Tổng quan luận án
Luận án Quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị của nghiên cứu sinh Dương Thị Vân Anh được thực hiện tại Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, chuyên ngành Quản lý văn hóa (mã số 9319042), bảo vệ năm 2022, dưới sự hướng dẫn của PGS. Trịnh Thị Minh Đức và TS. Lê Thị Thu Hà.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tỉnh Quảng Trị sở hữu bốn di tích quốc gia đặc biệt (QGĐB) gắn liền với lịch sử kháng chiến chống Mỹ: Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972, và Di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh. Công tác quản lý các di tích này bộc lộ nhiều hạn chế: phân cấp quản lý chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn, có sự chồng chéo trong quản lý, các hoạt động chống xuống cấp và xử lý lấn chiếm đất đai còn nhiều bất cập, công tác thanh tra chưa được thực hiện thường xuyên, và lượng khách tham quan chưa tương xứng với tiềm năng.
Các công trình nghiên cứu trước chủ yếu tiếp cận từ góc độ đánh giá giá trị lịch sử của từng di tích riêng lẻ, chưa có công trình khoa học chuyên biệt nào nghiên cứu hệ thống về công tác quản lý các di tích QGĐB tại địa bàn này, đặc biệt chưa áp dụng lý thuyết hệ thống để phân tích toàn bộ bộ máy quản lý trong một chỉnh thể thống nhất.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: sử dụng lý thuyết hệ thống để khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô trong quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị từ khi được công nhận đến cuối năm 2020, từ đó đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.
Luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu:
- Chức năng, nhiệm vụ cụ thể của các tiểu hệ thống trong hệ thống quản lý các di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị được xác định như thế nào? Việc phân công theo các chức năng nhiệm vụ đó đã phát huy hết hiệu quả hay chưa?
- Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng của hệ thống quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị, kết quả quản lý của các tiểu hệ thống đã ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung của cả hệ thống như thế nào?
- Những hạn chế cụ thể bộc lộ trong quá trình quản lý là gì và cần có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị?
Giả thuyết khoa học
Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị gồm hai tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô; các tiểu hệ thống này hoạt động theo phân cấp chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, nhưng trong quá trình hoạt động bộc lộ nhiều tồn tại hạn chế, từ đó ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chung của toàn bộ hệ thống.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng: Công tác quản lý các di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2013–2014 (thời điểm các di tích được xếp hạng QGĐB) đến năm 2020.
- Phạm vi không gian: Ba di tích QGĐB — Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải (huyện Vĩnh Linh và Gio Linh), Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (huyện Vĩnh Linh), và Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 (thị xã Quảng Trị). Di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh không được đưa vào phạm vi khảo sát vì thuộc quyền quản lý của Binh đoàn 12, Bộ Quốc phòng, nằm ngoài hệ thống quản lý nhà nước địa phương mà luận án phân tích.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Nghiên cứu quốc tế về quản lý di sản văn hóa:
Peter Howard trong Di sản: Quản lý diễn giải và bản sắc xác định quản lý di sản bắt đầu từ khoảng thế kỷ XIX với mục đích bảo tồn vì lợi ích công chúng, phân loại di sản thành các lĩnh vực: thiên nhiên, cảnh quan, đài kỷ niệm, khu di tích, đồ tạo tác, hoạt động và con người. Quan điểm hiện đại của G. Larkham và Zhan Chang Yuan (trong Quản lý công nghiệp văn hoá) coi di sản văn hóa như một ngành công nghiệp đặc thù. Authur Perdersen trong Tài liệu hướng dẫn thực tiễn cho các nhà quản lý khu di sản trên thế giới đề ra các phương án quản lý di sản trước tác động của du lịch. Brian Garrod và Alan Fayall trong nghiên cứu về quản lý di sản và du lịch nhấn mạnh sự cần thiết cân bằng giữa bảo tồn và khai thác.
