sản của công ty i tại thời điểm t; LEVit: tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản của công ty i tại thời điểm t; FCit: Altman Z-score của công ty i tại thời điểm t; AGEit: số năm công ty i niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán tại thời điểm t; SHORTit: nhận giá trị là 1 nếu nhiệm kỳ công ty kiểm toán ngắn (2 hoặc 3 năm); nếu khác nhận giá trị là 0; LONGit: nhận giá trị là 1 nếu nhiệm kỳ công ty kiểm toán dài (9 năm trở lên); nếu khác nhận giá trị là 0. Mô hình sử dụng để kiểm tra các mối quan hệ giữa mức độ khoản dồn tích này tồn tại trong thu nhập của năm tiếp theo và nhiệm kỳ kiểm toán (Sloan, 1996): Eit+1/Ait-1 = 0+ 1(OCFit/Ait-1) + 2(TAit/Ait-1) + 3[(OCFit/Ait-1)*SHORTit] + 4[(OCFit/A i t - 1 )*LONGit] + 5[(TAit/Ait-1)*SHORTit] + 6[(TAit/Ait-1*LONGit + it-1 Trong đó: Eit+1 là thu nhập của công ty i trong năm t. Kết quả, họ thấy rằng nhiệm kỳ công ty kiểm toán trung bình (4 - 8 năm) và ngắn (2 - 3 năm) có liên quan đến chất lƣợng báo cáo tài chính thấp.

Tuy nhiên, không có bằng chứng để kết luận chất lƣợng báo cáo tài chính sẽ giảm đối với nhiệm kỳ nhiều hơn 9 năm. Kết quả nghiên cứu không thể khẳng định luân chuyển công ty kiểm toán với nhiệm kỳ dài có tác động xấu đến chất lƣợng báo cáo tài chính, nhƣng khẳng định nhiệm kỳ ngắn thì có ảnh hƣởng tích cực đến chất lƣợng báo cáo. Exploring the term of auditor-client relationship and the quality of earnings: A case for mandatory auditor rotation? The Accounting Review 78 (3): 779-799. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng tìm hiểu về mối quan hệ giữa nhiệm kỳ và chất lƣợng thu nhập thông qua hai giá trị tuyệt đối là: khoản dồn tích bất thƣờng (abnormal accrual) theo mô Footer Page 14 of 21.

Header Page 15 of 21. 8 hình Jones và khoản dồn tích ngắn hạn (current accrual) đại diện cho chất lƣợng thu nhập. Nghiên cứu tập trung vào việc “luân chuyển kiểm toán bắt buộc”, với mối quan tâm là nhiệm kỳ kiểm toán càng dài sẽ làm giảm chất lƣợng thu nhập. Mẫu sử dụng của tác giả gồm tất cả công ty trong năm 1988 – 2000 trên Compustat vào năm 2001 và thêm ít nhất dữ liệu sáu năm trƣớc đó để đảm bảo rằng khoản dồn tích bất thƣờng có liên quan đến hoạt động của công ty (Teoh và cộng sự, 1998).

Hai phƣơng pháp dồn tích đƣợc sử dụng trong bài nhƣ sau: Curent Accruals = [( CA - Cash) – ( CL - STD)] và Discretionary Accruals = Accruals – 0 + 1 Revenue + 1 PPE (mô hình Jones hiệu chỉnh). Mô hình chung với các biến kiểm soát đƣợc tác giả đã tổng hợp các biến từ các nghiên cứu trƣớc nhƣ sau: Accruals = α + β1Tenure + β2Age + β3Size + β4 IndGrw + β5CashFlow + β6AuditorType + β7 -69Industry + β1988 – 1999Year + Trong đó Accruals: khoản dồn tích tùy ý (discretionary accruals) hoặc dồn tích ngắn hạn (current accruals) đƣợc đo bằng tổng tài sản trung bình; Tenure: số năm liên tiếp công ty đƣợc kiểm toán; Age: số năm công bố thông tin trên Compustat từ năm 1980; Size: quy mô công ty, lấy logarit tổng tài sản; Industry Growth: tăng trƣởng công nghiệp, ∑ ⁄∑ ; Cash Flow: dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, đƣợc đo bởi tổng tài sản trung bình; Auditor Type: biến giả bằng 1 nếu kiểm toán viên thuộc công ty Big 4 hoặc Big 5, không phải là 0; Industry: dựa trên hai chữ số mã SIC; Year: năm dƣơng lịch. Đo lƣờng tất cả các biến bằng tổng tài sản bình quân. Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy chất lƣợng thu nhập trên báo cáo sẽ cao hơn với nhiệm kỳ kiểm toán dài.

