Luận án tiến sĩ tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học và công nghệ

Khám phá luận án tiến sĩ về tác động chính sách khoa học công nghệ lên hoạt động khoa học công nghệ, phân tích sâu rộng và đánh giá hiệu quả.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2018

179
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Luận án tiến sĩ Tổng quan tác động chính sách KH CN

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò là đòn bẩy cho sự phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Nhận thức rõ tầm quan trọng này, các chính sách công về KH&CN đã được ban hành nhằm tạo ra một khung pháp lý cho KH&CN thuận lợi, thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Luận án tiến sĩ “Tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động khoa học và công nghệ trong các trường đại học để thúc đẩy hình thành đại học nghiên cứu” của tác giả Trần Thị Hồng (2018) là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, tập trung phân tích và đánh giá tác động chính sách một cách hệ thống. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ những ảnh hưởng trực tiếp của các văn bản pháp quy đến hoạt động nghiên cứu tại các trường đại học mà còn chỉ ra con đường để các cơ sở giáo dục này chuyển mình theo mô hình đại học nghiên cứu, một yếu tố then chốt để xây dựng kinh tế tri thức. Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu tình huống điển hình tại Đại học Thái Nguyên, một đại học vùng trọng điểm, để cung cấp những bằng chứng thực tiễn xác đáng về cả tác động tích cực và tiêu cực của chính sách. Qua đó, công trình đưa ra những luận cứ khoa học quan trọng, góp phần hoàn thiện hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ, đồng thời đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học trong các trường đại học Việt Nam, hướng tới mục tiêu hội nhập với nền khoa học tiên tiến của thế giới.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu và vai trò của chính sách công

Bối cảnh toàn cầu hóa đặt ra yêu cầu cấp thiết cho Việt Nam phải đẩy mạnh đổi mới sáng tạo để phát triển bền vững. Trong đó, các trường đại học không chỉ là nơi đào tạo nguồn nhân lực khoa học và công nghệ chất lượng cao mà còn là trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D). Luận án chỉ ra rằng, chính sách công đóng vai trò kiến tạo, định hướng và điều tiết toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Các chính sách này, nếu được thiết kế và thực thi hiệu quả, sẽ tạo ra môi trường thuận lợi cho việc chuyển giao công nghệ, thúc đẩy công bố khoa học và khuyến khích sự ra đời của các doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

1.2. Mục tiêu luận án Đánh giá tác động chính sách KH CN

Mục tiêu trọng tâm của luận án là làm rõ thực trạng tác động của chính sách khoa học và công nghệ đến hoạt động KH&CN tại các trường đại học. Cụ thể, nghiên cứu tập trung vào việc đánh giá tác động chính sách trên hai phương diện: tác động “dương tính” (những thúc đẩy, lợi ích) và “âm tính” (những rào cản, bất cập). Dựa trên kết quả phân tích, luận án đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường chất lượng chính sách, nâng cao hàm lượng nghiên cứu khoa học, từ đó tạo tiền đề vững chắc cho việc hình thành các đại học định hướng nghiên cứu tại Việt Nam, góp phần hiện thực hóa chiến lược phát triển KH&CN quốc gia.

II. Thách thức trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ

Quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế đặt ra nhiều thách thức đối với hệ thống quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ tại Việt Nam. Luận án chỉ rõ, mặc dù đã có nhiều nỗ lực cải cách, việc triển khai chính sách KH&CN vẫn còn tồn tại những bất cập đáng kể. Một trong những thách thức lớn nhất là khoảng cách giữa mục tiêu chính sách và thực tiễn thi hành. Các văn bản pháp quy dù có mục tiêu tốt đẹp nhưng thường thiếu các cơ chế triển khai, giám sát và đánh giá tác động chính sách một cách khoa học. Điều này dẫn đến tình trạng hiệu quả hoạt động khoa học chưa tương xứng với tiềm năng và mức đầu tư cho khoa học và công nghệ. Hơn nữa, cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các tổ chức KH&CN, đặc biệt là các trường đại học, dù đã được đề cập trong các văn bản như Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP, nhưng việc áp dụng trong thực tế còn gặp nhiều rào cản từ tư duy quản lý hành chính bao cấp. Nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao và tài chính cho nghiên cứu và phát triển (R&D), vẫn còn hạn hẹp. Những thách thức này đòi hỏi phải có một sự đổi mới căn bản trong cả tư duy hoạch định và phương thức tổ chức thực hiện chính sách công.

