Luận án Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại THCS Hải Dương

Nghiên cứu về quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường trung học cơ sở tỉnh Hải Dương hiện nay. Phân tích thực trạng, giải pháp và

Trường đại học

Học viện Quản lý Giáo dục

Chuyên ngành

Quản lí giáo dục

Tác giả

Trần Minh Thái

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

213
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học THCS

Công nghệ thông tin đã trở thành yếu tố không thể thiếu trong nền giáo dục hiện đại. Tại các trường trung học cơ sở tỉnh Hải Dương, việc ứng dụng CNTT vào dạy học đang được đẩy mạnh theo định hướng đổi mới căn bản toàn diện giáo dục. Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học là quá trình tổ chức, điều phối và kiểm soát các hoạt động sử dụng công nghệ nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy. Bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư tạo ra áp lực lớn buộc các trường THCS phải chuyển đổi số. Các nghiên cứu chỉ ra rằng ứng dụng CNTT giúp đổi mới phương pháp dạy học, biến người dạy thành người hướng dẫn và người học trở thành trung tâm. Tuy nhiên, công tác quản lí tại nhiều trường vẫn còn nhiều bất cập. Nghiên cứu về thực trạng quản lí ứng dụng CNTT tại Hải Dương giúp đánh giá toàn diện hiệu quả triển khai, từ đó đề xuất giải pháp phù hợp với điều kiện thực tế địa phương.

1.1. Khái niệm quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học

Quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại trường THCS là hoạt động của Ban giám hiệu và cán bộ quản lí nhằm tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra việc sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy và học. Hoạt động này bao gồm xây dựng kế hoạch, bố trí cơ sở vật chất, bồi dưỡng năng lực số cho giáo viên, và đánh giá hiệu quả sử dụng. Mục tiêu hướng tới là tích hợp CNTT một cách có hệ thống vào chương trình giáo dục, đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học theo tinh thần Nghị quyết 29 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục.

1.2. Bối cảnh ứng dụng CNTT trong giáo dục Việt Nam

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực, đặc biệt là giáo dục. Việt Nam đang thực hiện chiến lược chuyển đổi số quốc gia, trong đó giáo dục được xác định là lĩnh vực ưu tiên. Các trường THCS phải thích ứng với mô hình giáo dục mới, nơi người học chủ động tiếp cận tri thức qua Internet và các công cụ số. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích ứng dụng CNTT, từ việc số hóa bài giảng đến xây dựng trường học điện tử. Hải Dương, với vị trí trung tâm đồng bằng sông Hồng, có tiềm năng lớn trong triển khai các mô hình giáo dục số.

II. Phân tích thực trạng quản lí ứng dụng CNTT tại Hải Dương

Thực trạng quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường THCS tỉnh Hải Dương cho thấy nhiều kết quả đáng ghi nhận nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Về cơ sở vật chất, nhiều trường đã được trang bị phòng máy tính, máy chiếu và hệ thống mạng Internet. Giáo viên dần tiếp cận phần mềm dạy học, xây dựng bài giảng điện tử và sử dụng các công cụ trực tuyến trong kiểm tra đánh giá. Tuy nhiên, mức độ ứng dụng không đồng đều giữa các trường trong tỉnh. Nhiều giáo viên chưa được bồi dưỡng đầy đủ về kỹ năng sử dụng CNTT. Công tác quản lí còn mang tính hình thức, thiếu kế hoạch dài hạn. Việc đầu tư trang thiết bị chưa gắn liền với đào tạo năng lực sử dụng. Đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT chưa được thực hiện thường xuyên và hệ thống. Những bất cập này đòi hỏi cần có giải pháp quản lí đồng bộ và căn cơ.

2.1. Kết quả đạt được trong triển khai CNTT tại các trường THCS

Các trường THCS tỉnh Hải Dương đã đạt được một số kết quả bước đầu trong ứng dụng CNTT. Nhiều trường xây dựng được thư viện số, kho học liệu điện tử và phần mềm dạy học riêng. Giáo viên tích cực sử dụng máy chiếu, bảng tương tác và các ứng dụng trực tuyến như Zoom, Google Classroom. Một số trường thí điểm mô hình trường học điện tử, áp dụng dạy học kết hợp trực tuyến và trực tiếp. Ban giám hiệu đã ban hành quy chế sử dụng thiết bị CNTT và tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, giáo viên trong toàn trường.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân trong quản lí ứng dụng CNTT