Nghiên cứu trong nước về quản lý di tích lịch sử văn hóa:
Tác giả Lưu Trần Tiêu trong Mấy vấn đề hoạt động tu bổ, phục hồi di tích lịch sử văn hoá xác định ba mặt của hoạt động bảo tồn di tích: bảo vệ pháp lý và khoa học, bảo vệ vật chất kỹ thuật, và sử dụng phục vụ nhu cầu xã hội. Tác giả Đặng Văn Bài trong bài Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn DSVH hệ thống hóa nội dung quản lý nhà nước gồm ban hành văn bản pháp quy, phân cấp quản lý và đầu tư ngân sách. Tác giả Nguyễn Thế Hùng (chủ nhiệm đề tài cấp bộ Bảo vệ DSVH trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế) đề xuất sáu nhóm giải pháp bảo vệ và phát huy giá trị di sản. Cuốn Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế (Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn đồng chủ biên) phân tích thực trạng quản lý di tích lịch sử văn hóa từ hai khía cạnh: quản lý nhà nước và phát triển sự nghiệp. Giáo trình Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch do Lê Hồng Lý chủ biên đề cập đến vai trò của di sản với sự phát triển du lịch.
Nghiên cứu quản lý di tích tại địa phương cụ thể:
Tác giả Phạm Thị Thu Hương trong Nghiên cứu thực trạng và giải pháp bảo tồn DSVH tại các vùng đang trong quá trình CNH-ĐTH ở đồng bằng sông Hồng phân tích tác động hai chiều của công nghiệp hóa – đô thị hóa đến DSVH. Luận án tiến sĩ Quản lý di tích lịch sử văn hóa ở Bắc Ninh trong quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa của Trần Đức Nguyên nghiên cứu trường hợp Bắc Ninh. Tác giả Nguyễn Chí Bền (chủ biên) trong Bảo tồn, phát huy giá trị DSVH vật thể Thăng Long – Hà Nội (thuộc chương trình KX.09) phân tích lý luận và kinh nghiệm bảo tồn di sản Thăng Long. Luận án tiến sĩ Quản lý di sản văn hoá và phát triển du lịch ở đô thị cổ Hội An, tỉnh Quảng Nam của Nguyễn Thị Thu Hà nghiên cứu mối quan hệ hữu cơ giữa quản lý di sản và phát triển du lịch. Luận án tiến sĩ Quản lý khu di sản Thành Nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa của Nguyễn Bá Linh (2018) phân tích thực trạng và xây dựng mô hình quản lý khu di sản thế giới. Luận án tiến sĩ Quản lý di tích lịch sử cách mạng ATK của Hà Thúy Mai nghiên cứu quản lý tại các di tích ATK Tân Trào, Định Hóa, Chợ Đồn từ góc độ quản lý nhà nước và sự tham gia của cộng đồng.
Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết hệ thống:
Lê Ngọc Dũng (1995) trong Tổ chức quản lý, khai thác các di tích và danh lam thắng cảnh ở Việt Nam trong cơ chế thị trường (Luận án Phó Tiến sĩ, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) tiếp cận hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý di tích. Nguyễn Xuân Hồng (2020) trong Quản lý hoạt động tu bổ, tôn tạo di tích kiến trúc chùa Việt ở Bắc Bộ (Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) sử dụng lý thuyết hệ thống kết hợp lý thuyết mô hình quản lý theo quá trình, xác định bốn nội dung cơ bản của quản lý hoạt động tu bổ di tích.
Nghiên cứu trực tiếp về ba di tích QGĐB ở Quảng Trị:
Phần lớn các công trình về ba di tích này tập trung vào lịch sử hình thành, giá trị và các sự kiện liên quan, không phân tích quản lý như một hệ thống. Đáng chú ý có luận án tiến sĩ Thành Quảng Trị trong tiến trình lịch sử dân tộc của Nguyễn Bình (2003); Luận án tiến sĩ Khu phi quân sự - vỹ tuyến 17 trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước những năm 1954 – 1967 của Hoàng Chí Hiếu (2012); và Luận văn thạc sĩ Hệ thống làng hầm ở Vĩnh Linh trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1965 – 1973) của Trần Thị Thanh Tâm (2010). Các hồ sơ di tích của Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng Quảng Trị (2013, 2014) chỉ đề cập đến quản lý ở mức sơ lược.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Chưa có công trình khoa học nào xem xét bộ máy quản lý di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị trong một chỉnh thể thống nhất dưới khung lý thuyết hệ thống, phân tích cụ thể các tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô, làm rõ điểm mạnh, điểm yếu trong từng khâu quản lý ở cấp địa phương (từ cấp tỉnh trở xuống) để xây dựng mô hình quản lý phù hợp với thực tiễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết và khung phân tích
Lý thuyết trung tâm được áp dụng là lý thuyết hệ thống. Dựa trên lý thuyết này, luận án xác định hệ thống quản lý di tích QGĐB ở Quảng Trị gồm hai tiểu hệ thống: tiểu hệ thống quản lý vĩ mô (các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp tỉnh) và tiểu hệ thống quản lý vi mô (các ban quản lý di tích trực tiếp tại điểm). Trong mỗi tiểu hệ thống lại có các thành tố cấu thành bao gồm: tiểu hệ thống chính trị (chính sách các cấp), tiểu hệ thống kinh tế (nguồn kinh phí), tiểu hệ thống nhân sự, và các tiểu hệ thống chức năng khác. Khung phân tích được thiết lập bằng cách lắp chức năng và nhiệm vụ theo quy định pháp luật vào từng vị trí trong hệ thống, từ đó nhận diện những khâu yếu và những khâu mạnh.