2.1. Vướng mắc khi áp dụng khung pháp lý cho KH CN

Nghiên cứu cho thấy khung pháp lý cho KH&CN hiện hành còn một số điểm chưa đồng bộ và thiếu linh hoạt. Luận án của Trần Thị Hồng chỉ ra, cơ chế “xin-cho” vẫn còn tồn tại trong việc phân bổ kinh phí nghiên cứu, làm giảm tính chủ động và sáng tạo của các nhà khoa học. Các quy định về tài chính, đấu thầu, và sở hữu trí tuệ đôi khi còn phức tạp và chưa thực sự khuyến khích các hoạt động thương mại hóa công nghệ. Việc xác định và phân loại các tổ chức KH&CN theo Nghị định 115 cũng gặp khó khăn trong thực tiễn, gây cản trở cho quá trình thực thi quyền tự chủ.

2.2. Nhu cầu cấp thiết về đổi mới sáng tạo trong đại học

Để trở thành đại học nghiên cứu, các trường đại học cần một môi trường thúc đẩy đổi mới sáng tạo mạnh mẽ. Tuy nhiên, luận án phản ánh một thực tế rằng hoạt động R&D trong nhiều trường vẫn còn mang tính hình thức, chưa gắn kết chặt chẽ với nhu cầu của xã hội và doanh nghiệp. Áp lực về giảng dạy, thiếu hụt kinh phí, và cơ sở vật chất lạc hậu là những rào cản lớn. Do đó, cần có những chính sách khoa học và công nghệ đột phá để xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực sự ngay trong các trường đại học, kết nối nghiên cứu, đào tạo và sản xuất.

III. Phương pháp phân tích tác động chính sách khoa học và công nghệ

Để đánh giá tác động chính sách một cách khách quan và toàn diện, luận án đã xây dựng một khung phân tích khoa học, kết hợp cả phương pháp định tính và định lượng. Trọng tâm của phương pháp này là xem xét sự thay đổi trong hoạt động khoa học và công nghệ tại các trường đại học trước và sau khi áp dụng các chính sách cụ thể. Hai nhóm chính sách được lựa chọn để phân tích sâu là: nhóm chính sách tác động đến phát triển hoạt động KH&CN (cụ thể hóa qua Nghị định 99/2014/NĐ-CP) và nhóm chính sách tác động đến quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm (thể hiện qua Nghị định 115/2005/NĐ-CP và Nghị định 43/2006/NĐ-CP). Các chỉ số được sử dụng để đo lường bao gồm: số lượng đề tài nghiên cứu, số lượng công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế và trong nước, số hợp đồng chuyển giao công nghệ, và nguồn kinh phí cho R&D. Bên cạnh việc phân tích số liệu thống kê, luận án còn sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu và khảo sát bằng bảng hỏi với các nhà quản lý, giảng viên, và nghiên cứu viên để thu thập những góc nhìn đa chiều về hiệu quả và những vướng mắc trong quá trình thực thi khung pháp lý cho KH&CN.

3.1. Phân tích Nghị định 99 2014 về đầu tư cho KH CN

Nghị định 99/2014/NĐ-CP quy định về việc đầu tư cho khoa học và công nghệ và khuyến khích hoạt động KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học. Luận án đã phân tích chi tiết các điều khoản của nghị định này, đặc biệt là các quy định về việc trích lập quỹ phát triển KH&CN và cơ chế khuyến khích giảng viên tham gia nghiên cứu. Phân tích cho thấy chính sách này đã tạo ra một cú hích quan trọng, thúc đẩy các trường tăng cường đầu tư và chú trọng hơn đến kết quả đầu ra của hoạt động nghiên cứu, đặc biệt là các bài báo quốc tế.

