Luận án TS: Quản lý GDKNS cho SV CĐN tại TP.HCM - Nguyễn Thị Thu

Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên các trường cao đẳng nghề tại TP.HCM. Phân tích thực trạng, đề xuất giải pháp hiệu quả.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Tác giả

Nguyễn Thị Thu

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

224
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên cao đẳng nghề

Giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) là lĩnh vực phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới từ thập niên 1990. Các tổ chức quốc tế như WHO, UNICEF, World Bank đã xây dựng nhiều khung chương trình nhằm nâng cao năng lực ứng phó của người học trước thách thức cuộc sống. Tại Việt Nam, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành hướng dẫn GDKNS cho các cấp học từ mầm non đến trung học phổ thông. Tuy nhiên, nghiên cứu về GDKNS cho sinh viên các trường cao đẳng nghề (CĐN) vẫn còn hạn chế. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu (2020) thuộc Học viện Khoa học Xã hội là công trình đầu tiên đề cập đến quản lý hoạt động GDKNS cho sinh viên CĐN tại thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu này đặt trọng tâm vào việc xây dựng hệ thống giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả GDKNS, giúp sinh viên hình thành khả năng tâm lý xã hội, tư duy sáng tạo và kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn.

1.1. Khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống

Kỹ năng sống là tập hợp các khả năng tâm lý xã hội giúp cá nhân ứng phó hiệu quả trước đòi hỏi và thách thức của cuộc sống hàng ngày. Giáo dục kỹ năng sống là quá trình truyền đạt, rèn luyện những kỹ năng này thông qua các phương pháp tương tác, lấy người học làm trung tâm. Nội dung GDKNS bao gồm kỹ năng giao tiếp, ra quyết định, tư duy sáng tạo, quản lý cảm xúc, giải quyết xung đột và xây dựng mối quan hệ tích cực.

1.2. Tình hình nghiên cứu về GDKNS cho sinh viên cao đẳng nghề

Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã tập trung vào GDKNS cho thanh thiếu niên và học sinh phổ thông. Tại Việt Nam, các công trình chủ yếu xoay quanh GDKNS cho học sinh trung học. Riêng đối tượng sinh viên CĐN, đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh, gần như chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào. Đây là khoảng trống lớn trong bối cảnh lao động kỹ thuật đòi hỏi cả năng lực chuyên môn lẫn kỹ năng mềm.

II. Phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống tại các trường cao đẳng nghề

Nghiên cứu thực trạng tại các trường CĐN ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy nhiều vấn đề đáng quan tâm. Thứ nhất, hoạt động GDKNS chưa được xây dựng thành chương trình chính thức có hệ thống. Nội dung lồng ghép rời rạc, thiếu tính liên tục. Thứ hai, đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên chưa được đào tạo bài bản về phương pháp GDKNS. Thứ ba, cơ sở vật chất và kinh phí dành cho hoạt động này còn hạn chế. Thứ tư, sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và doanh nghiệp trong GDKNS chưa chặt chẽ. Sinh viên CĐN thường xuất phát từ hoàn cảnh kinh tế khó khăn, điểm đầu vào thấp, dẫn đến nhiều bất lợi về tâm lý và kỹ năng xã hội. Việc thiếu định hướng nghề nghiệp rõ ràng cùng áp lực tài chính khiến nhiều em dễ rơi vào trạng thái chán nản, thiếu động lực học tập. Quản lý hoạt động GDKNS vì vậy cần được đặt lên hàng đầu trong chiến lược đào tạo của các trường CĐN.

2.1. Những tồn tại trong công tác quản lý GDKNS

Các trường CĐN tại thành phố Hồ Chí Minh chưa xây dựng kế hoạch GDKNS dài hạn. Hoạt động chủ yếu mang tính thời vụ, tổ chức theo sự kiện chứ không theo lộ trình. Hệ thống đánh giá hiệu quả GDKNS chưa được thiết lập. Ngân sách phân bổ không đồng đều, nhiều trường ưu tiên đầu tư trang thiết bị kỹ thuật mà bỏ quên phát triển kỹ năng mềm cho sinh viên.

