Luận án phòng ngừa tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ

Luận án tiến sĩ phân tích phương pháp phòng ngừa tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự con người dựa trên thực tiễn tỉnh Phú Thọ. Nghiên cứu pháp luật và giải pháp

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2021

175
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phòng ngừa tội xâm phạm nhân phẩm danh dự con người

Nhân phẩm và danh dự là quyền cơ bản của con người được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ. Các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người bao gồm nhiều nhóm tội như tội làm nhục người khác, tội vu khống, tội xâm phạm tình dục và tội mua bán người. Luận án tiến sĩ của Đỗ Thu Hiền (2021) tại Học viện Khoa học xã hội nghiên cứu chuyên sâu về phòng ngừa nhóm tội này từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ. Nghiên cứu chỉ ra rằng công tác phòng ngừa đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân. Phòng ngừa tội phạm bao gồm phòng ngừa xã hội và phòng ngừa nghiệp vụ. Phòng ngừa xã hội tập trung nâng cao hiểu biết pháp luật, thay đổi thói quen sinh hoạt. Phòng ngừa nghiệp vụ liên quan đến hoạt động của cơ quan tư pháp trong phát hiện, xử lý tội phạm. Thực tiễn Phú Thọ cho thấy hiệu quả phòng ngừa phụ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan.

1.1. Khái niệm tội xâm phạm nhân phẩm danh dự con người

Tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm quyền được bảo vệ về nhân phẩm, danh dự, uy tín của công dân. Theo Bộ luật Hình sự Việt Nam, nhóm tội này bao gồm các tội như tội làm nhục người khác (Điều 155), tội vu khống (Điều 156), tội hiếp dâm (Điều 141), tội cưỡng dâm (Điều 143) và tội mua bán người (Điều 150). Nhân phẩm là giá trị thiêng liêng thuộc về mỗi con người, không thể tách rời. Danh dự là sự đánh giá, thừa nhận của xã hội đối với phẩm chất đạo đức, uy tín của cá nhân.

1.2. Vai trò của nghiên cứu phòng ngừa tội phạm

Nghiên cứu phòng ngừa tội phạm có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người và trật tự xã hội. Phòng ngừa tội phạm giúp giảm thiểu thiệt hại trước khi tội phạm xảy ra, hiệu quả hơn so với xử lý sau khi vi phạm. Nghiên cứu từ thực tiễn địa phương như tỉnh Phú Thọ cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách hình sự phù hợp. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ cơ quan chức năng trong việc hoạch định chiến lược phòng chống tội phạm. Đồng thời, nghiên cứu góp phần nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ nhân phẩm, danh dự.

II. Phân tích thực trạng tội xâm phạm nhân phẩm danh dự ở Phú Thọ

Thực tiễn tỉnh Phú Thọ cho thấy tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự vẫn diễn biến phức tạp với nhiều hình thức đa dạng. Tình hình tội phạm này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế - xã hội đặc thù của địa phương. Nguyên nhân nảy sinh tội phạm xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, sự phát triển kinh tế kéo theo bất bình đẳng xã hội, tệ nạn xã hội gia tăng. Về chủ quan, trình độ hiểu biết pháp luật của một bộ phận dân cư còn hạn chế. Điều kiện phạm tội liên quan đến lỗ hổng quản lý, thiếu giám sát cộng đồng. Nhiều nạn nhân không dám tố giác do tâm lý ngại ngùng, sợ bị trả thù. Sự thiếu hợp tác của người bị hại gây khó khăn cho quá trình phát hiện, xử lý tội phạm. Đặc biệt, nhóm tội xâm hại tình dục và mua bán người có nhiều trường hợp nạn nhân tự tạo điều kiện cho tội phạm do thiếu hiểu biết và mất cảnh giác.

2.1. Tình hình tội phạm và nguyên nhân phát sinh

Tình hình tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự tại Phú Thọ có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây. Các tội phổ biến bao gồm tội làm nhục người khác, tội vu khống và tội xâm hại tình dục. Nguyên nhân chính là trình độ dân trí không đồng đều, đặc biệt ở vùng nông thôn, miền núi. Áp lực kinh tế gia đình dẫn đến xung đột, bạo lực. Tệ nạn rượu bia, ma túy kích thích hành vi phạm tội. Mặt khác, sự phát triển công nghệ thông tin tạo điều kiện cho tội phạm mạng như bôi nhọ danh dự trên mạng xã hội.

