Luận án ts kế toán nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Luận án nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.

Chuyên ngành

Kế Toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án
141
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TRONG DOANH NGHIỆP

1.1. Tổng quan nghiên cứu về Báo cáo tích hợp

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BCTH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BCTH TẠI CÁC DNNY TRÊN TTCK VIỆT NAM

5. CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, KHUYẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về Luận án TS Kế toán và Báo cáo tích hợp

Luận án TS Kế toán nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Báo cáo tích hợp (BCTH) đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính cho các bên liên quan. Nghiên cứu này nhằm làm rõ các yếu tố tác động đến việc áp dụng BCTH, từ đó giúp các doanh nghiệp nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình.

1.1. Khái niệm và vai trò của Báo cáo tích hợp

BCTH là một công cụ quản lý hiện đại, giúp các tổ chức thể hiện cách thức tạo ra và duy trì giá trị. BCTH không chỉ cung cấp thông tin tài chính mà còn tích hợp các yếu tố phi tài chính, từ đó tạo ra cái nhìn toàn diện về hoạt động của doanh nghiệp.

1.2. Tình hình áp dụng BCTH tại Việt Nam

Tại Việt Nam, việc áp dụng BCTH còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa nhận thức đầy đủ về lợi ích của BCTH, dẫn đến việc công bố thông tin chưa đầy đủ và thiếu tính liên kết giữa các báo cáo tài chính và phi tài chính.

II. Vấn đề và thách thức trong việc áp dụng BCTH

Việc áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam gặp nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu sự liên kết giữa các báo cáo, chất lượng thông tin chưa cao và áp lực từ các bên liên quan là những yếu tố cản trở việc áp dụng BCTH hiệu quả.

2.1. Thiếu sự liên kết giữa các báo cáo

Nhiều doanh nghiệp vẫn công bố báo cáo tài chínhbáo cáo phát triển bền vững một cách tách biệt, dẫn đến việc thông tin không được kết nối và khó khăn trong việc phân tích cho các bên liên quan.

2.2. Chất lượng thông tin chưa cao

Chất lượng thông tin trong các báo cáo hiện tại còn thấp, gây khó khăn cho nhà đầu tư trong việc đưa ra quyết định. Điều này làm giảm niềm tin của các bên liên quan vào thông tin mà doanh nghiệp cung cấp.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp áp dụng BCTH

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng báo cáo tích hợp. Các giải pháp được đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng BCTH tại các doanh nghiệp niêm yết.

3.1. Phương pháp nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn chuyên gia và khảo sát các doanh nghiệp để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng BCTH. Kết quả giúp nhận diện các yếu tố cần thiết cho việc áp dụng BCTH.

3.2. Phương pháp nghiên cứu định lượng

Dữ liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính và báo cáo phát triển bền vững của các doanh nghiệp niêm yết. Phân tích hồi quy được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa các nhân tố và việc áp dụng BCTH.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc áp dụng báo cáo tích hợp mang lại nhiều lợi ích cho các doanh nghiệp niêm yết. Các doanh nghiệp áp dụng BCTH có khả năng thu hút đầu tư cao hơn và nâng cao uy tín trên thị trường.

4.1. Lợi ích của việc áp dụng BCTH

Việc áp dụng BCTH giúp doanh nghiệp cải thiện tính minh bạch, nâng cao trách nhiệm giải trình và tạo ra giá trị bền vững cho các bên liên quan. Điều này cũng giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn.

4.2. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm

Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng các nhân tố như quy mô doanh nghiệp, chất lượng kiểm toán và áp lực từ các bên liên quan có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng BCTH tại các doanh nghiệp niêm yết.

V. Kết luận và tương lai của BCTH tại Việt Nam

Việc áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam là một xu hướng tất yếu. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về các nhân tố ảnh hưởng mà còn đưa ra các khuyến nghị cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước.

5.1. Khuyến nghị cho doanh nghiệp

Doanh nghiệp cần nhận thức rõ về lợi ích của việc áp dụng BCTH và tích cực triển khai các giải pháp để nâng cao chất lượng thông tin trong báo cáo. Điều này sẽ giúp tăng cường niềm tin của nhà đầu tư.

