đặt vấn đề nghiên cứu với phạm vi khá rộng về cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị dự toán, gồm (i) các đơn vị dự toán khu vực hành chính, và (ii) đơn vị dự toán khu vực dịch vụ công cung cấp dịch vụ giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, văn hóa thể thao… cho xã hội. Từ việc kết hợp đánh giá thực trạng cơ chế quản lý tài chính đang áp dụng tại các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp sự nghiệp công lập, gắn với chu trình dự toán ngân sách hàng năm, để chỉ ra những tồn tại, hạn chế trong công tác lập, chấp hành dự toán, quyết toán ngân sách, các chế độ, định mức chi tiêu hiện hành, và tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các đơn vị dự toán. làm cơ sở để đề xuất 5 nhóm giải pháp cơ bản và các nhóm giải pháp bổ trợ nhằm: đổi mới quy trình dự toán và phân bổ dự toán gắn với kết quả đầu ra; cơ cấu lại nguồn NSNN cấp và đổi mới điều hành tài chính đối 10 với các đơn vị dự toán; thay đổi căn bản phương thức cấp phát ngân sách thường xuyên cho khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp công; hoàn thiện chính sách giá, phí dịch vụ công trong tiến trình cải cách tài chính công ở Việt Nam hiện nay. Song, do nghiên cứu với phạm vi rộng và từ giác độ quản lý nhà nước, nên chủ yếu tập trung phân tích hệ thống các văn bản pháp lý quy định về công tác quản lý tài chính đang áp dụng đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập.
- Đề tài luận án tiến sĩ (2016), "Quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo ở Việt Nam" [44], tác giả Lương Thị Huyền đã tổng kết và có những đánh giá khá cụ thể về quản lý tài chính các trường đại học công lập thông qua phân tích 3 nội dung: (1) quản lý thu, (2) quản lý chi, và (3) quản lý việc phân phối kết quả hoạt động tài chính, với chủ thể quản lý là Nhà nước, dưới giác độ đưa ra các cơ chế quản lý tài chính, nhằm tạo hành lang pháp lý cho các trường đại học công lập hoạt động một cách hiệu quả. Trong đó, tác giả đã tập trung nghiên cứu thực trạng quản lý thu, quản lý chi và quản lý việc phân phối kết quả hoạt động tài chính tại các trường đại học công lập thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, với 3 trường được chọn mẫu điển hình, thuộc các mức độ phân loại tự đảm bảo chi phí hoạt động thường xuyên khác nhau, để chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đối với các cơ chế hiện hành. Trên cơ sở đó, luận án đã đưa ra (i) quan điểm đổi mới quản lý tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam, và (ii) đề xuất 3 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo. - Đề tài luận án tiến sĩ (2017), "Quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện tự chủ" [36], tác giả Trương Thị Hiền đã tổng kết và có những đánh giá khá cụ thể về quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh thông qua phân tích và đánh giá 4 nội dung: (1) quản lý nguồn kinh phí, (2) quản lý các khoản chi, (3) quản lý phân phối kết quả hoạt động tài chính, (4) quản lý thu nhập tăng thêm của cán bộ, viên chức; và phân tích hệ thống các công cụ quản lý tài chính các trường đại học công lập (Hệ 11 thống chính sách, pháp luật của nhà nước; công cụ kế hoạch hóa; quy chế chi tiêu nội bộ; công tác hạch toán kế toán; bộ máy cán bộ quản lý tài chính; hệ thống kiểm soát tài chính nội bộ và kiểm toán).
Đi sâu nghiên cứu công tác quản lý tài chính các trường đại học công lập trong điều kiện tự chủ. Qua phân tích và đánh giá, tác giả đã chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đối với các cơ chế hiện hành. Trên cơ sở đó, luận án đã đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong điều kiện tự chủ. - Đề tài luận án tiến sĩ (2019), "Quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng trực thuộc Bộ Giao thông vận tải" [92], tác giả Đinh Thị Hải Yến đã trình bày có hệ thống cơ sở khoa học về Quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập đào tạo, bồi dưỡng trên các khía cạnh: Khái quát chung về tài chính, quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập đào tạo, bồi dưỡng; Những nhân tố ảnh hưởng; Kinh nghiệm quản lý tài chính.