Luận án đồng thời sử dụng hệ thống các khái niệm từ Luật Di sản văn hóa (2001, sửa đổi bổ sung 2009), Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 10382:2014, công ước UNESCO 1972 về di sản thế giới, và định nghĩa của tác giả Nguyễn Quốc Hùng (2012) về di tích cách mạng – kháng chiến.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng tổ hợp phương pháp thuộc hướng tiếp cận hỗn hợp (định tính là chủ đạo, kết hợp xử lý dữ liệu thống kê):
- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê và phân loại: tổng hợp số liệu về nguồn vốn đầu tư, số dự án bảo tồn, lượng khách tham quan qua các năm.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: kết hợp các hệ quy chiếu của lịch sử, kinh tế, khảo cổ học, kinh tế học.
- Phương pháp điều tra xã hội học: sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính gồm quan sát, phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn nhóm với các đối tượng là cán bộ quản lý, nhân viên khu di tích, cộng đồng người dân và khách du lịch.
- Phương pháp tham vấn chuyên gia: xin ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý di tích về tổ chức bộ máy và giải pháp nâng cao hiệu quả.
- Phương pháp mô hình hóa: dựa trên kết quả nghiên cứu thực tiễn, tác giả khái quát và xây dựng mô hình quản lý phù hợp.
- Phương pháp so sánh: so sánh các mô hình quản lý di tích QGĐB ở Việt Nam để tìm điểm mạnh, điểm yếu.
- Khảo sát điền dã: thu thập thông tin, số liệu tại các điểm di tích và các cơ quan quản lý.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu bao gồm: văn bản pháp luật và nghị quyết của các cấp; báo cáo của các tổ chức quản lý; đề án, dự án đã thực hiện; hồ sơ di tích (lưu hành nội bộ) của Trung tâm Bảo tồn Di tích và Danh thắng Quảng Trị (2013, 2014); số liệu thống kê về nguồn vốn, dự án đầu tư, lượng khách tham quan; tài liệu trong và ngoài nước về lý luận quản lý di sản; và thông tin thu được qua phỏng vấn định tính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận về quản lý di tích quốc gia đặc biệt, khái quát về các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị
Chương này thực hiện ba nhiệm vụ: tổng quan tài liệu nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận, và giới thiệu khái quát ba di tích QGĐB được khảo sát.
Phần tổng quan xác lập khoảng trống tri thức, chỉ ra rằng nghiên cứu áp dụng lý thuyết hệ thống vào quản lý di sản văn hóa còn ít và chưa triển khai đầy đủ theo khung lý thuyết đã nêu.
Phần cơ sở lý luận hệ thống hóa các khái niệm: di sản văn hóa (theo Công ước UNESCO 1972 và Luật DSVH sửa đổi 2009), di tích lịch sử (theo TCVN 10382:2014 và Luật DSVH), di tích cách mạng – kháng chiến (theo quan điểm của Nguyễn Quốc Hùng 2012 và Phạm Xanh), di tích quốc gia đặc biệt (theo Khoản 3, Mục 10, Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung Luật DSVH 2009), và khái niệm quản lý. Tác giả luận án tự xác định quan điểm riêng: di tích cách mạng – kháng chiến là những di tích có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học chứng minh cho quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc từ đầu thế kỷ XX đến nay, và xếp ba di tích QGĐB ở Quảng Trị vào loại hình này.