5.2. Tương lai của BCTH tại Việt Nam

Trong tương lai, việc áp dụng BCTH sẽ trở thành một yêu cầu bắt buộc đối với các doanh nghiệp niêm yết. Điều này sẽ thúc đẩy sự phát triển bền vững và nâng cao tính minh bạch trong hoạt động kinh doanh.

10/07/2025
Luận án ts kế toán nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng báo cáo tích hợp tại các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨ VỀ BÁO CÁO TÍCH HỢP VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN ÁP DỤNG BÁO CÁO TÍCH HỢP TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu về Báo cáo tích hợp BCTH đã nổi lên như là một lĩnh vực chính sách mới của công ty phản ánh “tư duy tích hợp” trong một tổ chức. Đồng thời, nó cũng thế hiện được cách thức các tổ chức tạo ra và duy trì giá trị như thế nào? Do đó, BCTH có thể được xem như là một công nghệ quản lý hiện đại thúc đẩy sự thay đổi về các tổ chức theo hướng phát triển bền vững hơn. Hiện nay các nhà đầu tư, chủ nợ, và các bên liên quan khác quan tâm đến việc các tổ chức công khai đầy đủ các thông tin tài chính và phi tài chính như chiến lược, quản trị công ty, môi trường, xã hội một cách rõ ràng, ngắn gọn, súc tích để người sử dụng có thể dễ dàng hiểu hơn về công ty như một đoàn thể và tăng tăng trách nhiệm giải trình, giúp cải thiện quá trình ra quyết định phân bổ nguồn lực.

Tuy nhiên chưa có một báo cáo bắt buộc nào tích hợp các thông tin tên mà nó được công bố trên các báo cáo rời rạc nhau. Do đó, tổng quan chung về BCTH tập trung vào hai trường phái chính: + Trường phái ủng hộ việc áp dụng BCTH + Trường phái không ủng hộ việc áp dụng BCTH 1. Trường phái ủng hộ việc áp dụng Báo cáo tích hợp BCTH ngày càng trở nên phổ biến trên toàn cầu. Chỉ trong vòng 6 năm kể từ khi IIRC ban hành khuôn khổ BCTH quốc tế năm 2013.

Số lượng các tổ chức trên thế giới áp dụng ngày càng tăng lên nhanh chóng. IIRC và những người ủng hộ dự đoán rằng BCTH trong tương lai sẽ đại diện cho các báo cáo của DN và sẽ trở thành chuẩn mực báo cáo của các công ty. Nghiên cứu đầu tiên về BCTH được gọi là One Report là người Mỹ thực hiện. Nhóm nghiên cứu cho rằng quá trình hình thành BCTH của một số tập đoàn Mỹ đã được diễn ra từ đều những năm 2000 và họ đã từng bước thực hiện chiến lược phát triển bền vững trong các tập đoàn của mình.

One Report được coi là một xu hướng báo 11 cáo mới nổi trong việc lập báo cáo diễn ra trên toàn thế giới, nơi các tổ chức đang lập các báo cáo riêng biệt về tài chính và phi tài chính (BCTC, BCPTBV, Báo cáo trách nhiệm xã hội) và kết hợp các loại báo cáo này vào một báo cáo gọi là BCTH. Đồng thời các tổ chức cũng tận dụng Internet để công bố các thông tin chi tiết hơn cho các bên liên quan. One Report cho thấy rằng BCTH mang lại lợi ích cho cả các tổ chức và các bên liên quan, đồng thời góp phần vào việc phát triển một nền kinh tế bền vững. Đây là nghiên cứu điển hình nhất về BCTH, là một cuốn sách đầu tiên về BCTH có giá trị trên thế giới.

Việc ủng hộ xuất bản một báo cáo duy nhất kết hợp giữa BCTC, Báo cáo xã hội, quản trị và các yếu tố khác để cung cấp một bức tranh toàn diện hơn về DN đã được rất nhiều các nhà nghiên cứu đồng thuận như (Eccles & Krzus, 2010; Mammatt, 2009; Elkington & Renaut, 2010; King, 2010), các tổ chức (Sở giao dịch chứng khoán Johannesburg, JSE, 2010; GRI, 2010; IIRC, 2011); công ty kiểm toán (Engelbrecht, 2010; KPMG, 2010; PWC South Africa, 2010; Hespenheide, 2010). Nămt 2010, một số công ty của Mỹ cũng đã tham gia vào quá trình thí điểm lập BCTH của IIRC như American Electric Power (Năng lượng), PepsiCo (đồ uống), Edelman (truyền thông), Tập đoàn Microsoft (dịch vụ phần mềm và máy tính), Cliffs Natural Resources (khai thác và kim loại công nghiệp), Prudential Financial (dịch vụ tài chính). Ngoài ra, gần đây một số tổ chức như Jones Lang LaSalle, Southwest Airlines và Clorox đã công bố các BCTH. Đây cũng được coi như một phần chiến lược phát triển bền vững (PTBV) nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các bên liên quan và đảm bảo phân bổ nguồn lực khan hiếm một cách có hiệu quả.

