Luận án tiến sĩ nghiên cứu tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI qua góc nhìn thể loại

Luận án tiến sĩ văn học nghiên cứu văn học tản văn việt nam đầu thế kỷ xxi từ góc nhìn thể loại, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
177
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Quan niệm về tản văn hiện đại

1.2. Vấn đề thuật ngữ và bản chất thể loại tản văn

2. CHƯƠNG 2: TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI TRONG DÒNG CHẢY TẢN VĂN HIỆN ĐẠI

2.1. Sự nở rộ của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI

2.1.1. Môi trường sinh thái văn hóa – tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI

2.1.2. Sự thích ứng của tản văn trong môi trường sinh thái văn hóa đầu thế kỷ XXI

2.1.3. Tản văn mạng - bộ phận không tách rời của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI

2.2. Diện mạo chung của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI

2.2.1. Đội ngũ sáng tác

2.2.2. Số lượng sáng tác

2.2.3. Một số cây bút tiêu biểu

2.3. Sự kế thừa và cách tân của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI

2.3.1. Những cách tân

3. CHƯƠNG 3: HỆ CHỦ ĐỀ TRONG TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

3.1. Tản văn về cảnh sắc vùng miền

3.1.1. Cảnh sắc chốn làng quê

3.1.2. Cảnh sắc nơi thành thị

3.2. Tản văn về văn hóa, phong tục

3.2.1. Phong tục, truyền thống

3.2.2. Văn hóa tâm linh, tín ngưỡng

3.2.3. Tập tục, sinh hoạt

3.3. Tản văn thế sự

3.3.1. Các vấn đề cập nhật của đời sống đương đại

3.4. Tản văn chân dung

3.4.1. Chân dung nghệ sĩ, danh nhân

3.4.2. Chân dung “những người sống quanh ta”

4. CHƯƠNG 4: NGUYÊN TẮC GIAO TIẾP VÀ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN CỦA TẢN VĂN VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỶ XXI

4.1. Nguyên tắc giao tiếp

4.1.1. Nguyên tắc đối thoại những vấn đề của đời sống

4.2. Phương thức thể hiện

4.2.1. Đa dạng hóa ngôn ngữ

4.2.2. Đa dạng hóa giọng điệu

4.2.3. Đa dạng hóa phương thức thể hiện

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐƯỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI

Tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI đã trải qua sự phát triển mạnh mẽ, trở thành một thể loại văn học quan trọng. Sự nở rộ của tản văn trong giai đoạn này được thúc đẩy bởi môi trường văn hóa đa dạng và sự thích ứng của thể loại với bối cảnh xã hội hiện đại. Tản văn mạng cũng trở thành một bộ phận không thể tách rời, góp phần mở rộng phạm vi tiếp cận của thể loại này. Diện mạo chung của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI được thể hiện qua đội ngũ sáng tác đa dạng, số lượng tác phẩm phong phú và sự xuất hiện của nhiều cây bút tiêu biểu.

1.1. Sự nở rộ của tản văn Việt Nam

Sự phát triển mạnh mẽ của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI được thúc đẩy bởi môi trường văn hóa đa dạng. Tản văn đã thích ứng với bối cảnh xã hội hiện đại, trở thành một thể loại được độc giả ưa chuộng. Tản văn mạng cũng góp phần mở rộng phạm vi tiếp cận, tạo nên sự đa dạng trong sáng tác và tiếp nhận.

1.2. Diện mạo chung của tản văn

Diện mạo của tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI được thể hiện qua đội ngũ sáng tác đa dạng, bao gồm cả những cây bút đã thành danh và những tác giả mới. Số lượng tác phẩm phong phú và sự xuất hiện của nhiều cây bút tiêu biểu như Đỗ Chu, Nguyễn Việt Hà đã khẳng định vị thế của thể loại này trong nền văn học đương đại.

