Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Quan niệm về tản văn hiện đại Cho đến nay, cả trên phương diện lý thuyết lẫn thực tiễn sáng tác, khái niệm tản văn vẫn là một vấn đề phức tạp bởi những quan niệm khác nhau chưa dẫn tới sự thống nhất sau cùng. Do đó, rất cần một sự giới thuyết về thể loại và xác lập lý thuyết. Trong thực tiễn sáng tác, cách định danh trên các ấn phẩm hiện hành cũng thiếu sự đồng nhất: Nhà văn Nguyễn Khải gọi là tạp văn; nhà văn Mạc Can, Nguyễn Quang Lập gọi là tạp bút; nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Tuân xem đó là nhàn đàm, tùy bút; nhà thơ Y Phương, Nguyễn Quang Thiều đề tản văn; một số cây bút khác như Bùi Minh Quốc, Nguyễn Ngọc Tư, Nguyễn Việt Hà khi dùng tạp văn, khi đề tản văn… 1.
Vấn đề thuật ngữ và bản chất thể loại tản văn Trong nghiên cứu văn học Việt Nam, sự phức tạp trong định danh thể loại tản văn đồng thời với sự phức tạp trong việc xây dựng một khái niệm về nó. Trước khi được các nhà nghiên cứu ghi nhận như một thể văn học độc lập, khái niệm tản văn được nhìn nhận theo ba cấp độ: tản văn theo nghĩa là văn xuôi; tản văn theo nghĩa là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch và tản văn theo nghĩa là một thể loại văn học. Đầu thế kỷ XX, tản văn vẫn được hiểu theo nghĩa là “văn xuôi”. Hầu như tất cả các thể loại văn xuôi đều được gọi chung là “tản văn” để phân biệt với “văn vần” (vận văn), gồm “những bài không cần phải vần, không cần phải đối nhau, cứ ý mình thế nào thì tả ra thôi” [6/tr79].
Theo ý kiến của tác giả Bùi Kỷ, trong cuốn Quốc văn cụ thể, ông cho rằng tản văn không chỉ là “lối văn không đối nhau và không có vần” [22/tr118] mà tản văn còn là thể loại lớn bao gồm tựa, truyện, kí, bi, luận. Quan niệm tản văn đồng nhất với văn xuôi cũng được thể hiện trong Văn tâm điêu long, tác giả Lưu Hiệp chia toàn bộ thư tịch thành “văn” và “bút”, trong đó văn là “vận văn” (văn vần), còn bút là tản văn (văn xuôi). So sánh với một số định nghĩa về tản văn sau này, quan niệm của Lưu Hiệp gần với những đặc trưng của tản văn hiện đại. Tuy nhiên, tản văn được dùng theo nghĩa chỉ văn xuôi nói chung không còn thông dụng, nó được xếp vào nhóm nghĩa cổ, ít dùng do cách hiểu đó không đúng với thực tế sáng tác.
7 Bên cạnh cách hiểu tản văn là văn xuôi nói chung, ở một số từ điển đưa ra cách hiểu tản văn là tập hợp các thể loại ngoài truyện, thơ, kịch. Bộ Đại từ điển tiếng Việt phát hành năm 2011 tách thể tản văn khỏi truyện và dần nghiêng về phía xác định tản văn như một thể loại đứng bên cạnh những thể loại lớn khác. Quan niệm này ảnh hưởng từ việc văn học Trung Quốc chia tản văn thành hai loại: Tản văn truyền thống (những sáng tác văn xuôi, là văn học chính tông xếp ngang hàng với thơ từ) và tản văn hiện đại (một thể tài văn học cùng với thơ ca, tiểu thuyết, kịch, bao gồm các hình thức văn kể chuyện, văn trữ tình, phóng sự, tạp văn…) [50/tr106]. Tóm lại, mặc dù không đánh đồng tản văn với văn xuôi nói chung nhưng cấp độ thứ hai của quan niệm về tản văn cũng bộc lộ hạn chế cơ bản: chưa chỉ ra được những đặc trưng của thể loại, mới dừng lại ở việc nhìn nhận khái quát theo phương pháp loại trừ để thấy tản văn gồm những thể loại không thuộc truyện, thơ, kịch.