3.2. Nghiên cứu cơ chế tự chủ trong hoạt động R D

Cơ chế tự chủ là chìa khóa để nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học. Luận án tập trung nghiên cứu tác động của Nghị định 115/2005/NĐ-CP và các văn bản liên quan đến quyền tự chủ về nhiệm vụ, nhân sự, tài chính và hợp tác quốc tế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, khi được trao quyền tự chủ, các đơn vị có thể linh hoạt hơn trong việc lựa chọn hướng nghiên cứu, huy động nguồn lực và phát triển đội ngũ nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của mình. Tuy nhiên, việc thực thi cơ chế này vẫn còn nhiều hạn chế do các rào cản về cơ chế giám sát và tư duy quản lý.

IV. Kết quả từ chính sách KH CN Nghiên cứu tại ĐH Thái Nguyên

Nghiên cứu trường hợp tại Đại học Thái Nguyên đã cung cấp những minh chứng sống động về tác động của chính sách khoa học và công nghệ. Kết quả phân tích dữ liệu giai đoạn 2010-2016 cho thấy một bức tranh đa chiều với cả những thành tựu và tồn tại. Về mặt tích cực, việc áp dụng Nghị định 99/2014 đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt. Tỷ trọng công bố khoa học quốc tế tại các trường thành viên như Đại học Nông Lâm, Đại học Sư phạm đã tăng đáng kể. Kinh phí dành cho hoạt động KH&CN cũng được cải thiện, giúp các nhóm nghiên cứu có điều kiện tốt hơn để thực hiện các đề tài nghiên cứu và phát triển (R&D). Tuy nhiên, luận án cũng chỉ ra những tác động không mong muốn. Áp lực công bố quốc tế đôi khi dẫn đến việc chạy theo số lượng mà chưa chú trọng đúng mức đến chất lượng và tính ứng dụng. Hoạt động chuyển giao công nghệthương mại hóa công nghệ vẫn còn khiêm tốn, cho thấy sự liên kết giữa nghiên cứu và sản xuất chưa thực sự chặt chẽ. Bên cạnh đó, việc thực hiện quyền tự chủ vẫn còn mang tính hình thức ở một số đơn vị, do vướng mắc trong các quy định liên ngành và sự thiếu chủ động của chính các đơn vị.

4.1. Tác động tích cực Tăng cường công bố khoa học quốc tế

Số liệu từ luận án cho thấy sau khi Nghị định 99/2014 có hiệu lực, số lượng bài báo được công bố trên các tạp chí quốc tế uy tín của Đại học Thái Nguyên đã tăng lên. Ví dụ, Bảng 3.10 trong luận án chỉ ra “Tỷ trọng công bố bài báo quốc tế tại ba trường ĐH thuộc ĐHTN trước so với sau khi áp dụng Nghị định 99/2014” có sự gia tăng rõ rệt. Điều này khẳng định chính sách công đã định hướng thành công các nhà khoa học hướng tới chuẩn mực quốc tế, góp phần nâng cao vị thế học thuật của các trường đại học.

4.2. Tác động tiêu cực và những rào cản trong thực thi

Bên cạnh thành công, luận án cũng thẳng thắn chỉ ra những mặt trái. Quá trình triển khai chính sách gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là cơ chế tự chủ tài chính. Nhiều đơn vị vẫn phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước, chưa phát huy được khả năng huy động các nguồn lực xã hội hóa. Hơn nữa, các quy định về sở hữu trí tuệ và chia sẻ lợi ích từ hoạt động thương mại hóa công nghệ chưa rõ ràng, làm giảm động lực của các nhà khoa học trong việc đưa sản phẩm nghiên cứu ra thị trường.

4.3. Vai trò của nguồn nhân lực khoa học và công nghệ

Yếu tố con người luôn là quyết định. Luận án nhấn mạnh rằng mọi chính sách khoa học và công nghệ chỉ có thể phát huy hiệu quả khi có một đội ngũ nguồn nhân lực khoa học và công nghệ đủ mạnh. Nghiên cứu tại Đại học Thái Nguyên cho thấy, dù chính sách có tốt đến đâu, nếu thiếu các nhà khoa học đầu ngành, các nhóm nghiên cứu mạnh và một văn hóa học thuật cởi mở, thì hiệu quả hoạt động khoa học cũng khó được nâng cao. Do đó, chính sách cần tập trung hơn nữa vào việc đào tạo, thu hút và trọng dụng nhân tài.

