CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Những công trình nghiên cứu về thể chế 1. Nhóm công trình nghiên cứu ngoài nước The formal and informal constraints of institution.North, Institution, Institutional Change and Economic Performance (1990) tạm dịch: Thể chế, sự thay đổi thể chế và vận hành kinh tế của Douglass North.
Trong cuốn sách Douglass North đưa ra khái niệm về thể chế, đồng thời phân chia thể chế thành hai loại: thể chế chính thức và không chính thức. Theo Douglass North thì “thể chế là những quy tắc của trò chơi trong xã hội, hay đó là những quy tắc mang tính minh bạch và nhân văn để điều chỉnh những hành vi giao dịch giữa con người với nhau. Lý thuyết về thể chế được xây dựng dựa trên các hành vi ứng xử giữa con người với nhau phù hợp với lý thuyết của chi phí giao dịch”. [113] Sách: “Toward a Comparative Institutional Analysis” (Hướng tới hệ thống phân tích thể chế so sánh) của tác giả Masahiko Aoki xuất bản 2001.
Trong tác phẩm của mình, Masahiko Aoki bắt đầu từ việc tiếp cận lý thuyết cổ điển về thể chế kinh tế mới được bắt nguồn từ học giả Ronald Coase, trong đó đánh giá cao vai trò của khung thể chế và chi phí giao dịch trong vận hành kinh tế. Với nghĩa thể chế là quy tắc của trò chơi, sự phát triển kinh tế cùng với hiệu quả của nó luôn được xem là những yếu tố cơ bản làm thay đổi thể chế hay phải cải cách nó. Nhìn vào kinh nghiệm từ các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam), sự bất ổn định, leo thang về giá cả cũng như chi phí giao dịch tăng cao trong các mối quan hệ giữa các cá nhân và giữa cá nhân với Nhà nước cho thấy nguy cơ biến động thể chế, hàng loạt quy tắc, văn bản mới phải sửa đổi, bổ sung để điều chỉnh kịp thời. Masahiko Aoki lý giải sự cần thiết phải thay đổi, cải cách thể chế ngoài lý do nêu trên còn có thể do tác động bởi các yếu tố văn hóa pháp lý, môi trường và tâm lý.
Masahiko Aoki đã 12 đưa ra nhiều mô hình, phân tích và lý giải cho sự phát triển của thể chế, đặc biệt liên quan đến thể chế hành chính ở các nước XHCN hiện nay và XHCN ở Đông Âu, Liên Xô trước đây nay đã đổi sang nền kinh tế thị trường. [133] Đa số các nhà kinh tế học xem thể chế như là “luật chơi”. Vào những năm 1990, vai trò của thể chế đã dần phát triển và được các nhà quản lý coi trọng hơn, nên hầu hết các các nhà nghiên cứu cho rằng thể chế là trung tâm của phát triển bền vững bởi nhờ có vai trò của thể chế mới xây dựng lên các chính sách và từ đó mới huy động các nguồn lực góp phần vào sự phát triển chung của thế giới.Williamson trong bài viết “The new institutional economics: Taking stock, looking ahead” tạm dịch “thể chế kinh tế mới: nhìn lại và định hướng trong tương lai” được đăng trên Tạp chí Journal of Economic Literature, số 38, tháng 9/2000 đã khái quát hóa sự tiến hóa thể chế thành bốn tầng: Ở tầng thứ nhất các thể chế chủ yếu dưới hình thức phi chính thức và có tính “trơ ì” do tính thiết thực hoặc giá trị biểu tượng và thường vận hành trong xã hội khép kín để tự bảo vệ khỏi những giá trị ngoại lai. Tầng thứ hai được gọi là môi trường thể chế, ở đây các quy tắc chính thức (hiến pháp, luật pháp, quyền tài sản) được áp dụng tạo điều trong việc: “tạo dựng những luật chơi chính thức tốt”.
Tầng thứ ba là nơi các thể chế quản trị những quan hệ hợp đồng là trung tâm phân tích. Hệ thống những luật lệ để xác định luật hợp đồng và bắt buộc tuân thủ hợp đồng. Tầng thứ tư là nơi những phân tích tân cổ điển đang được thực hiện. Những cơ chế nhằm tối ưu hóa thường được thông qua cách thức phân tích cận biên.
Trong tầng này, dùng “sự điều chỉnh” để chi phối. Nhóm công trình nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, thuật ngữ “thể chế” là một thuật ngữ khó được đưa ra một khái niệm cụ thể, mà mỗi tác giả nghiên cứu lại có những quan điểm không giống nhau, thuật ngữ này được nhiều tác giả sử dụng nhưng chưa có khái niệm nào được đưa ra mà chủ yếu chỉ dựa trên dẫn giải các định nghĩa về thể 13 chế của các tác giả ở nước ngoài để phục vụ nghiên cứu, cụ thể: Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên năm 1992), thể chế là “những quy định, luật lệ của một chế độ xã hội, buộc mọi người phải tuân theo”. [90] Thời gian qua, có một số tác giả trong nước cũng đã đi sâu nghiên cứu về thể chế và đưa khái niệm thể chế, tuy nhiên chỉ gắn với một số các lĩnh vực cụ thể, điển hình như: Cuốn “Thể chế - cải cách thể chế và phát triển: Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt nam” (2002), của tác giả Trần Đình Ân, Võ Trí Thành, các tác giả đã đưa ra những vấn đề lý luận thể chế kinh tế cơ bản nhất cũng như kinh nghiệm xây dựng, chuyển đổi và cải cách thể chế ở một số nước trên thế giới và ở nước ta. [4] Giáo trình: “Hành chính công - dùng cho nghiên cứu học tập và giảng dạy sau đại học” của Học viện Hành chính, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, năm 2006.