Tuy nhiên quan niệm này lại ngầm công nhận tản văn tồn tại như một thể loại lớn - ngang hàng với những thể loại có bề dày lịch sử trong văn học nói chung. Như vậy, văn học Trung Quốc nhìn nhận “tản văn” với ý nghĩa bao quát nhiều thể loại: ban đầu nó được dùng để chỉ “văn xuôi” nói chung, về sau, khái niệm thể loại biến đổi theo hướng thu hẹp dần nội hàm, “tản văn” được hiểu là những thể loại ngoài truyện, thơ, kịch (các thể văn xuôi còn lại như tùy bút, bút ký, phóng sự, tạp văn… gọi chung là tản văn). Ở Việt Nam, Từ điển thuật ngữ văn học cũng cho rằng: “trong nghĩa hẹp (tản văn) chỉ các tác phẩm văn phân biệt với kịch, thơ”; trong văn xuôi “bao gồm một phạm vi rộng từ tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, ký, tiểu phẩm chính luận thì tản văn chỉ phạm vi văn xuôi hẹp hơn, không bao gồm các loại truyện hư cấu như tiểu thuyết, truyện ngắn” [2/tr294], quan niệm này vừa dùng phương pháp loại trừ để khu biệt tản văn với những thể loại có đầy đủ đặc trưng cơ bản (kịch, thơ) vừa lấy tiêu chí hiện thực để phân loại nó với các thể loại của văn xuôi. Khi xếp tản văn vào văn xuôi nhưng là thể loại văn xuôi “không bao gồm các loại truyện hư cấu”, có nghĩa tản văn cũng là những tác phẩm chứa đựng yếu tố chân thực, vậy tản văn có mối quan hệ thế nào với thể ký? – một thể loại văn xuôi có sự giao thoa giữa văn học với khu vực cận văn học (báo chí, chính luận, ghi chép 8 tư liệu…).
Xem tản văn như một thể loại văn học nhưng trong văn học Việt Nam từng có hai xu hướng quan niệm: một mặt cho rằng tản văn chỉ là một phụ lưu của ký; mặt khác cho rằng tản văn bao hàm ký. Về quan niệm tản văn nằm trong ký, tác giả Nguyễn Đăng Na xác định rõ về mặt từ nguyên trong công trình giới thiệu về thể ký. Ông cho rằng, thoạt đầu ký thuộc động từ, mang nghĩa là ghi chép. Khi được danh từ hóa, ký chỉ chính “những sản phẩm ghi chép đó”.
Nếu hiểu những văn bản được ghi chép ra là sản phẩm sau cùng của ký thì “ký bao gồm trong nó rất nhiều loại hình ghi chép, từ thường thức đến chức năng, khoa học rồi văn chương nghệ thuật…” [16/tr7]. Ký mang những đặc tính cụ thể khi xét từ các phương diện. Về biểu hiện hình thức “những tác phẩm thuộc thể ký thường mang hai yếu tố là người ghi chép và cái được ghi chép. Như vậy, đã là ký thì phải mang dấu ấn trực tiếp của cái tôi và sự kiện can dự đến cái tôi ấy” [16/tr7].
Trong ký, cái tôi chỉ hiện diện khi ghi chép sự kiện. Còn ở tản văn, tạp văn hay tùy bút, cái tôi của nhà văn được thể hiện một cách tự do hơn. Điều đó lý giải một thực tế, so với ký, tản văn thường giàu chất thơ hơn. Ký xuất hiện sớm trong lịch sử thể loại văn học dân tộc.