V. Hướng dẫn giải pháp thúc đẩy hiệu quả hoạt động khoa học

Từ những phân tích thực tiễn, luận án đã đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm tăng cường chất lượng và hiệu quả của chính sách khoa học và công nghệ. Các giải pháp này không chỉ nhắm đến việc điều chỉnh các văn bản pháp quy mà còn tập trung vào việc thay đổi phương thức quản lý và tạo dựng một môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Giải pháp cốt lõi là cần phải hoàn thiện khung pháp lý cho KH&CN theo hướng tăng cường thực chất quyền tự chủ đi đôi với trách nhiệm giải trình. Nhà nước cần chuyển dần từ vai trò “quản lý trực tiếp” sang “kiến tạo và hỗ trợ”, tập trung xây dựng các cơ chế, chính sách khuyến khích thay vì các mệnh lệnh hành chính. Đặc biệt, cần có cơ chế tài chính linh hoạt, cho phép các trường đại học đa dạng hóa nguồn thu cho hoạt động R&D, từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp, đến các quỹ đầu tư mạo hiểm. Việc xây dựng một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo hoàn chỉnh trong các trường đại học là mục tiêu dài hạn, đòi hỏi sự kết nối chặt chẽ giữa các viện nghiên cứu, vườn ươm công nghệ, và các doanh nghiệp khoa học và công nghệ.

5.1. Hoàn thiện chính sách công để phát triển R D bền vững

Luận án đề xuất cần điều chỉnh Nghị định 115 và các văn bản liên quan để quy định rõ ràng hơn về quyền và trách nhiệm của các tổ chức KH&CN. Cần xóa bỏ các rào cản hành chính không cần thiết, đơn giản hóa các thủ tục tài chính, và xây dựng một hệ thống đánh giá tác động chính sách định kỳ. Việc phân bổ kinh phí nghiên cứu và phát triển (R&D) nên dựa trên kết quả và hiệu quả, thay vì chỉ dựa trên quy mô và các chỉ tiêu đầu vào.

5.2. Bí quyết phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo

Để xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, các trường đại học cần chủ động kiện toàn các đơn vị nghiên cứu, phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, và nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ cán bộ. Chính sách của nhà nước cần khuyến khích mô hình hợp tác công-tư (PPP) trong R&D, hỗ trợ thành lập các vườn ươm công nghệ và trung tâm chuyển giao công nghệ ngay trong khuôn viên trường đại học, tạo cầu nối vững chắc giữa giới học thuật và ngành công nghiệp.

5.3. Chiến lược thương mại hóa công nghệ và sở hữu trí tuệ

Nâng cao hiệu quả thương mại hóa công nghệ là một giải pháp quan trọng. Luận án gợi ý cần xây dựng một chiến lược phát triển KH&CN rõ ràng về sở hữu trí tuệ, bao gồm các quy định minh bạch về quyền sở hữu, cơ chế chia sẻ lợi nhuận, và hỗ trợ pháp lý cho các nhà khoa học khi đăng ký bằng sáng chế. Đồng thời, cần tăng cường các hoạt động tư vấn, kết nối, và hỗ trợ các nhà nghiên cứu trong việc tìm kiếm đối tác và đưa sản phẩm ra thị trường.

VI. Tương lai chính sách KH CN và năng lực cạnh tranh quốc gia

Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp một cái nhìn sâu sắc và toàn diện về tác động của chính sách khoa học và công nghệ, khẳng định vai trò quyết định của chính sách trong việc định hình và thúc đẩy hoạt động KH&CN. Hướng tới tương lai, việc tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính sách là yêu cầu tất yếu để Việt Nam có thể xây dựng thành công một nền kinh tế tri thức và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Các chính sách trong giai đoạn mới cần phải linh hoạt, thích ứng nhanh với sự thay đổi của công nghệ và bối cảnh toàn cầu. Trọng tâm không chỉ là gia tăng số lượng các công trình nghiên cứu mà phải là tạo ra những sản phẩm KH&CN có giá trị cao, giải quyết được các vấn đề lớn của đất nước và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Việc đầu tư cho các đại học nghiên cứu không chỉ là đầu tư cho khoa học, mà là đầu tư cho tương lai của quốc gia. Một chiến lược phát triển KH&CN đúng đắn, được thực thi hiệu quả, sẽ là nền tảng vững chắc để Việt Nam bứt phá và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.

