đặt vấn đề ma-két báo là hệ thống quy chuẩn quy định việc tổ chức kỹ thuật, dàn trang báo. Ma-két báo bao gồm những trang mẫu, được dự tính cho những khả năng khác nhau, và quy định chi tiết về việc sử dụng các công cụ để trình bày từng trang, mục trong tờ báo. Vai trò của ma-két là “phục vụ” nội dung thông tin của tờ báo chứ không “áp đặt” lên nội dung, dàn dựng và làm tăng giá trị thông tin, giúp thông tin trở nên rõ ràng, mạch lạc, dễ hiểu hơn đối với độc giả. Việc thiếu trao đổi giữa “hình thức” và “nội dung” trong quá trình xây dựng ma-két sẽ dẫn đến việc áp đặt những quy định cứng nhắc vào quy trình xử lý thông tin, chứ không giúp cho việc chuyển tải hiệu quả các ý đồ của tòa soạn.
Năm 2010, Phạm Thúy Hằng và Mats Wikman trong Những trang báo đẹp – Cẩm nang dành cho các nhà thiết kế, Bộ Thông tin - Truyền thông [22], đẩy mạnh những nguyên tắc cơ bản về cách trình bày những tầng lớp thông tin, ảnh minh họa và tông màu chủ đạo, sử dụng tài nguyên và các thông tin bằng hình ảnh là một trong những chất lượng mà con người nhìn nhận thấy nhanh nhất. Cuốn sách đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản nhất và giới thiệu được bộ ma-két quy chuẩn của trình bày báo. Năm 2011, Nguyễn Chí Hùng trong luận văn thạc sĩ Ma-két phụ trương báo in ở thành phố Hồ Chí Minh từ góc độ lý luận và thực tiễn, Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội [27], sau khi khảo sát Tuổi trẻ cuối 19 tuần, Phụ nữ chủ nhật, Sài gòn giải phóng thứ bảy, Làm bạn với máy vi tính, Doanh nhân Sài gòn cuối tuần từ 2008-2011, đã chia các yếu tố nội dung gồm có thông tin văn tự và ảnh, bảng biểu, đồ hình đồ họa, còn các yếu tố hình thức bao gồm khổ báo, lề, bát chữ, măng séc, chữ tít, chữ chính văn, khung, nền, vi nhét, minh họa và một số tín hiệu đồ họa. Sự phân định này rất thực tế nhưng chưa tìm ra được mối liên hệ tương hỗ chặt chẽ của chúng.
Nhận xét: Thực tế các tài liệu về TKDT ấn phẩm báo chí không nhiều và cũng chưa thực sự đầy đủ cho các loại hình thiết kế báo chí rất đa dạng. TKDT là một chuyên ngành phục vụ báo chí truyền thông có tác động rất lớn đến xã hội, nhưng chính vì sự phong phú của nó nên các nghiên cứu mang tính phổ quát khó đề cập. Tài liệu thường đi vào những nội dung cụ thể và mang tính ứng dụng trực tiếp mà ít bàn đến tính thẩm mỹ. Các tài liệu nghiên cứu về thẩm mỹ truyền thông Năm 1971, tác giả Paul N.
Campell trong bài báo “Communication aesthetics” (Thẩm mỹ truyền thông), tạp chí Today’s Speech [83], lần đầu tiên đưa ra khái niệm mới thẩm mỹ truyền thông trong lĩnh vực mỹ học. Một vấn đề mới trong các cấu trúc quen thuộc nhưng được kết hợp một cách khác thường. Một phương pháp luận phân tích nghiên cứu như những cảnh báo chống lại Kant, ủng hộ chủ nghĩa thực chứng, chủ nghĩa hành vi. Mức độ giao tiếp của con người đã trở nên kịch tính đòi hỏi phải sử dụng ngôn ngữ như một hoạt động thẩm mỹ, ngôn ngữ giao tiếp mang tính tượng trưng, con người sở hữu ngôn ngữ và ngược lại, hành vi của con người ảnh hưởng tới ngôn ngữ biểu tượng và môi trường truyền thông.