Bên cạnh kết quả đạt được, nhiều hạn chế vẫn tồn tại. Thứ nhất, cơ sở vật chất tại một số trường nông thôn còn thiếu, máy tính cũ, đường truyền Internet yếu. Thứ hai, năng lực ứng dụng CNTT của giáo viên không đồng bộ, nhiều người lớn tuổi gặp khó khăn khi chuyển đổi phương thức dạy học. Thứ ba, công tác quản lí thiếu chiến lược tổng thể, chưa có tiêu chí đánh giá cụ thể về hiệu quả ứng dụng. Nguyên nhân chính bao gồm kinh phí đầu tư hạn chế, thiếu nhân lực chuyên trách CNTT và nhận thức chưa đầy đủ của một số cán bộ quản lí về tầm quan trọng của chuyển đổi số trong giáo dục.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí ứng dụng CNTT dạy học

Để nâng cao hiệu quả quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường THCS tỉnh Hải Dương, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Giải pháp đầu tiên là hoàn thiện hệ thống quy chế, kế hoạch ứng dụng CNTT gắn với chiến lược phát triển nhà trường. Ban giám hiệu cần xây dựng lộ trình chuyển đổi số rõ ràng, phân công trách nhiệm cụ thể cho từng bộ phận. Giải pháp thứ hai là tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đảm bảo mỗi trường có đủ thiết bị hiện đại và đường truyền ổn định. Giải pháp thứ ba là tổ chức bồi dưỡng thường xuyên cho giáo viên về kỹ năng sử dụng phần mềm dạy học, thiết kế bài giảng điện tử và khai thác học liệu số. Giải pháp thứ tư là xây dựng cơ chế kiểm tra, đánh giá định kỳ hiệu quả ứng dụng CNTT. Cuối cùng, cần phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong chia sẻ kinh nghiệm, sáng kiến ứng dụng CNTT giữa các giáo viên.

3.1. Bồi dưỡng năng lực ứng dụng CNTT cho giáo viên

Bồi dưỡng năng lực CNTT cho giáo viên là giải pháp then chốt. Cần xây dựng chương trình đào tạo theo từng cấp độ: cơ bản, trung bình và nâng cao. Nội dung bao gồm sử dụng thành thạo phần mềm soạn thảo, trình chiếu, phần mềm dạy học chuyên ngành và các nền tảng học trực tuyến. Hình thức bồi dưỡng đa dạng: tập trung tại trường, học trực tuyến qua MOOC, tham quan mô hình tiên tiến. Đặc biệt, cần xây dựng đội ngũ giáo viên cốt nòng làm nòng cột hỗ trợ đồng nghiệp. Cơ chế khuyến khích bằng đánh giá thi đua, khen thưởng giúp tạo động lực cho giáo viên chủ động nâng cao kỹ năng số.

3.2. Hoàn thiện quy chế đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT

Việc xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả ứng dụng CNTT là giải pháp quan trọng để quản lí hoạt động này một cách khoa học. Tiêu chí cần bao gồm: tỷ lệ giáo viên sử dụng CNTT trong dạy học, số lượng bài giảng điện tử, mức độ hài lòng của học sinh, kết quả học tập cải thiện sau khi áp dụng CNTT. Đánh giá cần thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng học kỳ. Kết quả đánh giá gắn liền với thi đua khen thưởng, tạo động lực cho tập thể nhà trường. Ngoài ra, cần thu thập phản hồi từ học sinh và phụ huynh để điều chỉnh kịp thời.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn tại các trường THCS

Nghiên cứu về quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường THCS tỉnh Hải Dương cho thấy tầm quan trọng của công nghệ trong đổi mới giáo dục. CNTT không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành yếu tố cấu thành của mô hình giáo dục hiện đại. Quản lí hiệu quả hoạt động này đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa nhiều yếu tố: cơ sở vật chất, năng lực giáo viên, quy chế đánh giá và nhận thức của cán bộ quản lí. Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng rộng rãi, không chỉ cho Hải Dương mà còn cho các tỉnh thành khác. Các giải pháp đề xuất cần được triển khai theo lộ trình phù hợp với điều kiện thực tế từng trường. Mô hình giáo dục mới với người học là trung tâm, được hỗ trợ bởi công nghệ, là xu hướng tất yếu. Việc quản lí tốt ứng dụng CNTT sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trong thời đại số.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án hệ thống hóa cơ sở khoa học về quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở trường THCS, bổ sung kho tri thức về quản lí giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số. Về thực tiễn, các giải pháp đề xuất mang tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của tỉnh Hải Dương. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo quý giá cho Ban giám hiệu, Phòng Giáo dục và Sở Giáo dục trong hoạch định chính sách ứng dụng CNTT.