Trong thời kỳ văn học trung đại, ký thực hiện nhiệm vụ ghi chép mọi phương diện đời sống. Lam Sơn thực lục, Trung Hưng thực lục, Thượng kinh ký sự (Lê Hữu Trác viết lời tựa) đều cho thấy ký là ghi chép sự thực mắt thấy tai nghe, mục đích là để răn dạy, nêu gương, giáo hóa. Nhưng “thực chất, thời kỳ trung đại, người ta mới chỉ có ý thức phân loại các thể loại chứ không phải khảo cứu lịch sử các thể loại nên những quan điểm bàn về ranh giới phân định thể loại mang tính chủ quan, tiên nghiệm” [47/tr88]. Phải tới đầu thế kỷ XX, ký mới được quan tâm phân loại một cách có ý thức, chia thành hai hướng: hoặc kế thừa những hình thức ký đã có trong văn học truyền thống (ký sự nhân vật, ký sự lịch sử) hoặc vẫn duy trì một số hình thức luận bàn (tản văn, tùy bút…).
Về cơ bản, tản văn hay tạp văn, tạp bút mang những yếu tố đặc trưng của thể ký, đó là một thể loại cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong việc phản ánh hiện thực ở cái thế trực tiếp nhất, ở những nét sinh động và tươi mới nhất. Điểm đặc thù của ký là tôn trọng tính xác thực của người và việc trong tác phẩm, sự hư cấu không được sử dụng một cách tùy tiện ảnh hưởng đến tính xác thực của nội dung mà trái lại phải làm tăng thêm ý nghĩa 9 xã hội và giá trị nghệ thuật cho tác phẩm. Như thế tản văn sinh thành từ ký, tản văn là một phụ lưu của ký được xem là quan điểm logic. Khi nghiên cứu về đặc trưng của thể loại ký, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh đã làm công việc khảo sát tư liệu trên phạm vi rộng: Văn học trung đại (ký, lục, chí tạp ký, ký sự), văn học Trung Quốc (văn học báo cáo, tạp văn, tản văn), văn học tư liệu của Liên Xô (phóng sự, bút ký, tùy bút, nhật ký, hồi ký, du ký, truyện ký.
Phạm vi khảo sát cho thấy quan điểm ký là “gốc” lớn của nhiều tiểu loại, trong đó có tạp văn, tản văn hay tạp bút… Đặc biệt, tính chất ký cũng thể hiện rõ ở một loạt tản văn xuất hiện vào đầu thế XXI, khi các tác giả là những cây bút trẻ nhưng không né tránh phản ánh nhiều hiện tượng được cho là “nhạy cảm” của đời sống xã hội và bộc lộ thẳng thắn quan điểm, tình cảm trước những hiện tượng đó. Sức hút của thể văn này được tạo ra do bản lĩnh, lập trường người viết ký. Trước một hiện thực phức tạp, đa chiều, người viết ký phải tỉnh táo để không nhầm lẫn bản chất và hiện tượng, đồng thời cũng là người “đứng mũi chịu sào”, lên tiếng cho sự thực giữa không ít sự bủa vây của định kiến, tiêu cực trong xã hội. Lập trường người viết ký chính là sự mạnh dạn khẳng định bản lĩnh nhà văn trong thời đại mới, lập trường dân chủ và bình đẳng đối thoại.
Nhờ vậy, “từ một thể loại mang tính nghệ thuật, ký đã bước sang các lĩnh vực ngoài văn học và tác động sâu sắc, tạo nên sự thức tỉnh mạnh mẽ trong đời sống xã hội”[47/tr12]. Như vậy, giá trị thức tỉnh đời sống của ký là một trong số những dấu hiệu chức năng để nhiều nhà nghiên cứu xếp tản văn thuộc về thể loại này. Tiêu biểu cho nhóm ý kiến tản văn là tiểu loại của ký, trong Năm bài giảng về thể loại, nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng tản văn là một tiểu loại ký có một số đặc điểm như: ngắn gọn, hàm súc; tùy hứng của tác giả có thể bộc lộ trữ tình hay nghị luận; lối thể hiện đời sống trong tản văn mang tính chất chấm phá; chạm vào những hiện tượng được tái hiện ở những khía cạnh cốt yếu và bất ngờ; tất cả những gì được thể hiện và biểu hiện trong bài tản văn đều mang đậm dấu ấn, cách cảm nhận và cảm nghĩ rất riêng của tác.