Bài báo khẳng định đây là vấn đề rất mới bao gồm những luận điểm dưới sự tác động của công nghệ truyền thông. Khái niệm thẩm mỹ truyền thông lần đầu tiên được đề cập trong giới học thuật đem đến những phản ứng trái chiều khởi đầu cho những nghiên cứu thú vị. Năm 2001, tác giả Yao Heming trong cuốn 传播美学导论 (Dẫn luận về Mỹ học truyền thông), Bắc Kinh quảng bá học viện xuất bản xã [109], đề cập đến bản 20 chất của các hoạt động mỹ học truyền thông, nghiên cứu thẩm mỹ về loại hình nghệ thuật truyền thông và sự tiếp nhận thẩm mỹ của khán giả truyền thông. Tác giả cho rằng thông tin thẩm mỹ khi được truyền thông có thể làm người tiếp nhận có tinh thần phấn chấn, tâm lý bay bổng, từ đó có được cảm nhận thoải mái, vui vẻ về cái đẹp, tình cảm, cảm xúc được bồi dưỡng, có được tinh hoa trong tâm hồn.
Thông tin thẩm mỹ thường có những đặc trưng ở một số phương diện sau: - Đặc tính thứ nhất của thẩm mỹ truyền thông là tính hình tượng: Sự vật và hiện tượng của cái đẹp là hình tượng, là cụ thể. Vẻ đẹp được cảm nhận trực tiếp thông qua giác quan của người thưởng thức. Thông tin thẩm mỹ có hình thái cụ thể của cảm tính, nội dung của chúng cũng được thể hiện qua một hình thức bên ngoài nhất định và hình thức này được cấu thành từ các nguyên liệu vật chất như chất cảm, hình, sắc v. - Đặc tính thứ hai của thẩm mỹ truyền thông là tính biểu cảm: Vẻ đẹp không chỉ cụ thể, hình tượng, mà nó còn liên quan chặt chẽ đến tình cảm của chủ thể thẩm mỹ, và có sức cảm mạnh mẽ.
Nó không chỉ có tác dụng trực tiếp đến lý trí mà còn có tác dụng trực tiếp đến tình cảm con người. Nó có thể bằng tình cảm làm con người cảm động, cổ vũ con người hoặc làm con người vui vẻ. Bất kể sự vật nào của vẻ đẹp cũng bao hàm thông tin thẩm mỹ, đều có thể khơi gợi tình cảm con người, khiến tinh thần con người vui vẻ, thỏa mãn. Lev Tolstoy, trong “Nghệ thuật luận” của mình từng định nghĩa nghệ thuật như sau: “Nghệ thuật là sự giao lưu tình cảm”.
- Đặc tính thứ ba của thẩm mỹ truyền thông là tính sáng tạo: Trong tất cả các hoạt động truyền thông mang tính thẩm mỹ, các tác phẩm nghệ thuật coi trọng tính sáng tạo nhất. Tính sáng tạo của các tác phẩm nghệ thuật không chỉ thể hiện ở bản thân mỗi nghệ thuật gia, thể hiện ở đặc điểm và phong cách sáng tạo mang đặc trưng riêng biệt không giống người khác, mà còn thể hiện trong các tác phẩm khác nhau của nghệ thuật gia đó. Nghĩa là, mỗi tác phẩm đều có điểm độc đáo riêng mà các tác phẩm khác không có cho dù chúng được sáng tạo bởi cùng một nghệ sỹ. Năm 2002, John Heskett trong cuốn Design - A Very Short Introduction (Giới thiệu cốt lõi về thiết kế), Nxb.
Oxford University Press [92], đã đưa ra một 21 định nghĩa hài hước nhưng đúng cả về mọi phương diện: “Thiết kế là thiết kế một thiết kế để sản xuất ra được một thiết kế” (Design is to design a design to produce a design). Điều này cũng cho thấy khái niệm design được mở rộng nên dễ có sự nhầm lẫn. Đó chính là lý do đề tài này sử dụng thuật ngữ kép thiết kế dàn trang để khẳng định công việc tiến hành đối với sách báo in. Trong khi đề cập về vấn đề phương tiện truyền thông, John Hesker cũng sử dụng khái niệm hình ngữ để chỉ bộ các biểu tượng của Thế vận hội Munich 1972 do Otl Aicher thiết kế.
