Phần mở đầu; - Phần 2: Nội dung nghiên cứu: (đƣợc trình bày trong 3 chƣơng) Chƣơng 1: Lý thuyết về kế toán trách nhiệm và việc áp dụng kế toán trách nhiệm ở các doanh nghiệp + Lƣợc sử phát triển của kế toán trách nhiệm; + Nội dung kế toán trách nhiệm và những vấn đề liên quan đến việc áp dụng đƣợc và có hiệu quả kế toán trách nhiệm vào hoạt động thực tiễn ở các doanh nghiệp; + Tổ chức kế toán trách nhiệm ở một số quốc gia và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; + Đặc điểm mô hình tổ chức tổng công ty xây dựng và những ảnh hƣởng của nó đến việc tổ chức thực hiện hệ thống kế toán trách nhiệm; Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm trong các Tổng công ty xây dựng thuộc Bộ giao thông vận tải quản lý + Đặc điểm hoạt động xây dựng và tổ chức hoạt động xây dựng chi phối đến tổ chức kế toán trách nhiệm. + Thực trạng tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm ở các tổng công ty xây dựng thuộc Bộ giao thông vận tải quản lý. Chƣơng 3: Xác lập mô hình tổ chức kế toán trách nhiệm cho các Tổng công ty xây dựng thuộc Bộ giao thông vận tải quản lý + Quan điểm và định hƣớng; + Xác lập điều kiện vận hành cho mô hình đƣợc thiết kế; + Xây dựng hệ thống các báo cáo; + Vận dụng mô hình KM Star trong việc đánh giá trách nhiệm quản lý các trung tâm trách nhiệm. Trang 19 - Phần 3: Kết luận và kiến nghị.
- Danh mục các công trình công bố kết quả nghiên cứu - Danh mục tài liệu tham khảo - Phụ lục. Trang 20 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM VÀ VIỆC ỨNG DỤNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM Ở CÁC DOANH NGHIỆP 1. LƢỢC SỬ PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM Theo quan điểm quản trị, kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ công cụ quản lý kinh tế, tài chính và có vai trò quản lý, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế, tài chính trong doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin để thực hiện mục tiêu quản trị doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất. Ngày nay, kế toán quản trị là bộ phận không thể tách rời của hệ thống kế toán doanh nghiệp.
Ngoài thông tin kế toán tài chính cung cấp, các nhà quản lý vẫn đòi hỏi có thêm thông tin mang tính kiểm soát và dự báo, chẳng hạn nhƣ doanh thu và chi phí phân chia theo bộ phận. Nhƣ vậy, kế toán quản trị biểu hiện trách nhiệm của các nhà quản lý các cấp bên trong doanh nghiệp trong khi kế toán tài chính biểu hiện trách nhiệm của nhà quản trị cấp cao. Để hỗ trợ cho công tác quản lý đo lƣờng, kiểm soát, đánh giá kết quả hoạt động của từng cấp cá nhân, từng bộ phận và từng cấp quản lý, kế toán quản trị vận dụng hệ thống kế toán trách nhiệm để phân loại cấu trúc tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm, trên cơ sở đó đánh giá kết quả của từng bộ phận dựa trên trách nhiệm đƣợc giao cho bộ phận đó. Nhƣ vậy, kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt đƣợc mục tiêu chung của tổ chức.
Thông tin có thể kiểm soát của một bộ phận là những thông tin về doanh thu, chi phí, vốn đầu tƣ. và các thông tin phi tài chính khác mà nhà quản trị bộ phận đó có thể đƣa ra các quyết định tác động lên nó. Thông tin có thể kiểm soát cụ thể đối với từng nhà quản trị phụ thuộc vào trách nhiệm quản lý của nhà quản trị đó. Kế toán trách nhiệm là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị do vậy quá trình hình thành và phát triển của kế toán trách nhiệm gắn liền với quá trình hình Trang 21 thành và phát triển của kế toán quản trị.
Năm 1989, Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) đã ban hành một bản báo cáo tóm tắt về phạm vi, mục đích của kế toán quản trị và các khái niệm cơ bản của kế toán quản trị qua ấn phẩm “Management Accounting Concepts”. Một trong những nội dung quan trọng đƣợc trình bày trong ấn phẩm này là sự phân chia tiến trình phát triển của Kế toán quản trị thành 4 giai đoạn. Việc phân chia quá trình hình thành và phát triển của kế toán quản trị thành 4 giai đoạn nhƣ vậy dựa trên trọng tâm thông tin mà Kế toán quản trị cung cấp trong từng thời kỳ. + Giai đoạn 1 (Trƣớc năm 1956): Thông tin để kiếm soát và định hƣớng chi phí, sản xuất; + Giai đoạn 2 (Từ năm 1956 đến cuối năm 1980): Thông tin để hoạch định và kiểm soát tài chính hoạt động sản xuất kinh doanh; + Giai đoạn 3 (Từ năm 1980 đến cuối năm 1995): Thông tin để giảm những tổn thất nguồn lực kinh tế sử dụng của quy trình sản xuất kinh doanh; + Giai đoạn 4 (Từ 1995 đến nay): Thông tin để sử dụng có hiệu quả các nguồn lực kinh tế tạo ra giá trị.