Năm 2010, Nam Phi là nước đầu tiên trên thế giới yêu cầu các công ty trên thị trường chứng khoán Johannesburg lập BCTH. BCTH sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà quản lý của công ty để giúp họ lập kế hoạch, lập ngân sách và thực hiện các chiến lược dẫn đến việc sử dụng nguồn lực có hiệu quả, điều này sẽ giúp kiểm soát hoặc giảm chi phí cho các tổ chức. BCTH, tức là đại diện cho các thông tin tài chính và phi tài chính của các tổ chức trong một báo cáo. Nó không chỉ là việc kết hợp BCTC và BCPTBV vào một báo cáo mà còn có ý nghĩa thực sự đó là sự liên kết giữa chiến lược phát triển kinh doanh với chiến lược phát triển bền vững.

Nó giúp các tổ chức và các bên liên quan xác định được các khu vực tài chính không ưu tiên. Mặc dù, BCTH là hiện tượng khá mới nhưng mức độ quan tâm đến báo cáo này đã tăng lên 12 toàn cầu trọng tâm cuối cùng là các công ty thông qua và triển khai BCTH như một công nghệ quản lý mới. Mặc dù có rất nhiều nghiên cứu về BCTH như một hiện tượng đang nổi lên thậm chí các nghiên cứu còn tập trung vào kết quả và lợi ích của BCTH. Những cũng có các nghiên cứu tập trung vào lý do tại sao và cách thức mà các tổ chức tiếp cận áp dụng sớm BCTH.

Những nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về tư duy, chính sách và thực tiễn của BCTH. Tuy nhiên, vẫn còn một khoảng trống trong nghiên cứu là việc làm thế nào để BCTH được khuếch tán sử dụng rộng rãi trên toàn cầu. Về mặt này, Robertson & Samy (2015) đã sử dụng lý thuyết khuếch tán sự đổi mới (DOI) để kiểm tra sự nhận thức của các nhà quản trị với BCTH; cung cấp một lợi thế tương đối so với các thực tiễn hiện tại; tính tương thích với các quy trình và hệ thống quản lý hiện tại; những kinh nghiệm và nhu cầu trong quá khứ và sự phức tạp nhận thức của nó ảnh hưởng đến việc áp dụng và phổ biến BCTH. Nghiên cứu của Robertson & Samy (2015) còn kiểm tra các yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến sự khuếch tán của BCTH trước khi đưa ra khuôn khổ BCTH của IIRC (2013).

Nghiên cứu này được coi là một bài học kinh nghiệm cho các quốc gia đang phát triển tập trung vào BCTH như là một công nghệ quản lý và các giai đoạn khác nhau của quá trình khuếch tán. Một số nghiên cứu điển hình khác trên thế giới lại tập trung vào lợi ích cơ chế nội bộ của BCTH mang lại cho các tổ chức áp dụng. Các tác giả đã cho rằng trong những ưu điểm của BCTH thì các yếu tố phi tài chính phải được tích hợp không chỉ thể hiện trên báo cáo mà còn trong mọi quá trình ra quyết định của một tổ chức, cho rằng việc áp dụng BCTH cải thiện được việc ra quyết định của các tổ chức và quy trình quản lý rủi ro. Việc ra các quyết định tốt nhất từ các kết quả của BCTH sẽ khuyến khích các nhà quản lý nhận biết và đánh giá cao các yếu tố phi tài chính trong quyết định của mình.