2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý GDKNS

Nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả quản lý GDKNS. Yếu tố bên trong bao gồm năng lực quản lý của ban giám hiệu, trình độ giảng viên, chương trình đào tạo. Yếu tố bên ngoài gồm chính sách nhà nước, yêu cầu doanh nghiệp, sự tham gia của gia đình và đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên. Sự thiếu đồng bộ giữa các yếu tố này làm giảm chất lượng GDKNS.

III. Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên cao đẳng nghề tại thành phố Hồ Chí Minh

Luận án đề xuất hệ thống giải pháp quản lý GDKNS trên bốn nguyên tắc: tính hệ thống, tính thực tiễn, tính khả thi và tính bền vững. Giải pháp thứ nhất là xây dựng chương trình GDKNS chính thức, tích hợp vào kế hoạch đào tạo chung. Giải pháp thứ hai là nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên thông qua các khóa tập huấn chuyên sâu về phương pháp GDKNS lấy người học làm trung tâm. Giải pháp thứ ba là tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng không gian trải nghiệm kỹ năng sống. Giải pháp thứ tư là thiết lập cơ chế phối hợp ba bên: nhà trường - gia đình - doanh nghiệp. Giải pháp thứ năm là ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và triển khai GDKNS. Mỗi giải pháp đi kèm điều kiện thực hiện cụ thể về nhân lực, tài chính và thời gian. Kết quả khảo nghiệm cho thấy các giải pháp đạt mức cần thiết và khả thi cao, được đa số chuyên gia và cán bộ quản lý đồng thuận.

3.1. Xây dựng chương trình GDKNS tích hợp và hệ thống đánh giá

Chương trình GDKNS cần được xây dựng theo chuẩn năng lực, phù hợp với đặc thù từng ngành nghề đào tạo. Nội dung bao gồm kỹ năng giao tiếp nơi làm việc, làm việc nhóm, quản lý thời gian, giải quyết vấn đề và ứng phó stress. Hệ thống đánh giá phải đa chiều, kết hợp tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng và đánh giá từ doanh nghiệp.

3.2. Nâng cao năng lực đội ngũ và tăng cường phối hợp đa bên

Giảng viên cần được bồi dưỡng phương pháp dạy học tương tác, kỹ thuật xây dựng tình huống và kỹ năng tư vấn tâm lý. Nhà trường phải ký kết hợp tác với doanh nghiệp để tổ chức thực tập, kiến tập giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng trong môi trường thực tế. Phụ huynh cần được mời tham gia các buổi hội thảo về GDKNS để đồng hành cùng con em.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu quản lý GDKNS

Nghiên cứu đã hoàn thành ba mục tiêu chính. Một là, xây dựng cơ sở lý luận toàn diện về quản lý hoạt động GDKNS cho sinh viên CĐN. Hai là, đánh giá thực trạng quản lý GDKNS tại các trường CĐN thành phố Hồ Chí Minh, chỉ rõ ưu điểm và hạn chế. Ba là, đề xuất hệ thống giải pháp quản lý khả thi, được khảo nghiệm bởi chuyên gia. Kết luận khẳng định GDKNS là nhu cầu cấp thiết, không thể tách rời đào tạo nghề. Quản lý hiệu quả hoạt động này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của toàn hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển cho các trường CĐN trong cả nước, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực kỹ thuật đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

4.1. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án đóng góp vào kho tàng khoa học bằng việc hệ thống hóa lý luận về GDKNS cho sinh viên CĐN, một đối tượng chưa được nghiên cứu trước đó. Về thực tiễn, hệ thống giải pháp quản lý cung cấp công cụ hữu ích cho ban giám hiệu các trường CĐN áp dụng, cải thiện chất lượng đào tạo toàn diện.