Chương III và chương X của Giáo trình trình bày các nội dung về thể chế hành chính nhà nước và quản lý nhà nước trên các lĩnh vực. [56] Sách “Thể chế chính trị” của tác giả Nguyễn Đăng Dung và Bùi Ngọc Sơn (Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004) đã tiếp cận quan niệm thể chế khi nghiên cứu về thể chế chính trị. Theo các tác giả: “Mỗi lĩnh vực hoạt động của con người đều có các thể chế nhất định. Vì vậy, thể chế bao gồm nhiều loại khác nhau: thể chế kinh tế, thể chế chính trị, thể chế giáo dục, thể chế y tế, thể chế văn hoá,…”.
Điểm độc đáo của công trình này là tiếp cận thể chế chính trị dưới hai góc độ: Thể chế chính trị về hành vi và thể chế chính trị về tổ chức. Và, dựa vào hình thức thể hiện để chia làm hai loại, thể chế chính trị thành văn và thể chế chính trị bất thành văn. Thể chế chính trị thành văn thể hiện tập trung trong hiến pháp của mỗi quốc gia, nhưng còn có thể được quy định ở các văn bản dưới hiến pháp, bao gồm các đạo luật thường, thậm chí cả văn bản dưới luật. [47] Luận án “Thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học ở Việt Nam hiện nay” của Lê Như Phong, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2016 14 đã đưa ra khái niệm về thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục sau đại học là hệ thống các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức bộ máy hành chính nhà nước vận hành các quy định pháp luật về quản lý nhà nước… [92] Luận án tiến sỹ Quản lý công: “Thể chế quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học thuộc Bộ Công an” của Nghiêm Xuân Dũng, Học viện Hành chính quốc gia, năm 2018 là công trình nghiên cứu về thể chế QLNN liên quan đến GDĐH thuộc lực lượng CAND.
Trong luận án này, tác giả tiếp cận nghiên cứu thể chế theo nghĩa hẹp: Thể chế đồng nhất với pháp luật. Luận án đã đánh giá thực trạng thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH thuộc Bộ Công an dưới hai góc độ: - Các quy định pháp luật về QLNN đối với cơ sở GDĐH thuộc Bộ Công an; - Tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về QLNN đối với cơ sở GDĐH thuộc Bộ Công an. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận án đã đề xuất hai nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH thuộc Bộ Công an gồm nhóm giải pháp hoàn thiện nội dung và nhóm giải pháp về bảo đảm tổ chức thực hiện thể chế QLNN đối với cơ sở GDĐH thuộc Bộ Công an [48]. Luận án Tiến sỹ Quản lý công: “Thể chế quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay” của Phạm Thị Hạnh Phương, Học viện Hành chính quốc gia, năm 2022.
Luận án tiếp cận nghiên cứu thể chế theo nghĩa rộng bao gồm hệ thống các quy định pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bộ máy HCNN vận hành các quy định pháp luật đối với GDĐH nhằm đáp ứng các yêu cầu, mục tiêu của GDĐH. Bên cạnh việc đưa ra quan niệm về thể chế, luận án đã làm rõ đặc điểm, vai trò, các yếu tố cấu thành và các yếu tố ảnh hưởng đến thể chế QLNN đối với GDĐH. Trên cơ sở đánh giá thực trạng GDĐH và thể chế QLNN đối với GDĐH ở Việt Nam, luận án đã làm rõ quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn thiện thể chế QLNN 15 đối với GDĐH ở Việt Nam hiện nay với 03 nhóm giải pháp chủ yếu gồm nhóm giải pháp về nhận thức; nhóm giải pháp về hoàn thiện chiến lược, chính sách, pháp luật; nhóm giải pháp hoàn thiện tổ chức và đổi mới hoạt động của cơ quan QLNN về GDĐH [94]. Luận án Tiến sỹ Quản lý công: “Thể chế đạo đức công vụ ở Việt Nam hiện nay” của Nguyễn Thị Minh Trang, Học viện Hành chính Quốc gia, năm 2023.
Trong luận án này thì “Thể chế đạo đức công vụ” được coi là hệ thống các quy tắc, quy định, chuẩn mực đạo đức được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản pháp luật cũng như quá trình thực hiện các quy tắc, quy định, chuẩn mực đạo đức của cán bộ, công chức trong quá trình hoạt động công vụ nhằm đảm bảo cho hoạt động công vụ được thực hiện một cách thống nhất, toàn diện, góp phần hoàn thành mục tiêu xây dựng nền công vụ trong sạch, văn minh và hiện đại. Trong phạm vi nghiên cứu, luận án tiếp cận quan niệm “thể chế” theo cách thứ nhất, coi thể chế bao gồm các quy định pháp luật. [82] Lý thuyết về Quản trị nhà nước tốt và Lý thuyết “Chính phủ mở” trong bài viết về “Những nội dung cơ bản trong nghiên cứu khoa học quản lý công” của GS.