6.1. Xây dựng kinh tế tri thức Một xu hướng không thể đảo ngược

Luận án kết luận rằng, việc thúc đẩy các trường đại học trở thành đại học nghiên cứu là con đường tất yếu để Việt Nam tham gia vào nền kinh tế tri thức toàn cầu. Trong đó, chính sách khoa học và công nghệ đóng vai trò là công cụ dẫn dắt. Các chính sách này cần tạo ra một môi trường mà ở đó tri thức được tạo ra, lan tỏa và ứng dụng một cách hiệu quả nhất, biến tài sản trí tuệ thành động lực tăng trưởng kinh tế.

6.2. Đề xuất cho chiến lược phát triển KH CN giai đoạn mới

Dựa trên những phát hiện của mình, luận án đưa ra các khuyến nghị quan trọng cho chiến lược phát triển KH&CN quốc gia trong giai đoạn tiếp theo. Cần tập trung vào ba trụ cột chính: (1) Hoàn thiện thể chế, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và khuyến khích; (2) Tăng cường đầu tư có trọng điểm vào các lĩnh vực mũi nhọn và phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao; và (3) Thúc đẩy mạnh mẽ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia, với các trường đại học nghiên cứu là hạt nhân.

03/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE CAC CONG TRINH KHOA HOC DA CONG BO LIEN QUAN DEN CHU DE LUAN AN 1. Các công trình khoa học đã công bố ở nước ngoài liên quan đến chủ đề luận án Qua nghiên cứu tài liệu nước ngoài, tác giả nhận thấy đã có những công trình nghiên cứu được công bố bàn về một số nội dung liên quan đến chủ đề của luận án. Trước hết, phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “Wafional Science Policy and Universities” [T0]. Công trình nghiên cứu này đã cho thấy khoa học từ chỗ bị bỏ quên được biết đến như một công cụ quản lý, ở giai đoạn khoa học bị bỏ quên, các trường ĐH nhận được tài trợ từ Chính phủ cho nghiên cứu như nhà ở, thiết bị và vật liệu nhưng trên thực tế không có một chính sách khoa học nào được tuyên bố, chỉ đến khi mối quan hệ giữa các trường ĐH với nhà nước vả các ngảnh trong xã hội, đặc biệt là công nghiệp và thương mại ngày càng được khẳng định thì sự đổi mới, phát triển về công nghệ mới được nhìn nhận là phụ thuộc trực tiếp hơn và thường gan lién với thực hành khoa học.

Một chính sách đã được ban hành nhằm khuyến khích, tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa các trường ĐH và các doanh nghiệp. Chính sách nhắn mạnh đến vai trò của các trường ĐH trong sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, được xem là nguồn đổi mới công nghệ và khuyến khích các doanh nghiệp hợp tác trong lĩnh vực giáo dục cũng như nghiên cứu, một loạt mục tiêu lớn trong chính sách được thiết kế dé đưa các trường DH và doanh nghiệp gần nhau hon nhằm khuyến khích các ngành công nghiệp chiếm phần lớn trong tài trợ cho nghiên cứu trong các trường ĐH đề giảm sự phụ thuộc vào quỹ công. Các Chính phủ đã thiết lập hướng rõ ràng hơn cho chính sách GDĐH và khoa học: Yêu cầu các trường ĐH đệ trình các kế hoạch nghiên cứu và đã cho phép các viện nghiên cứu và trường ĐH được tự do hơn về vấn đề học thuật. Điều này được minh chứng bằng việc thay đôi trong Luật về Sở hữu trí tuệ, các trường ĐH được giải phóng, yêu cầu bồi thường quyền sở hữu trí tuệ đối với những kiến thức mới được phát triển trong tài trợ của nhà nước.