Phần khái quát di tích giới thiệu lịch sử hình thành, hiện trạng và giá trị của ba di tích:
- Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải: Được xếp hạng QGĐB theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Cụm di tích gồm cầu Hiền Lương (xây dựng và tu sửa qua nhiều giai đoạn từ 1928 đến 1974), Nhà Liên hợp, cột cờ Hiền Lương, hệ thống loa phóng thanh, các đồn công an và các bến đò dọc sông Bến Hải. Di tích gắn với sự kiện Hiệp định Genève 1954, gần 21 năm chia cắt hai miền Nam – Bắc.
- Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh: Được xếp hạng QGĐB theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014. Toàn bộ hệ thống gồm 114 địa đạo với tổng chiều dài hơn 40 km, phân bố ở gần 70 làng của 15 xã, thị trấn ở Vĩnh Linh. Mỗi đường trục địa đạo cao trung bình 1,6–1,7 m, rộng 0,8–1,1 m; cấu trúc hình chữ Z hoặc vòng cung. Đỉnh điểm có đến 1.200 người sống dưới lòng đất, 63 em bé được sinh ra trong địa đạo. Trong giai đoạn 1965–1968, Vĩnh Linh chuyển an toàn hơn 1.000 lượt bộ đội và hàng chục vạn tấn quân trang, quân dụng chi viện cho chiến trường miền Nam, đồng thời bắn rơi 293 máy bay và bắn chìm 69 tàu chiến các loại.
- Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972: Được xếp hạng QGĐB theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Phân bố trên địa bàn các huyện Triệu Phong, Hải Lăng và thị xã Quảng Trị, cách trung tâm tỉnh lỵ Đông Hà khoảng 15 km về phía Nam.
Chương 2: Thực trạng quản lý các di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị
Chương này là phần trọng tâm của luận án, khảo sát và đánh giá thực trạng hai tiểu hệ thống quản lý trong giai đoạn 2013–2020.
Luận án hệ thống hóa toàn bộ hệ thống các chủ thể quản lý gồm tiểu hệ thống vĩ mô (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở VHTT&DL tỉnh Quảng Trị; Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng tỉnh – TTQLDT&BT) và tiểu hệ thống vi mô (Ban Quản lý di tích tại từng điểm). Cơ cấu cán bộ TTQLDT&BT tỉnh Quảng Trị được phân tích theo trình độ đào tạo.
Thực trạng quản lý được đánh giá theo các nội dung:
- Nguồn vốn đầu tư bảo tồn: Luận án thống kê nguồn vốn đầu tư cho bảo tồn và phát huy di tích QGĐB giai đoạn 1996–2017, các dự án đầu tư giai đoạn 2018–2020, và kế hoạch bảo quản, tu sửa, sưu tầm, bổ sung hiện vật hàng năm giai đoạn 2013–2020.
- Lượng khách tham quan: Số liệu thống kê thể hiện xu hướng tăng trưởng của lượng khách đến Quảng Trị và đến từng di tích QGĐB qua các năm. Luận án lập bảng riêng cho số lượng khách tham quan di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải, Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh, và Thành cổ Quảng Trị.
Đánh giá chung xác định những thành tựu và những hạn chế của công tác quản lý, chỉ rõ những khâu yếu trong hệ thống như phân cấp quản lý chưa hợp lý, chồng chéo chức năng, bất cập trong bảo vệ khoanh vùng di tích, và hạn chế trong thu hút khách tham quan.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị trong thời gian tới
Chương này trình bày cơ sở để xây dựng giải pháp và hệ thống các giải pháp cụ thể. Tác giả nêu các quan điểm và căn cứ (bao gồm định hướng phát triển của địa phương, tình hình thực tiễn và kết quả phân tích ở chương 2) trước khi đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý. Các giải pháp hướng đến việc củng cố hệ thống quản lý theo phương án tối ưu nhất, bảo tồn và phát huy giá trị các di tích trong xu thế hiện đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học (lý luận)
Luận án tự xác định là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách hệ thống về công tác quản lý các di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị. Việc triển khai nghiên cứu bằng cách áp dụng lý thuyết hệ thống cung cấp một cách tiếp cận mới trong nghiên cứu quản lý di tích: thay vì xem xét từng khía cạnh rời rạc, luận án xem bộ máy quản lý như một hệ thống gồm nhiều tiểu hệ thống tương tác, từ đó có thể nhận diện những khâu yếu một cách có căn cứ và đề xuất giải pháp có tính hệ thống. Kết quả nghiên cứu có thể trở thành tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý di sản văn hóa, di tích lịch sử văn hóa và các cơ sở đào tạo về quản lý di sản văn hóa.