II. Phân tích thể loại tản văn

Phân tích thể loại là một phương pháp quan trọng để hiểu rõ đặc trưng của tản văn Việt Nam. Thể loại này được xác định qua cấu trúc, ngôn ngữ và cách thức biểu hiện. Tản văn thường có dung lượng ngắn, cấu tứ độc đáo và thể hiện rõ cá tính của tác giả. Sự kế thừa và cách tân trong tản văn đầu thế kỷ XXI đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong sáng tác.

2.1. Đặc điểm thể loại

Tản văn được xác định qua cấu trúc, ngôn ngữ và cách thức biểu hiện. Thể loại này thường có dung lượng ngắn, cấu tứ độc đáo và thể hiện rõ cá tính của tác giả. Sự kế thừa và cách tân trong tản văn đầu thế kỷ XXI đã tạo nên sự đa dạng và phong phú trong sáng tác.

2.2. Sự kế thừa và cách tân

Tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI đã kế thừa những giá trị truyền thống đồng thời có những cách tân mạnh mẽ. Sự đổi mới trong ngôn ngữ, giọng điệu và phương thức biểu hiện đã làm nên sức hấp dẫn riêng của thể loại này.

III. Hệ chủ đề trong tản văn Việt Nam

Hệ chủ đề trong tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI rất đa dạng, bao gồm cảnh sắc vùng miền, văn hóa, phong tục và các vấn đề thế sự. Tản văn về cảnh sắc vùng miền thường khắc họa hình ảnh làng quê và thành thị. Tản văn về văn hóa, phong tục tập quán và tín ngưỡng cũng là một chủ đề được quan tâm. Ngoài ra, tản văn thế sự thường đề cập đến các vấn đề cập nhật của đời sống đương đại.

3.1. Cảnh sắc vùng miền

Tản văn về cảnh sắc vùng miền thường khắc họa hình ảnh làng quê và thành thị. Những tác phẩm này không chỉ miêu tả cảnh vật mà còn thể hiện tình cảm, suy nghĩ của tác giả về quê hương, đất nước.

3.2. Văn hóa và phong tục

Tản văn về văn hóa, phong tục tập quán và tín ngưỡng là một chủ đề được quan tâm. Những tác phẩm này thường khai thác các giá trị văn hóa truyền thống, phản ánh đời sống tâm linh của người Việt.

IV. Nguyên tắc giao tiếp và phương thức biểu hiện

Nguyên tắc giao tiếpphương thức biểu hiện là yếu tố quan trọng trong tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI. Thể loại này thường sử dụng nguyên tắc đối thoại để đề cập đến các vấn đề của đời sống. Phương thức biểu hiện đa dạng, bao gồm sự đa dạng hóa ngôn ngữ, giọng điệu và cách thức thể hiện. Điều này tạo nên sự linh hoạt và hấp dẫn trong sáng tác.

4.1. Nguyên tắc giao tiếp

Tản văn thường sử dụng nguyên tắc đối thoại để đề cập đến các vấn đề của đời sống. Điều này tạo nên sự gần gũi, thân thiện giữa tác giả và độc giả, giúp tác phẩm dễ dàng tiếp cận với công chúng.

4.2. Phương thức biểu hiện

Phương thức biểu hiện trong tản văn rất đa dạng, bao gồm sự đa dạng hóa ngôn ngữ, giọng điệu và cách thức thể hiện. Điều này tạo nên sự linh hoạt và hấp dẫn trong sáng tác, giúp tác phẩm có sức sống lâu bền.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ văn học tản văn việt nam đầu thế kỷ xxi từ góc nhìn thể loại

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Quan niệm về tản văn hiện đại Cho đến nay, cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn sáng tác, khái niệm tản văn vẫn là một vấn đề phức tạp bởi những quan niệm khác nhau chưa dẫn tới sự thống nhất sau cùng. Do đó, rất cần một sự giới thuyết về thể loại và xác lập lý thuyết. Trong thực tiễn sáng tác, cách định danh trên các ấn phẩm hiện hành cũng thiếu sự đồng nhất: Nhà văn Nguyễn Khải gọi là tạp văn; nhà văn Mạc Can, Nguyễn Quang Lập gọi là tạp bút; nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân xem đó là nhàn đàm, tùy bút; nhà thơ Y Phương, Nguyễn Quang Thiều đề tản văn; một số cây bút khác như Bùi Minh Quốc, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà khi dùng tạp văn, khi đề tản văn… 1.

