CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TONG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu về cảnh quan biển đảo 1. Thế giới a) Cảnh quan học Nền móng của CQ học hay học thuyết CQ được hình thành từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ở nước Nga, ở Đức, ở một số nước khác, song bộ môn khoa học này chỉ được chú ý phát triển sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Phân tích các quan niệm của CQ từ các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu kinh điển của Nga, Đức, Tiệp, Ba Lan và của các học giả khác cũng như việc sử dụng quan niệm về CQ hiện đại cho thấy có 3 quan niệm khác nhau: “Cảnh quan” là thuật ngữ bắt nguồn từ ngôn ngữ Đức - “landschaft”, với nghĩa là nước, miền, địa phương, khu vực, đã bắt đầu được sử dụng trong các sách vở dia lí từ năm 1805. Tuy nhiên, đến cuối thế ki XIX, đầu thé ki XX thì nền móng của CQH mới được xây dựng trong các công trình nghiên cứu về bề mặt Trái Đất của các nhà địa lí kinh điển Nga, Duc, Anh, Mi, Pháp. Trong quá trình phát triển của CQH, đã có rat nhiều tác giả đưa ra các quan điểm, học thuyết khác nhau về CQ, thé hiện qua hàng loạt các định nghĩa về CQ với nội dung và cách diễn đạt không giống nhau. Có thé tổng hợp các định nghĩa ấy vào ba nhóm quan niệm cơ bản như sau: > Quan niệm coi CQ là một khái niệm chung đồng nghĩa với tổng thể thiên nhiên ở các cấp phân vị khác nhau.
Người đầu tiên hiểu theo quan niệm này là S. Ông cho rằng, “CQ là tổng thể gồm có những vật thể và những hiện tượng tự nhiên phụ thuộc lẫn nhau, liên quan với nhau và thể hiện đưới dang thé tổng hợp địa lí ở các cấp phân vị khác nhau, có lịch sử hình thành khác nhau và có quá trình phát triển không ngừng”. Ủng hộ quan điểm này có D. Armand quan niệm CQ là khái niệm chung dé gọi các tông thé tự nhiên lớn, nhỏ như CQ Trái Đất, CQ lục địa, CQ đồng cỏ.
Thuật ngữ CQ không những có thé dùng cho bat kì DV phân loại nào như CQ bán đảo, CQ các khiên cổ. mà còn dùng theo nghĩa chung giống với khái niệm dat đai, khí hậu. > Quan niệm coi CQ là một đơn vị phân loại trong hệ phân vị tổng thể tự nhiên, trong đó CQ là đơn vị chủ yếu được xem xét về những biến đổi do tác động cua con người. Theo cách hiểu này thi CQ là một trong những don vị thấp nhất trong hệ thống phân vùng tổng hợp.
Tiêu biểu theo xu hướng nay là A. Ixatsenko, Vũ Tự Lập. Kalexnik quan niệm “CQ địa lí là một bộ phận nhỏ của bề mặt định tính khác hắn với các bộ phận khác được bao bọc bởi những ranh giới tự nhiên và một sự tập hợp có quy luật và thống nhất trong bản thân nó, được biểu hiện một cách điển hình trên một không gian rộng lớn và có quan hệ không tách rời về mọi mặt với lớp vỏ địa lí”. Qua đó Kalesnik cho thay một CQ bat kì phải được coi như là kết quả của sự phát triển và phân di của lớp vỏ CQ.
Xolsev dựa trên kinh nghiệm nghiên cứu thực địa nhiều năm đã đưa ra định nghĩa: “CQ địa lí là một tổng thể lãnh thé tự nhiên đồng nhất về mặt phát sinh, có một nền địa chất đồng nhất, có một kiểu địa hình, có một khí hậu đồng nhất, và bao gồm một tập hợp dạng địa lí chủ yếu và thứ yếu liên kết với nhau về mặt động lực và lặp lại một cách có quy luật trong không gian, tập hợp này chỉ thuộc riêng cho cảnh địa lí đó”. Định nghĩa này tuy tương đối rõ ràng, cụ thể, xác định được cau trúc CQ, nhưng chưa thé hiện được mối tương quan giữa các hợp phần thuỷ văn, thổ nhưỡng, sinh vật; chưa nói đến quan hệ giữa cấp cảnh với cấp lớn hơn. Ixatsenko, “CQ địa lí là một bộ phan được tách ra trong qua trình phát sinh của một miền, một đới địa lí, và nói chung là của bất kì đơn vị lãnh thô lớn hon, có đặc điểm đồng nhất cả về mặt địa đới và phi địa đới và có một cấu trúc viền, một cấu tạo hình thái riêng”. Gần đây, Ixatsenko nhấn mạnh CQ là bậc trung tâm trong dãy các hệ địa lí, là khâu kết thúc trong sự phân dị khu vực, và là đối tượng khởi đầu dé phân tích các quy luật địa lý tự nhiên (DLTN) địa phương gắn liền với các hoạt động của các nhân tố địa lí trong CQ.
CQ có tính đồng nhất về các mặt địa đới và phi địa đới biểu hiện trước hết ở sự thống nhất về nền móng, kiểu địa hình và khí hậu, quy định cả sơ đồ thống nhất về cấu trúc bên trong của nó. Mặt khác, CQ là một tông thê phức tạp của các hệ địa lí địa phương (cảnh khu, cảnh diện) gắn kết với nhau một cách có quy luật, được hình thành trong phạm vi của cảnh. Vũ Tự Lập trên cơ sở tiếp cận khoa học CQ Liên Xô (cũ) có chọn lọc đã định nghĩa “CQ địa lí là một dia tổng thé được phân bé ra trong phạm vi một đới ngang ở đồng băng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thăng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một tập hợp có quy luật của những dang địa lí và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cau trúc ngang đồng nhất”. Định nghĩa này nói lên quá trình phát sinh các đơn vị lớn hơn, chủ yếu là cấp đới địa lí và đai cao địa lí, tính đồng nhất trong cấu trúc đứng và tính phân dị trong cấu trúc ngang.