Đóng góp về mặt thực tiễn
Luận án khái quát chi tiết những mặt đạt được và chưa đạt được trong công tác quản lý các di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị từ năm 2013 đến năm 2020 — tức là toàn bộ giai đoạn sau khi các di tích được xếp hạng. Trên cơ sở những nhận định khách quan từ kết quả nghiên cứu, các giải pháp đề xuất được trình bày như một kênh tham khảo mang tính ứng dụng thực tế để các cấp quản lý có thể tham khảo áp dụng trong công tác quản lý các di tích QGĐB ở tỉnh Quảng Trị.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
Luận án đề xuất các giải pháp đồng bộ mang tính hệ thống tập trung vào: hoàn thiện phân cấp quản lý, làm rõ chức năng nhiệm vụ của từng chủ thể trong hệ thống, nâng cao nguồn nhân lực, tăng cường thanh tra kiểm tra, cải thiện công tác thu hút khách tham quan, và bảo vệ khoanh vùng di tích một cách hiệu quả hơn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Luận án giới hạn phạm vi khảo sát ở ba trong bốn di tích QGĐB của tỉnh, không bao gồm các địa điểm thuộc di tích Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh trên địa bàn tỉnh Quảng Trị vì lý do thuộc quyền quản lý của Binh đoàn 12, Bộ Quốc phòng. Đây là giới hạn có chủ đích và được tác giả giải thích rõ. Về hướng nghiên cứu tiếp theo, xuất phát từ phạm vi của luận án, có thể mở rộng nghiên cứu sang cơ chế quản lý di tích thuộc quân đội; so sánh mô hình quản lý di tích QGĐB giữa các địa phương; hoặc nghiên cứu chuyên sâu về vai trò của cộng đồng địa phương trong bảo tồn các di tích kháng chiến.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo đối với các nhóm đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Quản lý văn hóa, Di sản văn hóa, Văn hóa học: phần cơ sở lý luận về hệ thống khái niệm và việc vận dụng lý thuyết hệ thống vào phân tích quản lý di sản là phần đáng tham khảo để xây dựng khung phân tích cho các nghiên cứu tương tự.
- Cán bộ quản lý di sản văn hóa tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Quản lý di tích và Bảo tàng, Ban Quản lý di tích cấp điểm — đặc biệt tại các tỉnh có di tích QGĐB là di tích cách mạng – kháng chiến: phần đánh giá thực trạng theo hai tiểu hệ thống vĩ mô và vi mô và phần giải pháp là phần có tính ứng dụng thực tiễn cao.
- Người làm chính sách trong lĩnh vực bảo tồn di sản, phân cấp quản lý di tích cấp địa phương: các phân tích về bất cập trong phân cấp quản lý và chồng chéo chức năng là cơ sở tham chiếu để điều chỉnh cơ chế.
- Nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa quan tâm đến lịch sử kháng chiến chống Mỹ ở Quảng Trị: phần khái quát giá trị và hiện trạng ba di tích QGĐB có tập hợp số liệu và tư liệu hữu ích.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao luận án chỉ nghiên cứu ba trong bốn di tích QGĐB ở Quảng Trị?
Di tích thứ tư — Đường Trường Sơn – Đường Hồ Chí Minh đoạn đi qua tỉnh Quảng Trị — thuộc quyền quản lý của Binh đoàn 12, Bộ Quốc phòng, không thuộc hệ thống quản lý nhà nước địa phương mà luận án tập trung phân tích (từ cấp tỉnh trở xuống). Do đó, việc đưa di tích này vào phạm vi khảo sát sẽ không phù hợp với khung phân tích đã xác định.
