PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Báo cáo tài chính (BCTC) là một trong những kênh thông tin vô cùng quan trọng trong việc kết nối doanh nghiệp với các cổ đông, nhà đầu tư và các bên liên quan. Tuy nhiên, BCTC luôn tiềm ẩn rủi ro xảy ra sai sót (chủ quan hoặc khách quan), làm sai lệch thông tin BCTC, ảnh hưởng đến tính trung thực, minh bạch của BCTC, từ đó ảnh hưởng đến các quyết định của đối tượng sử dụng thông tin. Cổ đông hoặc các nhà đầu tư có thể phải đối mặt với tình trạng thông tin không cân xứng (information asymmertry) dẫn đến sai lệch khi đưa ra quyết sách đầu tư do thông tin cung cấp không đúng, bị che giấu hoặc không được cung cấp đầy đủ.
Trong quy trình lập BCTC, các doanh nghiệp thường sử dụng rất nhiều các ước tính kế toán - một giá trị gần đúng của một chỉ tiêu liên quan đến BCTC được ước tính trong trường hợp thực tế đã phát sinh nhưng chưa có số liệu chính xác hoặc chưa có phương pháp tính toán chính xác hơn, hoặc một chỉ tiêu thực tế chưa phát sinh nhưng đã được ước tính để lập BCTC. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cũng sử dụng các ước tính kế toán như là một công cụ đắc lực để “phù phép” lợi nhuận. Khi cần lợi nhuận ở mức cao để thuyết phục và tạo lòng tin cho các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp có thể: giảm mức khấu hao, giảm mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho, giảm dự phòng phải thu khó đòi, không ghi nhận chi phí khi tài sản bị giảm giá xuống dưới giá trị thuần, vốn hóa các khoản chi phí không đủ điều kiện vốn hóa… Hoặc khi cần lợi nhuận ở mức thấp để tránh các nghĩa vụ thuế hoặc nhận các ưu đãi từ phía chính phủ, doanh nghiệp có thể: tăng mức khấu hao, tăng mức dự phòng giảm giá hàng tồn kho… Bên cạnh đó, đôi khi các ước tính không được ghi nhận đầy đủ trên BCTC do tồn tại khoảng cách giữa các quy định của chế độ kế toán và chính sách thuế thu nhập hiện hành trong việc ghi nhận chi phí, thu nhập liên quan đến ước tính kế toán, các doanh nghiệp sẽ có xu hướng loại bỏ ước tính kế toán khỏi BCTC, hạch toán theo các nội dung mà cơ quan Thuế chấp nhận, dẫn đến số liệu kế 1 toán không trung thực, hợp lý và thông tin công bố tới người đọc không phản ánh đúng tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Ở Việt Nam, ngành xây lắp là một trong những lực lượng chủ lực xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng của nền kinh tế- xã hội, xây dựng các công trình dân dụng và công nghiệp rộng khắp cả nước, trong đó có những công trình có tính động lực, thúc đẩy nền kinh tế- xã hội phát triển, đóng góp đáng kể vào GDP hàng năm.
Tuy nhiên, trong bối cảnh chuẩn mực ngày càng phức tạp, hoạt động kinh doanh khó khăn, nhiều rủi ro, nợ xấu tăng cao, hàng tồn kho luân chuyển chậm, thị trường bất động sản đóng băng, thị trường chứng khoán giảm điểm, lợi nhuận sụt giảm… cũng là những áp lực khiến doanh nghiệp lâm vào tình trạng xảy ra các sai sót hoặc phải sử dụng UTKT như công cụ điều chỉnh và “làm đẹp” thông tin BCTC. Bên cạnh đó, các ước tính kế toán tại các công ty xây lắp cũng nhiều, mang tính chất phức tạp, đặc thù liên quan đến cả doanh thu và chi phí, do đó, vấn đề sai sót và ước tính kế toán ngày càng đóng vai trò quan trọng trong báo cáo tài chính, nếu không xử lý tốt sẽ ảnh hưởng tới tính trung thực, hợp lý và khả năng so sánh thông tin trên BCTC của doanh nghiệp. Thực tế cho thấy nhiều vấn đề sai sót và thay đổi ước tính kế toán làm sai lệch báo cáo tài chính của nhiều doanh nghiệp liên quan đến nhận diện, xử lý và công bố thông tin. Ngoài ra, từ khi ban hành Chuẩn mực kế toán đầu những năm 2000 đến nay đã có một số nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam về vấn đề này, các nghiên cứu đã bước đầu giúp nhận biết sai sót và thay đổi ước tính kế toán.
Tuy nhiên, vấn đề này rất phức tạp, nhất là với đặc thù riêng biệt của công ty xây lắp, và hiện không có nhiều đề tài tập trung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về sai sót và thay đổi ước tính kế toán tại các công ty xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu “Sai sót và thay đổi ước tính kế toán tại các công ty xây lắp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận án Tiến sĩ của mình. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài 2. Các nghiên cứu liên quan đến sai sót W.