2.2. Hạn chế trong công tác phòng ngừa hiện tại

Công tác phòng ngừa tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự tại Phú Thọ còn nhiều hạn chế. Hệ thống pháp luật tuy đầy đủ nhưng việc triển khai thực thi chưa hiệu quả. Năng lực cán bộ cơ sở trong tuyên truyền, giáo dục pháp luật còn yếu. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng thiếu chặt chẽ, đồng bộ. Kinh phí đầu tư cho công tác phòng ngừa còn hạn hẹp. Ý thức tự bảo vệ quyền lợi của người dân chưa cao, nhiều người không biết cách tố giác tội phạm. Vai trò của đoàn thể, tổ chức tự quản ở địa phương chưa phát huy hết hiệu quả.

III. Giải pháp tăng cường phòng ngừa tội xâm phạm nhân phẩm danh dự

Giải pháp phòng ngừa tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự cần được thực hiện đồng bộ trên nhiều phương diện. Trước hết là hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, đảm bảo tính răn đe và khả thi. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt vùng nông thôn, miền núi. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ tư pháp, công an cơ sở. Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành trong phòng ngừa tội phạm. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể và tổ chức tự quản cộng đồng. Giáo dục đạo đức, lối sống lành mạnh trong gia đình và nhà trường. Tạo môi trường an toàn cho phụ nữ, trẻ em và nhóm yếu thế. Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát, phát hiện tội phạm mạng. Khuyến khích người dân tích cực tố giác tội phạm, bảo vệ người tố giác. Đầu tư nguồn lực tài chính cho các chương trình phòng ngừa tội phạm tại địa phương.

3.1. Hoàn thiện cơ chế pháp lý và tuyên truyền giáo dục

Hoàn thiện pháp luật hình sự cần bổ sung các quy định rõ ràng hơn về tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự trên không gian mạng. Tăng hình phạt đối với hành vi nghiêm trọng để đảm bảo tính răn đe. Xây dựng cơ chế bảo vệ nạn nhân và người tố giác tội phạm hiệu quả. Công tác tuyên truyền pháp luật phải thường xuyên, liên tục với hình thức đa dạng. Sử dụng truyền thông đại chúng, mạng xã hội để tiếp cận đông đảo người dân. Đưa nội dung giáo dục pháp luật vào chương trình đào tạo tại trường học.

3.2. Năng lực cán bộ và phối hợp liên ngành

Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ công an, kiểm sát, tòa án trong tiếp nhận, xử lý tin báo tội phạm. Đào tạo kỹ năng giao tiếp, tư vấn tâm lý cho cán bộ làm việc với nạn nhân. Xây dựng quy chế phối hợp liên ngành giữa công an, viện kiểm sát, tòa án và các sở ban ngành. Thành lập đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tại cơ sở để phát hiện sớm tội phạm. Tổ chức diễn tập, tập huấn nghiệp vụ định kỳ cho cán bộ tham gia phòng ngừa tội phạm.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn phòng ngừa tội phạm Phú Thọ

Luận án tiến sĩ về phòng ngừa tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người từ thực tiễn tỉnh Phú Thọ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Nghi cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phòng ngừa nhóm tội này một cách toàn diện. Phân tích thực trạng tội phạm tại Phú Thọ giúp nhận diện rõ nguyên nhân, điều kiện nảy sinh tội phạm. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho các tỉnh có đặc điểm tương tự trong cả nước. Ứng dụng thực tiễn bao gồm xây dựng kế hoạch phòng ngừa tội phạm cấp tỉnh, huyện. Tư vấn chính sách cho cơ quan lập pháp trong hoàn thiện pháp luật hình sự. Đào tạo, tập huấn cho cán bộ làm công tác phòng ngừa tội phạm. Nghiên cứu cũng mở ra hướng tiếp cận mới trong phòng ngừa tội phạm bảo vệ quyền con người.

4.1. Dự báo xu hướng tội phạm và định hướng nghiên cứu

Dự báo tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp trong thời gian tới. Tác động của đô thị hóa, công nghiệp hóa tạo áp lực lên đời sống tinh thần người dân. Sự phát triển công nghệ thông tin mở rộng không gian phạm tội sang môi trường mạng. Định hướng nghiên cứu cần tập trung vào tội phạm công nghệ cao xâm phạm danh dự. Nghi cứu so sánh với các địa phương khác để rút ra bài học kinh nghiệm. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích, dự báo tội phạm.