Các chính sách khoa học dựa trên ý tưởng về kiến thức nền kinh tế đang ngày càng lan rộng khắp thế giới, bao gồm cả trong các nền kinh tế đang phát triển của Mỹ Latinh, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước khác trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, các chính sách khoa học này là những yếu tổ chính gây nên sự thay đôi 19 trong chức năng của trường DH ở các quốc gia trên thế giới. Mặc dù, nghiên cứu đã cho thấy vai trò của nhà nước trong việc gắn kết trường ĐH với các doanh nghiệp, nhằm thúc đây hoạt động nghiên cứu của trường ĐH nhưng lại chưa bàn tới sự tác động của các chính sách, nhất là chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN trong trường DH nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN của trường ĐH (nhất là hàm lượng NCKH) để từ đó thúc đầy hình thành ĐHNC. Công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chính sách đến nghiên cứu của trường ĐH đó là nghiên cứu “The Impact of Scientific and Technological Policy Interventions on University Research: Evidence from the National Nano-Technology Initiative” [74]. Nghiên cứu này đã xem xét sáng kiến công nghệ Nano quốc gia (NND) như là một sự can thiệp chính sách nhằm mục đích thương mại hóa công nghệ và một hướng nghiên cứu tập trung đề thúc đầy tăng trưởng kinh tế quốc gia.

Nghiên cứu cũng cho thấy NNI có mang lại những hậu quả không lường trước được trong dòng chảy kiến thức của ngành ĐH và đặc điểm của nghiên cứu ĐH về công nghệ Nano, thông qua phân tích các bằng sáng chế về NNI của Hoa Kỳ được đệ trình từ năm 1996 đến năm 2007, các trường ĐH đã tăng đáng kể lưu lượng tri thức từ ngành công nghiệp, giảm sự phân nhánh nhưng NNI lại thu hẹp phạm vi nghiên cứu, va it có khả năng tạo ra công nghệ. Nghiên cứu cũng đã cho thấy những phát hiện mới: Ít nhất trong trường hợp của NNI các chương trình KH&CN của Chính phủ có thể làm tăng hiệu quả nghiên cứu của trường ĐH. Đây là nghiên cứu gần với chủ đề luận án, nghiên cứu đã đề cập đến sự tác động can thiệp của chính sách cụ thê (chính sách về NND vào nghiên cứu của trường ĐH, một số khái niệm liên quan đến chủ đề luận án cũng được đề cập trong nghiên cứu như: tác động; chính sách; chính sách KH&CN. Tuy nhiên, nghiên cứu này mới chỉ tập trung phân tích sự tác động của chính sách về NNI đến bản chất nghiên cứu của trường ĐH, sự can thiệp của nhà nước bằng chính sách này nhằm thương mại hóa các sản phẩm công nghệ của trường ĐH mà chưa chỉ ra tác động của chính sách này đến việc hình thành ĐHNC.

Hay nghiên cứu “Research Universities: The core of the US system of science and technology” [66]. Nghiên cửu này bàn về chính sách hỗ trợ tài chính của Chính phủ cho nghiên cứu của trường ĐH từ năm 1950 đến giữa những năm 1970, thông qua việc thành lập các chương trình nhằm khuyến khích hợp tác NCKH với trường ĐH và coi đây như là một phương 20 tiện để thiết lập mối quan hệ giữa các trường ĐH và ngành công nghiệp, tuy nhiên lại phải đối mặt với một số thách thức đáng kê để có thể tiếp tục giữ vị trí hàng đầu trong việc tìm kiếm kiến thức. Có thể thấy, nghiên cứu mới chỉ tiếp cận dưới góc độ chính sách tài chính mà chưa bàn đến các chính sách khác có liên quan nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đây nghiên cứu của trường ĐH, tuy nhiên nghiên cứu cũng đã đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án như KH&CN, chính sách tài chính. Nghiên cứu có tén “Policies and Universities in Knowledge in Developing Countries: Inclusive Development and" Developmental Universities” [67], lại đề cập đến loại chính sách được gọi là "dân chủ hóa các chính sách tri thức" và chỉ ra cách chính sách này hoạt động trong thực tiễn và khám phá cách mà trường ĐH, một phần quan trọng của bất kỳ hệ thống đổi mới quốc gia nào, có thê đóng một vai trò trong sự nổi lên và củng có sự dân chủ hóa tri thức.