Vấn đề thuật ngữ và bản chất thể loại tản văn Trong nghiên cứu văn học Việt Nam, sự phức tạp trong định danh thể loại tản văn đồng thời với sự phức tạp trong việc xây dựng một khái niệm về nó. Trước khi được các nhà nghiên cứu ghi nhận như một thể văn học độc lập, khái niệm tản văn được nhìn nhận theo ba cấp độ: tản văn theo nghĩa là văn xuôi; tản văn theo nghĩa là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch và tản văn theo nghĩa là một thể loại văn học. Đầu thế kỷ XX, tản văn vẫn được hiểu theo nghĩa là “văn xuôi”. Hầu như tất cả các thể loại văn xuôi đều được gọi chung là “tản văn” để phân biệt với “văn vần” (vận văn), gồm “những bài không cần phải vần, không cần phải đối nhau, cứ ý mình thế nào thì tả ra thôi” [6/tr79].

Theo ý kiến của tác giả Bùi Kỷ, trong cuốn Quốc văn cụ thể, ông cho rằng tản văn không chỉ là “lối văn không đối nhau và không có vần” [22/tr118] mà tản văn còn là thể loại lớn bao gồm tựa, truyện, kí, bi, luận. Quan niệm tản văn đồng nhất với văn xuôi cũng được thể hiện trong Văn tâm điêu long, tác giả Lưu Hiệp chia toàn bộ thư tịch thành “văn” và “bút”, trong đó văn là “vận văn” (văn vần), còn bút là tản văn (văn xuôi). So sánh với một số định nghĩa về tản văn sau này, quan niệm của Lưu Hiệp gần với những đặc trưng của tản văn hiện đại. Tuy nhiên, tản văn được dùng theo nghĩa chỉ văn xuôi nói chung không còn thông dụng, nó được xếp vào nhóm nghĩa cổ, ít dùng do cách hiểu đó không đúng với thực tế sáng tác.

7 Bên cạnh cách hiểu tản văn là văn xuôi nói chung, ở một số từ điển đưa ra cách hiểu tản văn là tập hợp các thể loại ngoài truyện, thơ, kịch. Bộ Đại từ điển tiếng Việt phát hành năm 2011 tách thể tản văn khỏi truyện và dần nghiêng về phía xác định tản văn như một thể loại đứng bên cạnh những thể loại lớn khác. Quan niệm này ảnh hưởng từ việc văn học Trung Quốc chia tản văn thành hai loại: Tản văn truyền thống (những sáng tác văn xuôi, là văn học chính tông xếp ngang hàng với thơ từ) và tản văn hiện đại (một thể tài văn học cùng với thơ ca, tiểu thuyết, kịch, bao gồm các hình thức văn kể chuyện, văn trữ tình, phóng sự, tạp văn…) [50/tr106]. Tóm lại, mặc dù không đánh đồng tản văn với văn xuôi nói chung nhưng cấp độ thứ hai của quan niệm về tản văn cũng bộc lộ hạn chế cơ bản: chưa chỉ ra được những đặc trưng của thể loại, mới dừng lại ở việc nhìn nhận khái quát theo phương pháp loại trừ để thấy tản văn gồm những thể loại không thuộc truyện, thơ, kịch.