4.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án

Luận án có ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung lý luận về phòng ngừa tội phạm xâm phạm nhân phẩm, danh dự. Đóng góp vào hệ thống tri thức tội phạm học Việt Nam. Ý nghĩa thực tiễn thể hiện ở việc cung cấp cơ sở cho cơ quan chức năng xây dựng kế hoạch phòng ngừa. Kết quả nghiên cứu phục vụ đào tạo, bồi dưỡng kiến thức pháp luật cho cán bộ và người dân. Góp phần bảo vệ quyền con người, xây dựng xã hội công bằng, văn minh. Luận án là tài liệu tham khảo quý cho nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu tội phạm học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ phòng ngừa các tội xâm phạm nhân phẩm danh dự của con người từ thực tiễn tỉnh phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình nghiên cứu về phòng ngừa các tội xâm phạm nhân phẩm, danh dự của con người ở nước ngoài Tội phạm học là ngành khoa học xã hội có ý nghĩa ứng dụng thiết thực trong phòng ngừa các loại tội phạm, góp phần quan trọng vào duy trì trật tự, an toàn xã hội và bảo vệ quyền con người, quyền công dân và các quyền, lợi ích hợp pháp của các pháp nhân khác. Tội phạm học ra đời từ những năm cuối thế kỷ XVIII và đến nay ngành khoa học này có có sự phát triển mạnh mẽ, vì thế trên thế giới hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về tội phạm học, trong đó tiêu biểu có những công trình nghiên cứu sau: Một trong các tài liệu tội phạm học có giá trị được lưu hành phổ biến ở các trường đại học đào tạo về luật tại Mỹ và được các cơ sở đào tạo luật tại Châu âu sử dụng làm tài liệu tham khảo phổ biến là cuốn “Criminology Today” (Tội phạm học ngày nay) của Giáo sư, Tiến sỹ Frank Schmalleger, The University of North Carolina at Pembroke, Prentice Hall Publisher ấn hành năm 1995. Tác phẩm tập trung phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về tội phạm, các dạng tội phạm, phương pháp nghiên cứu tội phạm học; phân tích các trường phái, quan điểm nghiên cứu về nguyên nhân tội phạm, nguồn gốc sinh học của hành vi phạm tội, cơ sở tâm lý và thần kinh của hành phạm tội cũng như các học thuyết xã hội có liên quan đến tội phạm; nghiên cứu về các tội phạm cụ thể trong thế giới hiện đại như các tội xâm phạm quyền sở hữu, tội phạm có tổ chức, công nghệ và tội phạm, các tội xâm phạm con người, tình hình, nguyên nhân, điều kiện của tội phạm này; các nghiên cứu về kiểm soát đối với hành vi phạm tội như tội phạm học và chính sách xã hội, những phương hướng kiểm soát tội phạm trong tương lai.

Tại các cơ sở đào tạo luật ở Đức, cuốn “Kriminologie” (Tội phạm học) của tác giả Bernd-Dieter được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu các khía cạnh của tội phạm học: đối tượng và sự quan tâm của nhận thức tội phạm học; sự phát 8 triển và trạng thái hiện tại của tội phạm học; các học thuyết, phương pháp nghiên cứu tội phạm học; mức độ, cơ cấu và diễn biến của tội phạm đã được thống kê; nhân thân người phạm tội và nguyên nhân và tiểu sử xã hội; dự báo tình hình tội phạm trong tương lai, kiểm soát tội phạm; vấn đề nạn nhân của tội phạm; tội phạm về kinh tế và các nghiên cứu khác về tội phạm, truy cứu trách nhiệm hình sự, áp dụng hình phạt ở Châu Âu. Công trình nghiên cứu của Jock Young, chuyên gia tội phạm học tại Đại học New York “The Exclusive Society: Social Exclusion, Crime and Difference in Late Modernity” được ấn hành năm 1999, đây là một công trình phát triển các cơ sở lý luận của quan điểm New Left Realist và chỉ ra mối liên hệ giữa chính sách pháp luật hình sự với nội dung quản trị và sự can thiệp của nhà nước vào cuối thời kỳ hiện đại. Theo đó, tác giả nhận định tội phạm cần được nghiên cứu theo hướng hành vi xã hội và phản ứng của xã hội đối với hành vi đó; tác giả xây dựng mối quan hệ thích ứng với nội dung của tội phạm học là: người phạm tội, nạn nhân và nhà nước. Đáng chú ý nhất trong quan điểm của Jock Young là việc giải quyết vấn đề tội phạm không phải trách nhiệm của nhà nước mà còn là nhiệm vụ của cả cộng đồng; quan điểm này xuất phát từ việc xem xét nguyên nhân của tội phạm, đặc biệt là các nguyên nhân xã hội.