Từ sau cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất vào cuối thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19 đã đặt ra nhiều thách thức lớn đối với những ngƣời hành nghề kế toán. Vào thời điểm này, nhờ có sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các xƣởng dệt thủ công chuyển sang nhà máy dệt, hình thành ngành công nghiệp sợi, dệt. Và khi có sự xuất hiện của ngành giao thông đƣờng sắt thì hầu hết tất cả các hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dệt, luyện kim, đƣờng sắt đều trở nên phức tạp, khối lƣợng nghiệp vụ kế toán bùng nổ đáng kể. Lúc này, nhiệm vụ của nhân viên kế toán không còn là việc ghi bút toán kép một cách đơn thuần nữa mà họ đƣợc yêu cầu phải làm sao đơn giản hóa thông tin, cung cấp thông tin có thể kiểm soát đƣợc chi phí và định giá bán sản phẩm.
Cũng vào thời điểm này, thuật ngữ “kế toán quản trị” tuy chƣa xuất hiện trong hệ thống kế toán Anglo – Saxon nhƣng thay vào đó, thuật ngữ “kế toán chi phí” đã xuất hiện để định nghĩa quy trình tính toán chi phí, xác định giá thành, kiểm soát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Mặc dù kế toán quản trị chƣa đƣợc ghi nhận đến thời điểm trƣớc thế kỷ 19, nhƣng công việc thu thập, xử lý các Trang 22 thông tin kinh tế tài chính đã có và những ngƣời chủ kinh doanh đã biết sử dụng những số liệu thông tin kinh tế trong quá khứ để lập dự toán cho kỳ hoạt động kế tiếp. Đỉnh cao là vào năm 1920, ông Donaldson Brown, giám đốc tài chính công ty Dupont đã giới thiệu công thức tính toán ROI. Sau đó, các công ty Dupont và General Motor đã tuyên bố là ngƣời tiên phong trong việc áp dụng một thông số kỹ thuật phân tích trong công tác quản trị của mình.
Tuy nhiên, trong thời kỳ này dù có nhiều bằng chứng chứng minh cho sự xuất hiện của lĩnh vực kế toán quản trị nhƣng trong xã hội bấy giờ kế toán quản trị chƣa xuất hiện nổi bật, mà tìm ẩn dƣới dạng kế toán chi phí nhƣ là một hoạt động kỹ thuật cần thiết để đảm bảo đạt đƣợc mục tiêu của doanh nghiệp (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2011). Dấu mốc quan trọng cho sự ra đời của kế toán quản trị là quyển sách đầu tiên về kế toán quản trị của Robert Anthony đƣợc xuất bản vào năm 1956. Quyển sách này tập trung vào ba vấn đề chính: Giới thiệu kế toán quản trị là gì, làm thế nào có thể hệ thống và phân tích vấn đề mới để ra quyết định, giới thiệu các công cụ kiểm soát chi phí thích hợp. Từ sau khi có sự giới thiệu về kế toán quản trị của Robert Anthony thì nhiều công cụ kế toán quản trị đã đƣợc phát triển trong suốt giai đoạn này.
Sự quan tâm của kế toán quản trị đã chuyển biến mạnh mẻ vào việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật nhƣ phân tích để ra quyết định và kế toán trách nhiệm (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2011). Nhƣ vậy, kế toán trách nhiệm đã đƣợc hình thành trong giai đoạn trọng tâm của kế toán quản trị đã chuyển sang cung cấp các thông tin cho mục đích lập kế hoạch và kiểm soát. Kiểm soát quản lý trong giai đoạn này đƣợc định hƣớng theo quản trị nội bộ, quản trị sản xuất hơn là cân nhắc theo môi trƣờng, chiến lƣợc. Kế toán quản trị có khuynh hƣớng xác định các vấn đề khi có độ lệch từ kế hoạch kinh doanh với thực tế hoạt động diễn ra.
Chính vì vậy, kế toán quản trị trong giai đoạn này thƣờng tập trung vào các chủ đề nhƣ: khái niệm và phân loại chi phí, kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm theo công việc hoặc theo quy trình sản xuất, nhận thức cách ứng xử chi phí và phân tích biến động chi phí, phân tích mối quan hệ chi phí - khối lƣợng - lợi nhuận, ảnh hƣởng phƣơng pháp chi phí toàn bộ và Trang 23 phƣơng pháp chi phí trực tiếp trong thiết lập công cụ quản lý, dự toán hoạt động sản xuất kinh doanh, chi phí tiêu chuẩn và sự cân bằng các nguồn lực kinh tế, dự toán linh hoạt và phân tích biến động chi phí sản xuất chung, báo cáo bộ phận và các sự phân quyền trong một tổ chức, chi phí thích hợp cho quyết định kinh doanh ngắn hạn, dự toán vốn đầu tƣ dài hạn, phân bổ chi phí bộ phận trên cơ sở hoạt động, định giá sản phẩm dịch vụ, phân tích báo cáo tài chính. Kế toán trách nhiệm là nội dung cơ bản của kế toán quản trị. Kế toán trách nhiệm cung cấp thông tin có thể kiểm soát của từng bộ phận mà đƣợc nhà quản tri phân quyền trách nhiệm. Từ đó đến nay, vấn đề kế toán trách nhiệm đƣợc quan tâm nhiều với những quan điểm khác nhau, bởi những tác giả khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới nhƣ Atkinson; R.
NỘI DUNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG ĐƢỢC VÀ CÓ HIỆU QUẢ VÀO HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN Ở CÁC DOANH NGHIỆP 1. Định nghĩa và mục tiêu của Kế toán trách nhiệm a.