Tuy nhiên quan niệm này lại ngầm công nhận tản văn tồn tại như một thể loại lớn - ngang hàng với những thể loại có bề dày lịch sử trong văn học nói chung. Như vậy, văn học Trung Quốc nhìn nhận “tản văn” với ý nghĩa bao quát nhiều thể loại: ban đầu nó được dùng để chỉ “văn xuôi” nói chung, về sau, khái niệm thể loại biến đổi theo hướng thu hẹp dần nội hàm, “tản văn” được hiểu là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch (các thể văn xuôi còn lại như tùy bút, bút ký, phóng sự, tạp văn… gọi chung là tản văn). Ở Việt Nam, Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho rằng: “trong nghĩa hẹp (tản văn) chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch, thơ”; trong văn xuôi “bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, tiểu phẩm chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các loại truyện hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn” [2/tr294], quan niệm này vừa dùng phương pháp loại trừ để khu biệt tản văn với những thể loại có đầy đủ đặc trưng cơ bản (kịch, thơ) vừa lấy tiêu chí hiện thực để phân loại nó với các thể loại của văn xuôi. Khi xếp tản văn vào văn xuôi nhưng là thể loại văn xuôi “không bao gồm các loại truyện hư cấu”, có nghĩa tản văn cũng là những tác phẩm chứa đựng yếu tố chân thực, vậy tản văn có mối quan hệ thế nào với thể ký? – một thể loại văn xuôi có sự giao thoa giữa văn học với khu vực cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép 8 tư liệu…).

Xem tản văn như một thể loại văn học nhưng trong văn học Việt Nam từng có hai xu hướng quan niệm: một mặt cho rằng tản văn chỉ là một phụ lưu của ký; mặt khác cho rằng tản văn bao hàm ký. Về quan niệm tản văn nằm trong ký, tác giả Nguyễn Đăng Na xác định rõ về mặt từ nguyên trong công trình giới thiệu về thể ký. Ông cho rằng, thoạt đầu ký thuộc động từ, mang nghĩa là ghi chép. Khi được danh từ hóa, ký chỉ chính “những sản phẩm ghi chép đó”.

Nếu hiểu những văn bản được ghi chép ra là sản phẩm sau cùng của ký thì “ký bao gồm trong nó rất nhiều loại hình ghi chép, từ thường thức đến chức năng, khoa học rồi văn chương nghệ thuật…” [16/tr7]. Ký mang những đặc tính cụ thể khi xét từ các phương diện. Về biểu hiện hình thức “những tác phẩm thuộc thể ký thường mang hai yếu tố là người ghi chép và cái được ghi chép. Như vậy, đã là ký thì phải mang dấu ấn trực tiếp của cái tôi và sự kiện can dự đến cái tôi ấy” [16/tr7].

Trong ký, cái tôi chỉ hiện diện khi ghi chép sự kiện. Còn ở tản văn, tạp văn hay tùy bút, cái tôi của nhà văn được thể hiện một cách tự do hơn. Điều đó lý giải một thực tế, so với ký, tản văn thường giàu chất thơ hơn. Ký xuất hiện sớm trong lịch sử thể loại văn học dân tộc.

Trong thời kỳ văn học trung đại, ký thực hiện nhiệm vụ ghi chép mọi phương diện đời sống. Lam Sơn thực lục, Trung Hưng thực lục, Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác viết lời tựa) đều cho thấy ký là ghi chép sự thực mắt thấy tai nghe, mục đích là để răn dạy, nêu gương, giáo hóa. Nhưng “thực chất, thời kỳ trung đại, người ta mới chỉ có ý thức phân loại các thể loại chứ không phải khảo cứu lịch sử các thể loại nên những quan điểm bàn về ranh giới phân định thể loại mang tính chủ quan, tiên nghiệm” [47/tr88]. Phải tới đầu thế kỷ XX, ký mới được quan tâm phân loại một cách có ý thức, chia thành hai hướng: hoặc kế thừa những hình thức ký đã có trong văn học truyền thống (ký sự nhân vật, ký sự lịch sử) hoặc vẫn duy trì một số hình thức luận bàn (tản văn, tùy bút…).

Về cơ bản, tản văn hay tạp văn, tạp bút mang những yếu tố đặc trưng của thể ký, đó là một thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất. Điểm đặc thù của ký là tôn trọng tính xác thực của người và việc trong tác phẩm, sự hư cấu không được sử dụng một cách tùy tiện ảnh hưởng đến tính xác thực của nội dung mà trái lại phải làm tăng thêm ý nghĩa 9 xã hội và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm. Như thế tản văn sinh thành từ ký, tản văn là một phụ lưu của ký được xem là quan điểm logic. Khi nghiên cứu về đặc trưng của thể loại ký, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh đã làm công việc khảo sát tư liệu trên phạm vi rộng: Văn học trung đại (ký, lục, chí tạp ký, ký sự), văn học Trung Quốc (văn học báo cáo, tạp văn, tản văn), văn học tư liệu của Liên Xô (phóng sự, bút ký, tùy bút, nhật ký, hồi ký, du ký, truyện ký.