4.2. Hướng phát triển và kiến nghị cho tương lai

Nghiên cứu kiến nghị Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành khung chương trình GDKNS chuẩn cho hệ thống giáo dục nghề nghiệp. Các trường CĐN nên thành lập đơn vị chuyên trách về GDKNS. Nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng phạm vi địa lý và đánh giá tác động dài hạn của các giải pháp quản lý GDKNS đã triển khai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên các trường cao đẳng nghề tại thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục các công trình khoa học đƣợc công bố, danh mục biểu bảng, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận án gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên các trƣờng cao đẳng nghề; Chƣơng 2: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên các trƣờng cao đẳng nghề; Chƣơng 3: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên các trƣờng cao đẳng nghề tại thành phố Hồ Chí Minh; Chƣơng 4: Giải pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên các trƣờng cao đẳng nghề tại thành phố Hồ Chí Minh. 9 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO SINH VIÊN CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ 1. Hƣớng nghiên cứu về kỹ năng sống Có khá nhiều các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống (KNS) trên thế giới và ở Việt Nam ở tất cả các cấp học từ mẫu giáo tới cao đẳng, đại học ở nhiều góc độ khác nhau. Các nghiên cứu góp phần rất quan trọng vào quá trình giáo dục học sinh, sinh viên nói riêng và vào sự phát triển của xã hội loài ngƣời nói chung.

Trƣớc hết, phải kể đến sự đóng góp quan trọng của các nghiên cứu của các tổ chức chính phủ và phi chính phủ khắp nơi trên thế giới nhƣ: Tổ chức Giáo dục Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) hay Tổ chức Y tế Thế giới (WHO). Những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ “Kỹ năng sống” đã xuất hiện trong một số chƣơng trình giáo dục của UNICEF, trƣớc tiên là chƣơng trình “Giáo dục những giá trị sống” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này mong muốn thống nhất đƣợc một quan niệm chung về KNS cũng nhƣ đƣa ra đƣợc một bảng danh mục các KNS cơ bản mà thế hệ trẻ cần có. Tên gọi kỹ năng này vẫn là một chủ đề thảo luận của các nhà giáo dục, chính phủ các nƣớc, các tổ chức quốc tế và ngƣời sử dụng lao động.

Một số gọi là kỹ năng sống; số khác gọi là kỹ năng mềm, năng lực xã hội, năng lực chính yếu; còn một số lại gọi là kỹ năng thế kỷ 21 hay kỹ năng nghề nghiệp; và gần đây là kỹ năng cho tiến bộ xã hội [79, p. Tuy nhiên, thuật ngữ “Kỹ năng sống” hiện đƣợc sử dụng rộng rãi nhất. Theo báo cáo của UNESCO, Paris (2004), từ những năm 60, thuật ngữ KNS đã đƣợc Winthrop R. Adkins - nhà tâm lí học - đƣa ra khi nghiên cứu trên 350.000 ngƣời tham gia thử nghiệm trong chƣơng trình giáo dục kỹ năng nghề nghiệp, coi đó nhƣ một khả năng xã hội rất quan trọng trong việc phát triển cá nhân [88, p.