Kinney (1979) đã tập trung phát hiện các sai sót thông qua thu thập dữ liệu khách hàng từ 7 công ty kiểm toán với khách hàng có doanh thu từ 5- 10 triệu USD. Qua nghiên cứu nhận định có 25 tài khoản có sai sót trọng yếu được phân loại để nghiên cứu. Kết quả, một số tài khoản có mức ý nghĩa quan trọng đối với các điều chỉnh của kiểm toán viên đó là: Trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Lợi nhuận; Doanh thu; Chi Phí; Giá vốn bán hàng; Doanh thu khác; Chi phí khác… Bảng cân đối kế toán: Các khoản phải thu; Hàng tồn kho; Tài sản ngắn hạn khác; Nợ ngắn hạn khác; Nợ dài hạn; các khoản dự phòng… Trong đó, lợi nhuận ròng là tài khoản chiếm tỷ lệ điều chỉnh lớn nhất với 61% báo cáo công ty theo năm. Trong kết quả nghiên cứu của Song (2011) đã trình bày phương pháp phát hiện rủi ro có sai sót trọng yếu thông qua việc nhận diện sai sót căn cứ vào thông tin tài chính và phi tài chính của đơn vị trình bày trên các báo cáo.
Nguyễn Công Phương và cộng sự (2018) nghiên cứu sai sót trong công bố thông tin trên BCTC là một trong những chủ đề đặc biệt được quan tâm và mang tính thời sự tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhằm cung cấp bức tranh tổng quát về thực trạng sai sót BCTC theo các chỉ tiêu trọng yếu như lợi nhuận và tài sản. Dựa vào cách tiếp cận mô tả và so sánh báo cáo trước và sau kiểm toán, nghiên cứu đã phân tích cho thấy sai sót lợi nhuận và tài sản của các công ty niêm yết phổ biến cả về số lượng và mức độ sai sót. Kết quả một mặt cung cấp thông tin có giá trị cho cơ quan quản lý, nhà đầu tư để xem xét trong việc quản lý và ra quyết định, mặt khác cung cấp kết quả cho các nhà nghiên cứu để giải thích hiện tượng sai sót BCTC.
Các nghiên cứu về ước tính kế toán và thay đổi ước tính kế toán Mai Ngọc Anh (2012) đưa ra kết quả nghiên cứu chung về ước tính kế toán và các phương pháp xác định từng ước tính quy định trong chuẩn mực 3 kiểm toán quốc tế (ISA), chuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) và nguyên tắc kế toán Mỹ (US GAAPs) từ đó đưa ra các kinh nghiệm phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Đề tài cũng nghiên cứu chuẩn mực và chế độ kế toán về ước tính kế toán và phương pháp xác định UTKT, đánh giá ưu nhược điểm từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện. Ngoài ra, các nghiên cứu của tác giả Mai Ngọc Anh công bố trên tạp chí chuyên ngành về ước tính kế toán như: “Xử lý ước tính kế toán trong giai đoạn kinh tế khó khăn hiện nay” (2013), đăng trên Tạp chí Kế toán và Kiểm toán; “Sử dụng giá trị hợp lý trong hệ thống chuẩn mực kế toán và chuẩn mực BCTC quốc tế” (2010), Tạp chí nghiên cứu khoa học kiểm toán… chỉ ra các đặc điểm UTKT và các sai sót có thể xảy ra liên quan đến ước tính kế toán, hướng dẫn kế toán đối với các UTKT và các cách thức sử dụng giá trị hợp lý. Đặng Ngọc Hùng (2016) trình bày sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán ở Việt Nam.
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy sau khi đã tiến hành kiểm định thang đo Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA), đồng thời kiểm định mối liên hệ giữa mức độ áp dụng chuẩn mực kế toán và lợi ích áp dụng chuẩn mực kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy, có sự khác biệt nhỏ so với mô hình dự kiến ban đầu, có 04 nhân tố gồm: Chế độ kế toán và thông tư hướng dẫn; Kinh nghiệm và năng lực của kế toán viên; Tổ chức tư vấn nghề nghiệp; và Đặc điểm của doanh nghiệp có quan hệ thuận chiều đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán. Đồng thời kết quả kiểm định cho thấy mức độ áp dụng chuẩn mực kế toán có quan hệ thuận chiều với lợi ích áp dụng chuẩn mực kế toán của doanh nghiệp. Đặng Thị Hồng Hà (2017) đã hệ thống hóa những lý luận cơ bản về kế toán ước tính bao gồm một số khoản dự phòng cơ bản tại các công ty xây lắp bao gồm: Nội dung, đặc điểm của các khoản dự phòng và tổn thất tài sản; Cơ sở kế toán, loại hình kế toán và các nguyên tắc kế toán chi phối đến sự hình thành các khoản dự phòng và tổn thất tài sản; Nội dung kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong doanh nghiệp.
Luận án đã nghiên cứu, khảo sát, 4 phân tích và làm rõ thực trạng kế toán các khoản dự phòng và tổn thất tài sản trong các công ty xây lắp ở Việt Nam. Từ nghiên cứu thực trạng, luận án đã nhận xét, đánh giá kết quả đạt được cũng như những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế. Nguyễn Thị Ngọc Diệp và cộng sự (2020) nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến áp dụng chuẩn mực kế toán Việt Nam của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh” nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc áp dụng chuẩn mực kế toán (CMKT) của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu của nghiên cứu thu nhập từ 297 phiếu tại TP.
Các phương pháp kiểm định Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA) và hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng trong nghiên cứu này.