4.2. Hướng phát triển và đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Trong tương lai, nghiên cứu cần mở rộng phạm vi sang các cấp học khác như tiểu học và trung học phổ thông để có cái nhìn toàn diện hơn. Các đề xuất nghiên cứu tiếp theo bao gồm: đánh giá tác động của trí tuệ nhân tạo đối với dạy học ở trường THCS, mô hình quản lí trường học thông minh, và hiệu quả của dạy học kết hợp trực tuyến. Ngoài ra, cần nghiên cứu so sánh giữa các tỉnh thành để rút ra bài học kinh nghiệm. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đòi hỏi công tác quản lí phải liên tục cập nhật và điều chỉnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ quản lí ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại các trường trung học cơ sở tỉnh hải dương hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trƣờng trung học cơ sở hiện nay. Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn về quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trƣờng THCS tỉnh Hải Dƣơng hiện nay. Chƣơng 3: Giải pháp quản lí ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trƣờng THCS tỉnh Hải Dƣơng hiện nay. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TỈNH HẢI DƢƠNG HIỆN NAY 1.

Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường phổ thông 1. Nghiên cứu ở n ớc ngoài Hiện nay, các nƣớc trên thế giới đều khẳng định vai trò to lớn của CNTT trong GD&ĐT nói chung và trong quản lí dạy học nói riêng. Tác giả Christ Abbott đã khẳng định: “ICT is changing the face of education - CN và truyền th ng đang thay đổi bộ mặt của Giáo d c” [113, tr.

Hiệu trƣởng Saverius Kaka, trƣờng SMA Tarsissius nói Các nhà qu n lí giáo d c cần ph i kh n ngoan trong vi c thực hi n các chiến l ợc để ứng d ng CN vào trong gi ng dạy và học tập”; Ông cũng cho rằng: “Ngày nay CN đã và đang phát triển rất nhanh chóng; vì thế toàn bộ h thống giáo d c cần đ ợc c i cách và CN nên đ ợc tích hợp vào các hoạt động giáo d c” [132, tr. Tác giả David Mousund, thuộc bộ phận quản lí và chính sách đào tạo trƣờng đại học Oregon Australia đã đƣa ra nhận xét: “Lĩnh vực CN đang thay đổi nhanh chóng đến mức nó v ợt quá kh n ng cập nhật của đa số nhà lãnh đạo khiến họ ngần ngại” [115]. Với nhận định đó, chúng ta thấy rằng, một trong những trở ngại lớn của việc ứng dụng CNTT là kiến thức về CNTT của các nhà quản lí thƣờng đi sau sự phát triển của công nghệ. John Mcbeath and Kate Myer cũng khẳng định: “Những t t ởng chủ đạo cơ b n về vi c sử d ng CN trong giáo d c tuy đã thay đổi nh ng thay đổi rất chậm” [118, tr.

Đây có thể coi là hệ quả của chính sự ngần ngại của các nhà lãnh đạo khi ứng dụng CNTT. Hai tác giả Marjolein Drent, Martina Meelissen University of Twente, P. Box 217, 7500 AE Enschede, The Netherlands đã có đề tài: Which factors obstruct or 11 stimulate teacher educators to use ICT innovatively [122] (Những nhân tố cản trở hoặc kích thích giảng viên sử dụng CNTT sáng tạo). Đề tài đề cập về các yếu tố kích thích cũng nhƣ những hạn chế trong việc sử dụng CNTT của các nhà giáo dục Hà Lan.

Tác giả Andrew Jones thuộc British Educational Communications and Technology Agency (Beca), có đề tài: A Review Of The Research Literature On Barriers To The Uptake Of ICT By Teachers [111] (Một đánh giá về tổng quan nghiên cứu vào các rào cản về sự tiếp thu CNTT của giáo viên). Đề tài đã đƣa ra dẫn chứng từ các nguồn nói về những rào cản trong nhận thức của các giáo viên về việc ứng dụng CNTT. Đó là: Thiếu tự tin và lo lắng của giáo viên về máy tính; thiếu năng lực về CNTT; thiếu phƣơng pháp sƣ phạm trong việc ứng dụng CNTT; công tác quản lí, tổ chức yếu kém; chƣa có phần mềm phù hợp; thiếu nguồn lực về CNTT; không có điều kiện truy cập Internet. Xu hƣớng chung của các nƣớc trên thế giới là: Tin học, ứng dụng CNTT đã đƣợc hầu hết các nƣớc trên thế giới quan tâm đƣa vào trong các trƣờng học và đã trở nên một vấn đề mang tính toàn cầu.