BCTH cũng hỗ trợ các tổ chức trong việc thay đổi kỳ vọng kinh doanh, đáp ứng được nhu cầu thông tin cho các bên có liên quan ngày càng tăng. Lodhia (2015) cho rằng BCTH gắn kết giữa các phòng ban ngày càng tốt hơn, nó phá vỡ việc các tổ chức làm việc đơn lẻ. BCTH đòi hỏi sự hợp tác giữa các bộ phận khác nhau trong tổ chức. Stubbs và Higgins (2014) cho rằng quá trình lập BCTH cho phép tích hợp các thông tin tài chính và các chiến lược của tổ chức được cung cấp bởi các BCTC và BCPTBV truyền thống.

Eccles và Armbrester (2011) cho rằng việc chấp nhận 13 BCTH để xây dựng chiến lược bền vững lâu dài vừa giúp cho tổ chức tạo ra giá trị trong thời gian dài, vừa cung cấp các thông tin cho các bên liên quan, giúp việc thúc đẩy giá cổ phiếu của các tổ chức cao hơn. Trong một nghiên cứu của Nam Phi, Steyn (2014) phát hiện ra rằng những người được phỏng vấn hoàn toàn ủng hộ BCTH của Nam Phi khi thu hút được sự quan tâm của các bên liên quan. Hoạt động tài chính đã được chấp nhận là một phần quan trọng trong BCTH, nhưng số liệu phi tài chính cần phải đưa vào bên cạnh các vấn đề tài chính. BCTH giúp cho các nhà đầu tư hiểu được những vấn đề phát triển bền vững của công ty bên cạnh các thông tin về tài chính để ra các quyết định đầu tư đúng đắn.

Nhóm nghiên cứu Eccles & Saltzman (2011) và Burritt (2012) lại tập trung nghiên cứu vào sự lan tỏa của BCTH trong tương lai. Nghiên cứu của Eccles và Saltzman (2011) cho rằng để phổ biến và áp dụng BCTH phụ thuộc vào hai yếu tố là thị trường và các quy định. Nhóm nghiên cứu cũng đề xuất trước hết bắt buộc các tập đoàn trong ngành công nghiệp đó bắt trước theo những công ty đã áp dụng lập BCTH – đây là “thực tiễn tốt nhất” cho các công ty này. Họ cũng cho rằng áp lực từ các cổ đông lớn cũng thúc đẩy việc áp dụng BCTH.

Tuy nhiên, nghiên cứu cũng cho thấy rằng việc tự nguyện áp dụng và áp lực từ các bên liên quan sẽ dẫn đến việc chậm thông qua áp dụng BCTH. Do đó, phải kết hợp cả hai yếu tố là thị trường và quy định. Nghiên cứu cũng đề xuất ba quy định để nhanh chóng áp dụng BCTH, cụ thể là: pháp luật (như EU đã đề xuất báo cáo ESG bắt buộc); hành động pháp lý (từ các nhà quản lý chứng khoán quốc gia như SEC) và yêu cầu niêm yết (như thị trường chứng khoán Nam Phi JSE yêu cầu BCTH bắt buộc). Eccles và Saltzman (2011) đã đưa ra giả thuyết rằng các hoạt động điều chỉnh là đặc biệt quan trọng để giúp các công ty lập được báo cáo (đặc biệt là trong mỗi ngành), có thể dễ dàng so sánh được kết quả tài chính và phi tài chính của công ty.

Nghiên cứu của Nick & Eric (2012) BCTH phản ánh cả một quá trình hoạt động của DN, chứ không đơn thuần là một sản phẩm báo cáo được lập theo định kỳ cho các bên liên quan.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến tính minh bạch trong thông tin báo cáo tài chính của khu vực công tại Việt Nam. Mặc dù không có tiêu đề cụ thể, nội dung chính của tài liệu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đảm bảo tính minh bạch trong quản lý tài chính công, đặc biệt là trong bối cảnh các đơn vị được tài trợ bởi ngân sách nhà nước. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc cải thiện tính minh bạch không chỉ giúp tăng cường niềm tin của công chúng mà còn nâng cao hiệu quả quản lý tài chính.

Để tìm hiểu sâu hơn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn các nhân tố ảnh hưởng đến tính minh bạch thông tin báo cáo tài chính khu vực công Việt Nam, nơi phân tích chi tiết các yếu tố cụ thể và trường hợp nghiên cứu tại tỉnh Đắk Lắk. Tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu rõ hơn về các thách thức cũng như cơ hội trong việc nâng cao tính minh bạch trong báo cáo tài chính công.