Phạm vi khảo sát cho thấy quan điểm ký là “gốc” lớn của nhiều tiểu loại, trong đó có tạp văn, tản văn hay tạp bút… Đặc biệt, tính chất ký cũng thể hiện rõ ở một loạt tản văn xuất hiện vào đầu thế XXI, khi các tác giả là những cây bút trẻ nhưng không né tránh phản ánh nhiều hiện tượng được cho là “nhạy cảm” của đời sống xã hội và bộc lộ thẳng thắn quan điểm, tình cảm trước những hiện tượng đó. Sức hút của thể văn này được tạo ra do bản lĩnh, lập trường người viết ký. Trước một hiện thực phức tạp, đa chiều, người viết ký phải tỉnh táo để không nhầm lẫn bản chất và hiện tượng, đồng thời cũng là người “đứng mũi chịu sào”, lên tiếng cho sự thực giữa không ít sự bủa vây của định kiến, tiêu cực trong xã hội. Lập trường người viết ký chính là sự mạnh dạn khẳng định bản lĩnh nhà văn trong thời đại mới, lập trường dân chủ và bình đẳng đối thoại.

Nhờ vậy, “từ một thể loại mang tính nghệ thuật, ký đã bước sang các lĩnh vực ngoài văn học và tác động sâu sắc, tạo nên sự thức tỉnh mạnh mẽ trong đời sống xã hội”[47/tr12]. Như vậy, giá trị thức tỉnh đời sống của ký là một trong số những dấu hiệu chức năng để nhiều nhà nghiên cứu xếp tản văn thuộc về thể loại này. Tiêu biểu cho nhóm ý kiến tản văn là tiểu loại của ký, trong Năm bài giảng về thể loại, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng tản văn là một tiểu loại ký có một số đặc điểm như: ngắn gọn, hàm súc; tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tình hay nghị luận; lối thể hiện đời sống trong tản văn mang tính chất chấm phá; chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu và bất ngờ; tất cả những gì được thể hiện và biểu hiện trong bài tản văn đều mang đậm dấu ấn, cách cảm nhận và cảm nghĩ rất riêng của tác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Luận án tiến sĩ về tản văn Việt Nam đầu thế kỷ XXI: Phân tích từ góc nhìn thể loại" là một nghiên cứu chuyên sâu về sự phát triển và đặc điểm của tản văn Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ 21. Tác giả tập trung phân tích thể loại này từ góc nhìn văn học, làm nổi bật sự đa dạng trong phong cách, chủ đề, và cách thức biểu đạt của các tác giả đương đại. Nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn toàn diện về tản văn mà còn góp phần làm sáng tỏ vai trò của nó trong bối cảnh văn hóa và xã hội hiện đại. Độc giả sẽ tìm thấy những phân tích chi tiết, giúp hiểu sâu hơn về sự biến đổi và giá trị nghệ thuật của thể loại này.

Để mở rộng kiến thức về các thể loại văn học khác, bạn có thể tham khảo Luận văn đất và người xứ Huế trong ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một nghiên cứu sâu về thể loại ký và cách nó phản ánh văn hóa địa phương. Ngoài ra, Luận văn văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn chiêu hồn của Nguyễn Du sẽ mang đến góc nhìn thú vị về yếu tố tâm linh trong văn học cổ điển. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ vấn đề tính dục trong văn học trung đại Việt Nam cung cấp cái nhìn sâu sắc về một khía cạnh ít được khai thác trong văn học truyền thống. Mỗi tài liệu này là cơ hội để bạn khám phá thêm những góc nhìn đa chiều về văn học Việt Nam.