CNTT mang đến sự đổi mới về cách dạy, cách học cho mọi cấp học. CNTT tạo điều kiện trong việc liên kết nghiên cứu khoa học. CNTT trong giáo dục sẽ là giải pháp chiến lƣợc nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế tri thức. Về chƣơng trình giảng dạy: CNTT đƣợc tích hợp trong các môn học trên phạm vi toàn quốc.

Ở Hàn Quốc, CNTT đƣợc tích hợp từ 10% đến 20% trong các môn học, nhằm nâng cao kĩ năng tƣ cho học sinh. Ở Australia, CNTT tại các trƣờng tiểu học đã đƣợc tích hợp hoàn toàn trong việc giảng dạy vào các môn học nhƣ Tiếng Anh, Toán, Khoa học, Nghệ thuật, Y tế và Giáo dục thể chất, Ngôn ngữ, Xã hội và môi trƣờng. Trong các trƣờng THCS, CNTT đƣợc đƣợc tích hợp vào các môn học hoặc dạy nhƣ là một chủ đề riêng biệt. Triển khai học E-Learning, dạy học online ngày càng đƣợc sử dụng nhiều và đã phát huy hiệu quả.

Các nƣớc trên đã dùng các 12 công nghệ hiện đại, đó là: công nghệ truyền thông đa phƣơng tiện (Multimedia); công nghệ mạng (Network) và Internet. Về việc bồi dƣỡng giáo viên, đây là một khâu quan trọng trong chƣơng trình CNTT. Giống nhƣ dạy E-Learning, việc bồi dƣỡng giáo viên đã áp dụng dƣới hình thức online, tập huấn các kĩ năng sử dụng máy tính, hỗ trợ tốt nhất việc tích hợp CNTT trong các tài liệu và trong giảng dạy của các môn học. Ở Úc, giáo viên đƣợc đào tạo về CNTT thƣờng xuyên và mỗi giáo viên đƣợc trang bị một máy tính xách tay để sử dụng.

Việc đào tạo cho giáo viên về CNTT ở Hàn Quốc là một hoạt động thƣờng xuyên. Hàng năm, giáo viên đƣợc đào tạo và đƣợc cấp chứng nhận về CNTT chiếm 33%. Tại Thái Lan, Philippines, Malaysia, Trung Quốc, Nhật Bản, và Ấn Độ: chính sách phát triển CNTT trong giáo dục gắn với chính sách, kế hoạch tổng thể về CNTT của quốc gia. Đầu tƣ cơ sở hạ tầng CNTT, đào tạo giáo viên, đẩy mạnh các hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học học tập nhƣng không hoàn toàn tích hợp CNTT trong một hoạt động giáo dục cụ thể nào đó.

Việc dạy học trực tuyến (online) vẫn còn đang trong giai đoạn khởi đầu. Malaysia tiến hành xây dựng nhiều dự án thúc đẩy việc học trực tuyến. Ở Thái Lan và Indonesia, trƣờng học điện tử đang trở thành phổ biến nhƣng chỉ tập trung chủ yếu về số lƣợng, mà chƣa coi trọng chất lƣợng. Hai tác giả Christa S.

Asterhan, Edith Bouton trƣờng Giáo dục, Đại học Hebrew ở Jerusalem, Israel (2017) với nghiên cứu: Chia sẻ kiến thức qua mạng xã hội trong các tr ng trung học. Bài viết phân tích về cách thức giáo viên và học sinh đã sử dụng các công cụ CNTT cho các mục đích liên quan đến trƣờng học. Các tác giả nêu rõ: “Các kết quả kết hợp từ các nghiên cứu này cho thấy cùng với việc giáo viên sử dụng thông tin mạng xã hội với học sinh của mình cho các mục đích xã hội và tâm lí học sƣ phạm, mà còn để hỗ trợ các hoạt động dạy học”. Việc giới thiệu phần mềm dạy toán học trên cơ sở máy tính (The learning Equation Mathematics) tại 13 Canada đã đem lại kết quả nổi bật so với việc sử dụng sách giáo khoa truyền thống.