Đặc biệt, luận án đã làm rõ 6 nội dung quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp công lập đào tạo, bồi dưỡng (Quản lý hoạt động tạo lập nguồn tài chính; quản lý hoạt động sử dụng nguồn tài chính; quản lý phân phối kết quả hoạt động tài chính; quản lý tài sản công; tổ chức bộ máy quản lý tài chính và thanh, kiểm tra, giám sát các hoạt động tài chính). Đây là những nội dung cốt lõi, quan trọng, bao quát toàn bộ quá trình quản lý tài chính. Đồng thời, Luận án đã phân tích một cách toàn diện thực trạng quản lý tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập đào tạo, bồi dưỡng trực thuộc Bộ Giao thông vận tải về thể chế, cơ chế tài chính theo Nghị định số 43/2006/NĐ-CP, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP và 6 nội dung của công tác quản lý tài chính với nhiều số liệu minh chứng giai đoạn 2012-2017. Trên cơ sở đó đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong quản lý tài chính.
Kết quả nghiên cứu và khuyến nghị của luận án có giá trị thực tiễn tham khảo cho hoạt động quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập đào tạo, bồi dưỡng trực thuộc Bộ Giao thông vận tải. Những nghiên cứu liên quan đến quản lý tài chính đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập thuộc/trực thuộc Bộ Tài chính: 12 - Đề tài cấp Bộ, Bộ Tài chính (2017) "Các giải pháp đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ đối với các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính" [25], nhóm tác giả Nguyễn Việt Cường và Phạm Thị Kim Vân đã nghiên cứu và làm rõ hơn các luận cứ khoa học về cơ chế tự chủ đối với đơn vị sự nghiệp công, chú trọng vào lĩnh vực giáo dục đại học và bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức. Phân tích, đánh giá rõ thực trạng cơ chế tự chủ đối với các cơ sở đào tạo đại học trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2011-2016. Đề xuất mục tiêu, quan điểm, định hướng, lộ trình và giải pháp đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ đối với các cơ sở đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2017-2020, định hướng đến 2025 theo tinh thần đổi mới tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP.
- Đề tài luận án tiến sĩ (2012), "Phân tích hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn kinh phí trong các đơn vị sự nghiệp đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính" [54], tác giả Bùi Tuấn Minh trên cơ sở xác định nội dung công tác quản lý và sử dụng nguồn kinh phí tại các đơn vị sự nghiệp đào tạo được tiến hành qua ba khâu: (i) Lập dự toán thu - chi, (ii) Chấp hành dự toán thu - chi và (iii) Quyết toán thu - chi hàng năm; thông qua sử dụng kết hợp các phương pháp phân tích (phương pháp phân tích tỷ lệ, phương pháp đánh giá, phương pháp loại trừ, phương pháp liên hệ), tác giả đã có những đánh giá, phân tích khá toàn diện về thực trạng huy động, sử dụng nguồn kinh phí và thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát tài chính trong các đơn vị sự nghiệp đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính giai đoạn 2007-2010. Từ đó, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp mang tính khả thi góp phân nâng cao kết quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp đào tạo trực thuộc Bộ Tài chính. - Đề tài luận án tiến sĩ (2020), "Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ Tài chính" [84], tác giả Lê Thế Tuyên đã hệ thống hóa, phân tích và phát triển thêm nhằm làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận cơ bản về: giáo dục đại học, giáo dục đại học công lập, và quản lý tài chính, quản lý tài chính các trường đại học công lập; vai trò, vị trí (hay hệ thống các quyền - lợi ích) của các chủ thể tham gia quản lý tài chính các trường đại học công lập; 13 kinh nghiệm của một số nước về quản lý tài chính các trường đại học công lập và bài học cho Việt Nam; thực tiễn trong nước và bài học cho Bộ Tài chính. Mặt khác, tác giả luận án đã đi sâu phân tích, đánh giá rõ nét thực trạng quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính trong giai đoạn 2013-2018 từ giác độ cơ quan chủ quản và các trường đại học công lập trực thuộc (là các chủ thể tham gia vận hành cơ chế).
Thông qua đó, tác giả đã dẫn chứng và chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế trong quá trình quản lý tài chính đối với các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính, chỉ ra những nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó, tác giả đề xuất một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc và một số giải pháp quản lý tài chính các trường đại học công lập, góp phần tăng cường công tác quản lý tài chính các trường đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính nói riêng, và các trường đại học công lập ở Việt Nam nói chung trong thời gian tới.