2. Hệ thống làng hầm Vĩnh Linh gồm bao nhiêu địa đạo và có quy mô như thế nào?
Đề tài khoa học cấp tỉnh Điều tra, khảo sát và đánh giá hệ thống làng hầm Vĩnh Linh (BQL Di tích – Danh thắng Quảng Trị, 1999–2000) thống kê được trên địa bàn huyện Vĩnh Linh có 114 địa đạo với tổng chiều dài hơn 40 km, phân bố ở gần 70 làng của 15 xã, thị trấn. Sau chiến tranh, phần lớn đã bị vùi lấp hoặc bịt kín; chỉ địa đạo Vịnh Mốc và hai địa đạo thuộc hệ thống Hiền Dũng (Vĩnh Hòa) còn có khả năng bảo tồn tương đối nguyên vẹn.
3. Các di tích QGĐB ở Quảng Trị được xếp hạng vào thời điểm nào?
Di tích Đôi bờ Hiền Lương – Bến Hải và Di tích Thành cổ Quảng Trị và những địa điểm lưu niệm sự kiện 81 ngày đêm năm 1972 được xếp hạng QGĐB theo Quyết định số 2383/QĐ-TTg ngày 09/12/2013. Di tích Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh được xếp hạng theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014. Phạm vi thời gian khảo sát của luận án là từ năm 2013–2014 (thời điểm xếp hạng) đến năm 2020.
4. Lý thuyết hệ thống được vận dụng như thế nào trong phân tích quản lý di tích?
Luận án thiết lập khung phân tích bằng cách xác định hệ thống quản lý di tích QGĐB gồm hai tiểu hệ thống vĩ mô (Bộ VHTT&DL, Sở VHTT&DL, TTQLDT&BT tỉnh) và vi mô (Ban Quản lý di tích tại điểm), sau đó lắp các chức năng và nhiệm vụ theo quy định pháp luật vào từng vị trí. Qua đó nhận diện những thành công và hạn chế của từng tiểu hệ thống, đồng thời xem xét ảnh hưởng của kết quả vận hành từng tiểu hệ thống đến hiệu quả chung của toàn bộ hệ thống.
5. Địa đạo Vịnh Mốc đóng vai trò gì trong cuộc kháng chiến và có những dữ kiện lịch sử cụ thể nào được luận án dẫn lại?
Địa đạo Vịnh Mốc và hệ thống làng hầm Vĩnh Linh là nơi trú ẩn, sinh sống và chiến đấu của quân và dân Vĩnh Linh trong khoảng 2.000 ngày đêm sống dưới lòng đất; lúc đông nhất có đến 1.200 người sinh sống trong địa đạo và 63 em bé được sinh ra tại đây. Trong giai đoạn 1965–1968, Vĩnh Linh huy động trên 10.000 ngày công để chuyển hàng nghìn tấn vũ khí lương thực tiếp tế cho đảo Cồn Cỏ, đồng thời chuyển an toàn hơn 1.000 lượt bộ đội và hàng chục vạn tấn quân trang, quân dụng chi viện cho chiến trường miền Nam. Quân và dân Vĩnh Linh bắn rơi 293 máy bay và bắn chìm, bắn cháy 69 tàu chiến các loại của địch.
Kết luận
Luận án Quản lý di tích lịch sử quốc gia đặc biệt ở tỉnh Quảng Trị của Dương Thị Vân Anh (2022) tiếp cận công tác quản lý ba di tích QGĐB tại tỉnh Quảng Trị trong giai đoạn 2013–2020 từ góc độ lý thuyết hệ thống, phân tích cấu trúc và vận hành của hai tiểu hệ thống quản lý vĩ mô và vi mô. Trên cơ sở tổng hợp số liệu về đầu tư bảo tồn và lượng khách tham quan, kết hợp với khảo sát định tính và tham vấn chuyên gia, luận án xác định những thành tựu và những hạn chế cụ thể trong từng khâu của hệ thống quản lý. Những hạn chế chủ yếu gồm phân cấp quản lý chưa phù hợp, chồng chéo chức năng, bất cập trong bảo vệ khoanh vùng di tích và thu hút khách tham quan. Luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý các di tích này trong giai đoạn tiếp theo, đồng thời cung cấp một khung phân tích hệ thống có thể tham chiếu cho nghiên cứu quản lý di tích QGĐB tại các địa phương khác.