Các trường ĐH nắm lấy vai trò đó có thể được coi là các trường ĐH phát triển. Nghiên cứu đã đi phân tích tại một trường hợp ở Uruguay minh họa một sự chuyên đổi liên tục hướng tới một trường ĐH phát triển. Kết quả đạt của nghiên cứu này đã chỉ ra được vai trò của chính sách dân chủ hóa tri thức của trường ĐH trong hệ thống đổi mới quốc gia nhưng nghiên cứu này lại chưa bàn đến tác động của chính sách KH&CN đến hoạt động KH&CN để thúc đây hiệu quả hoạt động KH&CN của trường ĐH. Cũng đã có những công trình bản về vai trò của trường DH trong hệ thống giáo dục quốc gia, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu có tên “Educational Activity of National Research Universities as a Basis for Integration of Science, Education and Industry in Regional Research and Educational Complexes” [72].

Nghiên cứu này đã bàn đến việc hội nhập các cơ sở giáo dục chuyên nghiệp, KH&CN ở Nga, thông qua nghiên cứu khảo sát trường hợp cụ thể về hoạt động giáo dục tại hai trường ĐH quốc gia - ĐH Tomsk và ĐH Bách khoa Tomsk. Nghiên cứu chỉ ra được sự gan két trường ĐH và các cơ sở nghiên cứu nhằm thực hiện cải cách hệ thống giáo dục của liên bang Nga và có đề cập đến một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án như khái niệm khoa học; ĐHNC, nhưng lại không đề cập đến chính sách KH&CN nào, cũng như tác động của chính sách KH&CN đến trường ĐH để thúc đấy hình thành thành ĐHNC. Hay“Research oøƒ university science and 21 technology innovation system based on low-carbon economy” [TT], nghiên cứu này bàn về một số vấn đề đôi mới KH&CN của trường ĐH hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất xây dựng hệ thống đổi mới công nghệ quốc gia. Để làm được điều đó, các trường ĐH cần xây dựng đội ngũ sáng tạo và tô chức học tập trên nền tảng phần cứng sáng tạo cũng như tăng cường nền tảng phần mềm để các trường ĐH là những hệ thống sáng tạo có sự tham gia của các nhà khoa học và quản lý tri thức.

Nghiên cứu này đã có nhắc tới một số khái niệm liên quan đến chủ đề của luận án đó là KH&CN. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xem xét hệ thong đôi mới KH&CN của các trường ĐH mà chưa có sự đánh giá tác động của hệ thống đổi mới KH&CN đến hoạt động nghiên cứu của trường ĐH. Ngoài ra, còn phải kế đến các tác giả Muskin J., Jack Coteen (Anh), Wu. L, Cristopher John Hull (Hoa Kỳ).

Các công trình nghiên cứu của các tác giả kế trên tập trung vào các vấn đề: Chức năng của trường ĐH về KH&CN; đặc điểm công tác KH&CN trong trường ĐH, các hình thức tổ chức hoạt động KH&CN trong trường ĐH, các mối liên kết của trường ĐH với các khu vực công nghiệp qua việc xây dựng các khu khoa học, đặc khu công nghệ, dịch vụ tư vấn CGCN trong trường ĐH, các cơ sở vả phương tiện cho NCKH, đánh giá chất lượng nghiên cứu, cơ chế hoạt động tự chủ của trường ĐH trong hoạt động KH&CN. Cũng có những công trình nghiên cứu về ĐHNC, trước hết là nghiên cứu có tén “Research Assessment of Research-Oriented Universities in Taiwan from 1993 to 2003” [71]. Nghiên cứu này xem xét các hiệu suất ấn phâm học thuật của các trường ĐH định hướng nghiên cứu và được minh họa bằng việc sử dụng số lượng trích dẫn, các trích dẫn trung bình bài báo. Sau đó, đánh giá số lượng ấn phẩm trong các lĩnh vực đó để chỉ ra những giá trị của các ấn phâm khoa học của từng trường.

Có thê nói, đây là công trình đã có cách tiếp cận khác về các tiêu chí đánh giá năng lực nghiên cứu của trường ĐH. Ngoài hai chỉ số quen thuộc thường được nhắc đến khi tiễn hành đánh giá nghiên cứu là số lượng bài báo và số lượng trích dẫn, còn xem xét trên những chỉ số khác như: tỷ lệ trích dẫn trung bình hoặc tần số trích dẫn. Các chỉ số này dùng để kiểm tra tác động kết quả nghiên cứu của các trường ĐH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