Báo cáo cũng chỉ ra một số vấn đề trọng tâm trong cách tiếp cận KNS đối với giáo dục và đề xuất tổng hợp các nguyên tắc và hƣớng dẫn cơ bản để lập kế hoạch giáo dục dựa trên 10 KNS, cũng nhƣ thực hiện và đánh giá KNS. Qua báo cào này, UNESCO đã thiết lập đƣợc khuôn khổ chung cho giáo dục kỹ năng sống (GDKNS) cho mọi ngƣời và góp phần hỗ trợ GDKNS cho các lĩnh vực học tập khác nhau. Hội đồng Hội nghị Canada (The Conference Board of Canada) (2017) đƣa ra danh sách các kỹ năng nghề nghiệp cho thế kỷ 21 bao gồm ba nhóm kỹ năng: (i) Nhóm kỹ năng cơ bản gồm: Kỹ năng giao tiếp, Quản lý thông tin, Sử dụng con số, Suy nghĩ và giải quyết vấn đề; (ii) Nhóm kỹ năng quản lý cá nhân nhƣ: Thể hiện thái độ và hành vi tích cực, Có trách nhiệm, Biết thích nghi, Không ngừng học và lao động an toàn; và (iii) Nhóm kỹ năng làm việc nhóm bao gồm: Kỹ năng làm việc với người khác và Kỹ năng tham gia vào các dự án và nhiệm vụ được giao [86, pp. Hội đồng Kinh doanh Úc (The Business Council of Australia) và Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Úc (The Australian Chamber of Commerce and Industry) đã xuất bản cuốn “Kỹ năng hành nghề cho tương lai” với 08 kỹ năng hành nghề ngƣời sử dụng lao động yêu cầu phải có: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng làm việc nhóm, Kỹ năng giải quyết vấn đề, Kỹ năng sáng tạo và mạo hiểm, Kỹ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc, Kỹ năng quản lý bản thân, Kỹ năng học tập và Kỹ năng công nghệ [Dẫn theo 29, tr.

Bộ Lao động Mỹ (The U. Department of Labor) cùng Hiệp hội Đào tạo Phát triển Mỹ (The American Society of Training and Development), Cơ quan phụ trách Chƣơng trình và Chất lƣợng của Anh (Qualification and Curriculum Authority) và Cơ quan Phát triển nguồn nhân lực Singapore (Workforce Development Agency) đã nghiên cứu và đƣa ra các kỹ năng cơ bản để thành công trong công việc, trong đó có những kỹ năng nhƣ: Kỹ năng giải quyết vấn đề, Tư duy sáng tạo, Giao tiếp ứng xử và thiết lập quan hệ, Làm việc nhóm, Tự học và nâng cao năng lực cá nhân, Kỹ năng tổ chức công việc; v.v [Dẫn theo 29, tr. Không có nhiều nghiên cứu về kỹ năng sống cho sinh viên (SV). Đáng kể có hai nghiên cứu khá quan trọng của Schultz, Chweu (2012) và Rasnack (2011).

Các nghiên cứu đánh giá sự tác động của các chƣơng trình KNS cho SV và chỉ ra rằng các chƣơng trình này hỗ trợ rất nhiều trong học tập và cuộc sống hàng ngày của SV [Dẫn theo 25, tr. 11 Nhìn chung, các tổ chức trên thế giới đã quan tâm tới việc hình thành các KNS quan trọng và cần thiết cho con ngƣời ở mọi lứa tuổi. Đặc biệt, với kỹ năng cho công việc, các tổ chức đều nhấn mạnh tới những kỹ năng cơ bản nhất nhƣ: Kỹ năng giao tiếp, Kỹ năng giải quyết vấn đề, Kỹ năng tư duy sáng tạo, Kỹ năng tự học và nhận thức bản thân và Kỹ năng làm việc nhóm. Điều đó cho thấy rằng đây là những kỹ năng quan trọng nhất mà ngƣời lao động cần phải có và cũng là mục đích nghiên cứu cho việc phát triển những kỹ năng này cho SV trong môi trƣờng đại học và cao đẳng.

Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của giáo dục thế giới trong việc chú trọng rèn luyện KNS cho thế hệ trẻ, khái niệm “Kỹ năng sống” cũng dần đƣợc biết đến từ những năm 90 của thế kỷ XX và đƣợc Chính phủ, các Bộ, ngành quan tâm đặc biệt. Từ năm 2003, đã có một số công trình nghiên cứu về KNS ở Việt Nam của nhiều học giả và nhà nghiên cứu. Tác giả Nguyễn Thị Oanh (2005), (2008) với các ấn phẩm về KNS cho tuổi vị thành niên đã đề cập đến những kỹ năng tâm lý xã hội cơ bản của lứa tuổi này và đƣa ra 10 cách thức rèn luyện những KNS đó [50], [51]. Một nghiên cứu nghiêm túc về KNS đã đƣợc công bố là công trình luận án của Nguyễn Thị Huệ (2012).