> Quan niệm coi CQ là một khái niệm có tính chất kiểu (loại hình) của những tổng thé DLTN. Cách hiểu này được phát triển trong các công trình của B. Knasenkov và các ông đã kết luận rằng cần phải chia ra các CQ yếu tố. Các CQ này thường lặp lại ở khắp nơi, trên các yếu tô giống nhau của địa hình.
Gvozdetsky đã bảo vệ quan điểm này, ông phân biệt CQ yếu tố với các đại CQ. Các CQ yếu tố tương ứng với các kiểu cảnh khu và phần nào với cảnh diện. Còn đại CQ là những tập hợp có quy luật của những CQ yếu tố. Như vậy, về cơ bản thì các nghiên cứu trên vẫn có điểm chung, đó là việc xem CQ là một tông thé lãnh thé thiên nhiên.
Sự khác nhau thể hiện ở chỗ CQ được dùng dé chỉ những tổng thể kiểu nào và ở cấp phân vị nào, hoặc CQ được xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải. Tuy nhiên, chúng ta nên có một cách hiểu thống nhất nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc nghiên cứu chuyên sâu và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của giai đoạn hiện nay. Trong ba quan niệm trên thì quan niệm đầu tiên - xem CQ là một khái niệm chung đồng nghĩa với tổng thể thiên nhiên ở các cấp phân vị khác nhau - là phù hợp hơn cả, vì lúc đó phạm vi nghiên cứu sẽ có tính bao quát hơn, dễ dàng thực hiện được nhiều mục tiêu và nhiệm vụ hơn, thêm nữa là hạn chế được tính chủ quan trong nghiên cứu. b) Cảnh quan biển đảo Cảnh quan biến xuất hiện từ khoảng giữa thế kỷ XX.
Trong các tai liệu của các nước Phương Tây va Mỹ, CQ biển thường được sử dụng bằng các thuật ngữ như: CQ biển - “marine landscape, seascape”, môi trường sống của biển - “marine habitat”, sinh cảnh biển - “marine biotope”. Thuật ngữ CQ biển được sử dụng chủ yếu khi phân kiểu CQ bằng cách sử dụng kết hợp các thành phan phi sinh vật và hữu cơ, các sinh cảnh khác được sử dụng đồng nghĩa khi phân chia môi trường sống của các quần xã sinh vật biển. Mặc dù được xác định là đối tượng va nghiên cứu khá sớm, song cho đến nay quan điểm và khái niệm về CQ biển (đôi khi gọi là pelagic seascape - CQ biển mở, dé chi CQ trên mặt biển) hay CQ đáy biển (benthnic seascape/habitat - dé chi CQ dưới đáy biển) vẫn còn có nhiều quan điểm khác nhau, chủ yêu do cách tiếp cận, mục đích ứng dụng và quy mô nghiên cứu. Từ đó, dẫn đến những khác biệt về hệ thống phân loại, cấu trúc, chức năng, động lực của CQ bién.
Nghiên cứu CQ biến, ứng dụng các khái niệm CQ vao môi trường biển, đã dần xuất hiện từ những năm 1970 (Sousa, 1979; Paine & Levin, 1981; Steele, 1989), mang lai sự mới mẻ hiểu biết sinh thái và cho thấy tiềm năng ngày càng tăng dé hỗ trợ phát triển các thực hành quản lý dựa trên khoa học có ý nghĩa sinh thái (Bostrom et al. 2011; Pittman et al. CQ biến, lay rất nhiều từ các khung khái niệm và phân tích được phát triển trong sinh thái CQ, tập trung vào tìm hiểu nguyên nhân và hậu quả sinh thái của sự phân tán không gian phức tạp và năng động tồn tại trong môi trường biển (Robbins & Bell, 1994; Pittman et al. Tại Châu Âu, van đề nghiên cứu CQ biên cũng được chú trọng.
Trong hướng dan kỹ thuật đánh giá đặc tính CQ biển (SCA) của châu Au, CQ biển được (seascape) được định nghĩa là: “Một khu vực của biển, bờ biển và đất liền với những đặc điểm đặc trưng là hệ quả của tương tác của đất liền với biển, bởi các yếu tố tự nhiên và/hoặc con người. Một số tác giả phân biệt CQ đảo khỏi CQ biển. Biển, bờ biển và đất liền đều góp phan tạo nên đặc tính trên dao. Thành phần trên mặt đất của một hòn đảo có thé không đủ dé hỗ trợ một cộng đồng người, và do đó, việc sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên ven bién và biển trở nên cân thiệt.
Bản chât của một hòn đảo lại tạo ra một mức độ cô lập; đây có thê là một lợi thế khi sự cạnh tranh về tài nguyên được quan tâm hoặc nó có thể tạo thành bất lợi nếu cần phải xây dựng đảo. Thông thường, các đảo được kiểm tra cách ly với biển bao quanh chúng (và khoảng cách đến đất liền hoặc các đảo khác). Biển có vai trò của ống dẫn, nhưng cũng có thể là một trở ngại trong việc định cư, di chuyên, giao tiếp và trao đổi (Vogiatzakis et al.