Đây là một quan điểm rất quan trọng về sự chuyển hóa giữa nội dung và hình thức ít nhất về mặt thuật ngữ lý luận. Cùng với nó, biểu tượng quảng bá du lịch của New York do Milton Glaser thiết kế với hình trái tim lồng vào chữ: “Tôi yêu New York” là minh chứng cho việc hình ảnh chuyển hóa thành nội dung. Năm 2008, nhà nghiên cứu mỹ thuật Bùi Như Hương trong cuốn Nghiên cứu mỹ thuật, trường đại học Mỹ thuật Hà Nội - Viện mỹ thuật, Nxb. Mỹ thuật [24], đã có nghiên cứu về Thời kỳ thẩm mỹ thứ ba.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng về tiêu chuẩn mỹ học. Cuộc khủng hoảng này gần như mang tính toàn cầu, nó xuất hiện từ nửa cuối thế kỷ thứ 20. Bắt đầu từ đây, người ta cho rằng lịch sử mỹ thuật đã chuyển dần sang thời kỷ thẩm mỹ thứ ba, không còn tương ứng với thời đại công nghiệp nữa, mà là thời đại hậu công nghiệp, với mỹ cảm hoàn toàn mới, không xác định, có tính chất đảo lộn các nấc thang giá trị trước đây. 57] Trải qua ba thời kỳ thẩm mỹ, thẩm mỹ cổ điển truyền thống, thẩm mỹ hiện đại, thẩm mỹ hậu hiện đại.
Ở Việt Nam thời kỳ thứ ba gọi là thời kỳ thẩm mỹ mở cửa, được nhà nghiên cứu đặt tên “Thẩm mỹ tạp kỹ” [24]. Thẩm mỹ này thể hiện rõ ràng nhất ở các tác phẩm pop-art, pop-xã hội, nghệ thuật quan niệm, sắp đặt, trình diễn, video-art và các loại nghệ thuật tổng hợp khác nhau như ngày nay. Đặc điểm: - Đa dạng, không đồng nhất, tính chủ quan và tự do thẩm mỹ là tuyệt đối. - Không lấy cái đẹp làm tiêu chuẩn cao nhất, mà lấy ý tưởng sáng tạo làm chính.
- Không hướng đến giá trị lâu bền, cuối cùng của tác phẩm, mà quan trọng 22 hơn là quá trình thể hiện, gây hiệu quả và cảm giác tức thời. - Tìm kiếm các phương tiện và chất liệu biểu hiện mới, đa dạng, rẻ tiền, sẵn có trong môi trường để phản ánh các vấn đề đương đại, bức bách, báo độngcủa xã hội đương đại. - Đôi khi có tính giải trí, hài hước, ngẫu hứng, song qua đó cài đặt quan niệm và thông điệp cá nhân gửi tới người xem. - Xu hướng trí tuệ hóa nghệ thuật bằng cách áp dụng khoa học kỹ thuật như camera, video, đèn chiếu, màn hình, âm thanh, ánh sáng, chuyển động…, mô hình hóa các tác phẩm trong không gian và thời gian.
- Xu hướng tổng hợp các loại hình nghệ thuật như sân khấu, múa, âm nhạc, tạo hình vào cùng một sân chơi. Mở rộng không gian nghệ thuật ra ngoài trời, lôi kéo người xem cùng tham gia vào hoạt động sáng tạo. - Xu hướng đại chúng hóa và xã hội hóa nghệ thuật. Bùi Hoài Sơn trong cuốn Phương tiện truyền thông mới và những thay đổi văn hóa xã hội ở Việt Nam do Nxb.
Khoa học xã hội xuất bản đã cho thấy tác động của công nghệ truyền thông tới đời sống văn hóa nghệ thuật ở Việt Nam là rất căn bản và mạnh mẽ. Tác giả nhận định các phương tiện truyền thông mới đã làm thay đổi cả cách tư duy của con người đến mức bản thân chúng ta cũng không thể tưởng tượng hết khả năng vô cùng của nó. Chưa có một công nghệ nào có sức ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống xã hội như các phương tiện truyền thông mới.