Nhƣ vậy, các tác giả cho thấy rằng nhiệm kỳ kiểm toán không làm giảm chất lƣợng kiểm toán và chất lƣợng thu nhập. Tuy nhiên, cũng không thể kết luận là chất lƣợng thu nhập hoặc chất lƣợng kiểm toán sẽ đƣợc cải thiện nếu vẫn tiếp tục kiểm toán. Khác với hai nghiên cứu trên khi quan tâm đến việc luân chuyển công ty Footer Page 15 of 21. Header Page 16 of 21.

9 kiểm toán thì nghiên cứu của Chi, W. Discretionary accruals, audit-firm tenure, and audit-partner tenure: Empirical evidence from Taiwan. Journal of Contemporary Accounting & Economics, Vol. quan tâm hơn về việc luân chuyển kiểm toán viên.

Nghiên cứu này điều tra về tính hiệu quả của việc bắt buộc luân chuyển kiểm toán đối với chất lƣợng kiểm toán, dữ liệu đƣợc sử dụng là mẫu sơ bộ của 998 công ty tại Đài Loan trong năm 2002, và theo dõi các nhóm kiểm toán trong mẫu sơ bộ đƣợc lọc lại trong năm 2003 và 2004. Tác giả cũng sử dụng khoản dồn tích đại diện cho biến chất lƣợng kiểm toán (Johnson và cộng sự, 2002; Myers và cộng sự, 2003) với 2 trƣờng hợp là: dồn tích bất thƣờng (Jones, 1991) và dồn tích vốn lƣu động bất thƣờng (DeFond và Park, 2001). Khoản dồn tích đầu tiên là khoản dồn tích bất thƣờng (ABNACt) ƣớc tính các số dƣ từ mô hình Jones (1991) nhƣ sau: = + + + Với TACt: tổng số dự thu trong nửa đầu của năm t; t : thay đổi trong doanh thu bán hàng giữa nửa đầu của năm t và nửa đầu của năm t-1; t: thay đổi trong các khoản phải thu giữa nửa đầu của năm t và nửa đầu của năm t-1; PPEt: tổng số tiền lãi của tài sản, nhà máy và thiết bị vào cuối của nửa đầu năm t; và TAt-1: tổng tài sản vào cuối năm t-1. Khoản dồn tích thứ hai là khoản dồn tích vốn lƣu động bất thƣờng đại diện cho chất lƣợng kiểm toán (DeFond và Park, 2001): ( ) = Với WCt: vốn lƣu động không phải tiền trong nửa đầu của năm t = (Tài sản lƣu động - tiền và đầu tƣ ngắn hạn) - (nợ ngắn hạn - nợ vay ngắn hạn); SALESt: doanh thu bán hàng trong nửa đầu của năm t; TAt-1: tổng tài sản vào cuối năm t-1.

Để kiểm tra sự hiệu quả của luân chuyển kiểm toán bắt buộc đối với chất lƣợng kiểm toán, tác giả sử dụng mô hình hồi quy dƣới đây theo Myers và cộng sự (2003): Footer Page 16 of 21. Header Page 17 of 21. 10 Acc = α + β1BMK + β2Age + β3Size + β4IndGrw + β5CFO + β6Big4 +ε Với Acc: khoản dồn tích vốn lƣu động bất thƣờng (AWCAt), đƣợc đo bằng giá trị tuyệt đối; BMK: biến giả bằng 1 nếu quan sát thuộc mẫu chuẩn, bằng 0 nếu là mẫu luân chuyển bắt buộc, Age: số năm từ khi công ty niêm yết; Size: logarit của tổng tài sản vào cuối nửa đầu năm t; IndGrw: tăng trƣởng ngành công nghiệp = ∑ ⁄∑ ; CFO: dòng tiền hoạt động kinh doanh từ báo cáo lƣu chuyển tiền tệ trong nửa đầu của năm t, chia cho tổng tài sản vào cuối của nửa đầu năm t-1; Big4: biến giả bằng 1 nếu kiểm toán viên thuộc công ty Big N, không phải nhận giá trị là 0. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thứ nhất, chất lƣợng kiểm toán của các công ty bắt buộc luân chuyển kiểm toán cao hơn so với chất lƣợng kiểm toán của các công ty không bị bắt buộc luân chuyển trong năm 2004.

Thứ hai, đối với các công ty có kiểm toán đƣợc luân chuyển bắt buộc trong năm 2004, có chất lƣợng kiểm toán thấp hơn so một năm trƣớc đây với các công ty kiểm toán cũ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