Tuy nhiên các phần mềm mới chỉ đƣa vào dạy học bộ môn toán. Một trong các nguyên nhân mà nền giáo dục của các nƣớc ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng có trình độ tƣơng đƣơng với các nƣớc có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới, đó chiến lƣợc ứng dụng CNTT trong giáo dục, đặc biệt là việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học và quản lí. Ở các nƣớc này, đã và đang xuất hiện một xã hội thông tin đƣợc nối mạng. Ở đó việc học tập đƣợc tổ chức trên cơ sở một hệ thống thông tin cƣờng độ cao, môi trƣờng mạng máy tính kết nối đến từng giáo viên, từng học sinh.

Khả năng học tập của học sinh đƣợc tăng cƣờng với những mô hình dạy học rất mới và hiện đại. Qua thực tiễn ở các nƣớc này, rút ra bài học kinh nghiệm để việc ứng dụng CNTT trong dạy học ở nhà trƣờng đạt hiệu quả cao là: - Phải có cơ sở hạ tầng CNTT đảm bảo việc triển khai ứng dụng CNTT trong dạy học và trong quản lí. Trƣờng học đƣợc kết nối Internet tốc độ cao, phòng học phải đƣợc trang bị máy tính, Projector và các thiết bị CNTT khác, nhất là phòng đa phƣơng tiện (Multimedia). - Việc đào tạo, bồi dƣỡng những kiến thức và kĩ năng về CNTT cho giáo viên, cán bộ quản lí là một hoạt động liên tục và thƣờng xuyên.

Triển khai ứng dụng hình thức trực tuyến trong đào tạo, bồi dƣỡng, tập huấn cho đội ngũ về sự hiểu biết, kĩ năng sử dụng máy tính, tích hợp CNTT trong giáo án và trong giảng dạy của các môn học khác nhau; - Tăng cƣờng sử dụng hình thức dạy học trực tuyến (online), dạy học điện tử (E-Learning); tăng cƣờng dùng mạng trƣờng học để trao đổi, hợp tác, chia sẻ giữa các trƣờng trong các hoạt động ứng dụng CNTT. Nhƣ vậy các nghiên cứu ở nƣớc ngoài đã có những công trình khoa học bàn về ứng dụng CNTT trong dạy học, ứng dụng CNTT trong quản lí giáo dục. Các công trình nghiên cứu đều xác định: Trong dạy học hiện đại, vai trò của CNTT và ứng dụng CNTT trong dạy học là xu hƣớng tất yếu. Chính vì vậy ở các nƣớc tiên tiến trên 14 thế giới đều đặt ra vấn đề cần phải đƣa CNTT vào trong quá trình dạy học và coi là một trong những hình thức dạy học hiện nay.

Tuy nhiên các nghiên cứu về ứng dụng CNTT ở trƣờng THCS vẫn là quá ít so với những yêu cầu của công tác quản lí ứng dụng CNTT trong bối cảnh của cuộc cách mạng công nghiệp 4. Nghiên cứu ở trong n ớc Việc nghiên cứu các xu hƣớng sử dụng công nghệ trong GD&ĐT đã đƣợc bàn đến trong nhiều công trình với các phạm vi khác nhau. Dựa trên tiêu chí coi CNTT với GD&ĐT là hai thành tố có quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Tác giả Tô Xuân Giáp đã xác định 2 xu hƣớng chính sử dụng CNTT trong GD&ĐT.

Đó là: CNTT vừa là phƣơng tiện dạy học mới với nhiều ƣu điểm và vừa là một ngành học với những đặc thù riêng theo sơ đồ sau đây: Sơ đồ 1. Công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo Nếu xét CNTT nhƣ là một hệ phƣơng tiện dạy học đặt trong mối quan hệ tƣơng tác giữa ngƣời dạy và ngƣời học thì hiện nay trên thế giới đang có 3 hƣớng sử dụng phƣơng tiện này (3 xu hƣớng đƣợc minh hoạ trong sơ đồ 1.2): (1) CNTT đóng vai trò là phƣơng tiện của ngƣời giáo viên. Trong đó giáo viên sử dụng CNTT phục vụ trực tiếp cho việc thiết kế và trình bày bài giảng. Hình thức dạy học vẫn là dạy trực tiếp, mặt giáp mặt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