Nghiên cứu đã chỉ ra ba nhóm KNS cơ bản phải giáo dục cho học sinh trung học cơ sở, bao gồm: (i) Nhóm KNS hướng vào bản thân, (ii) Nhóm KNS hướng vào các quan hệ và (iii) Nhóm KNS hướng vào công việc. Luận án cũng nêu lên thực trạng nhận thức của học sinh về khái niệm, vai trò của KNS, và về ý nghĩa của việc hình thành và phát triển KNS. Biểu hiện và mức độ của các nhóm KNS cũng đƣợc khắc họa rõ nét trong luận án. Luận án cũng đề cập một số yếu tố ảnh hƣởng đến thực trạng nhƣ: phƣơng pháp giáo dục con cái trong gia đình, chƣơng trình giáo dục học sinh trong nhà trƣờng và nhận thức của học sinh, từ đó đề xuất một số biện pháp tâm lý sƣ phạm GDKNS cho học sinh trung học cơ sở [29].

Nguyễn Thị Hạt với “Một số kỹ năng học tập cần thiết cho sinh viên theo phương thức đào tạo hệ thống tín chỉ”; Nguyễn Thị Thanh với “Kỹ năng học hợp tác với yêu cầu đào tạo tín chỉ ở các trường đại học”; Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu (2010) với “Kết quả tự đánh giá của sinh viên các trường đại học 12 tại thành phố Hồ Chí Minh về kỹ năng sống của cá nhân”; Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu, Nguyễn Thị Uyên Thi (2010) với “Một số nguyên nhân trong thực trạng kỹ năng sống của sinh viên các trường đại học tại thành phố Hồ Chí Minh” đã chỉ ra thực trạng KNS của SV và những KNS cần thiết phải giáo dục cho SV để các em theo kịp với nhịp sống hiện đại [Dẫn theo 25, tr. Như vậy, từ năm 1990 đến nay, tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về KNS hƣớng đến nhiều đối tƣợng khác nhau. Những nghiên cứu nhằm đƣa ra các KNS cần thiết, đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng xã hội về KNS. Tuy vậy, chỉ có những nghiên cứu dành cho đối tƣợng là SV các trƣờng đại học, còn chƣa có nhiều nghiên cứu cho SV các trƣờng cao đẳng nghề (CĐN).

Hƣớng nghiên cứu về hoạt động giáo dục kỹ năng sống Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cũng đƣợc đặc biệt quan tâm nghiên cứu. Theo báo cáo của UNESCO (1990) tại Hội nghị thế giới tổ chức tại Jomtien với chủ đề “Giáo dục dành cho tất cả mọi người”, các nhà giáo dục đã lên tiếng và quan tâm về nhu cầu GDKNS cho mọi ngƣời ở khắp nơi trên thế giới. Tại hội nghị, họ nhấn mạnh tới các kỹ năng đƣợc dạy cho ngƣời học có vai trò rất quan trọng liên quan tới cuộc sống của mỗi cá nhân [60]. Các tổ chức quốc tế nhƣ UNESCO, Paris (2004) và WHO (1999) cũng dành sự quan tâm đặc biệt tới việc nghiên cứu GDKNS.

Họ đã tổ chức các hội nghị, cuộc họp giữa các cơ quan liên hiệp quốc nhằm mục đích trao đổi chia sẻ các hoạt động GDKNS của họ, thảo luận một số vấn đề trọng tâm trong phƣơng pháp tiếp cận với KNS, đề xuất tổng hợp các nguyên tắc và hƣớng dẫn cơ bản cho việc lên kế hoạch giáo dục dựa trên KNS toàn diện và lâu dài với kinh nghiệm quốc gia và khu vực với sự tham gia của ngƣời học, phụ huynh, và cộng đồng xã hội; cũng nhƣ việc thực hiện và đánh giá, giám sát kết quả của cách tiếp cận KNS đối với giáo dục để bắt kịp với cuộc sống kinh tế và xã hội hiện đại [88], [94].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