Đồng thời, ông cũng nhấn mạnh vai trò của lực lượng cảnh sát trong sự hợp tác với cộng đồng trong việc duy trì trật tự xã hội. Các công trình nghiên cứu của Giáo sư Manuel Eisner - Giám đốc chương trình Phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội tại Đại học Cambridge, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu bạo lực (Violence Research Centre) như: Measuring Conflict of Interest in Prevention and Intervention Research (Đo lường xung đột về lợi ích trong nghiên cứu phòng ngừa và can thiệp)(được công bố tại T.eds); Sexual Victimization of children and Adolescents in Switzerland (cùng các tác giả Averdijk, Margit, Katrin Mueller-Johnson). nghiên cứu về lịch sử bạo lực giữa các cá nhân, đưa ra mô hình lịch sử bạo lực giữa các cá nhân. Các nghiên cứu này có ảnh hưởng rất lớn 9 đến các nhà xã hội học và tội phạm học trong suy nghĩ về xu hướng bạo lực cá nhân dài hạn, mối quan hệ giữa họ và xã hội hiện đại; nghiên cứu của ông nêu bật cách thức mà các mô hình văn hóa ứng xử trong cuộc sống tác động vào các tổ chức xã hội, hình thành các mô hình hành vi của con người (đặc biệt là nam giới), từ đó ảnh hưởng đến hành vi hung hăng, bạo lực.

Cuốn “About Behaviorism” (Bàn về học thuyết hành vi) của tác giả Burrhus Fredric Skinner xuất bản năm 1974 xây dựng lý thuyết hành vi. Theo đó, hành vi của con người được quyết định bởi môi trường xung quanh, môi trường tác động tạo định hướng tư duy và thúc đẩy con người thực hiện hành vi. Cuốn “Understanding Criminilogy” (Tìm hiểu về tội phạm học) của tác giả Sandra Walklate, do Nhà xuất bản Open University Press, Maidenhear, ấn hành năm 2007 xem xét sự phát triển lý thuyết khoa học hình sự, tư pháp hình sự, công bằng xã hội và chính trị. Tác phẩm cung cấp những nội dung cơ bản về tội phạm học - các khía cạnh xã hội học tội phạm: vai trò của các phương tiện truyền thống liên quan đến tâm lý sợ hãi của người phạm tội: bàn về tội phạm học cổ điển, một số đặc điểm của tội phạm, tội phạm học văn hóa; đặc trưng của nạn nhân của tội phạm.

Cuốn “Criminology: A Sociological Introduction” (Tội phạm học: Tiếp cận dưới giác độ xã hội học ) của các tác giả Eamonm Carrabine, Paul Iganski, Maggy Lee, Ken Plummer, Nigel Nam, do Nhà xuất bản Routlrdge ấn hành năm 2004 là tài liệu quan trọng được sử dụng trong hầu hết các khóa học hình sự tại Anh. Nó bao gồm các nội dung: truyền thống quan trọng trong tội phạm học, các học thuyết quan, điểm và sự phát triển trong giai đoạn hiện nay; các quan niệm mới về tội phạm và kiểm soát tội phạm, mối quan hệ giữa hành vi phạm tội và cảm xúc của con người,.; sự khác nhau về mức độ và phạm vi của tội phạm, trong đó đề cập đến tội phạm tình dục, tội phạm về môi trường, các tội xâm phạm quyền con người; các quan điểm trong lý thuyết hình sự; một số vấn đề mới được đề cập: toàn cầu hóa tội phạm, tội phạm ảo trong không gian mạng. Tác phẩm với nhiều bảng biểu, bản đồ, tóm tắt, các câu hỏi tư duy phê phán, tài liệu tham khảo với chú 10 thích và thuật ngữ, phần tài liệu tham khảo, các web liên kết nên dễ tiếp cận, theo dõi. Thông tin mở với các quan điểm, học thuyết phòng phú thúc đẩy tư duy sáng tạo của người đọc.

Nội dung cuốn “Toward a Unified Criminology: Integrating Asumptions about Crime, People and Scociety” (Hướng tới một ngành tội phạm học thống nhất: Tích hợp các giả định về tội phạm, con người và xã hội), của tác giả Robert Agnew, do Nhà xuất bản Đại học Newyork ấn hành năm 2011 trên cơ sở xây dựng một số giả định cơ bản về bản chất tội phạm, ý chí tự do, bản chất con người và xã hội, trả lời cho câu hỏi: “Tại sao người ta phạm tội, làm sao để kiểm soát tội phạm?”. Trong tác phẩm này tác giả đã so sánh, đánh giá các giả thuyết dựa trên các nghiên cứu cho rằng những giả định tội phạm học, nguyên nhân tội phạm, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu. đó là hạn chế vì vậy làm mất đi hiệu quả phòng ngừa và kiểm soát tội phạm. Robert Agnew đã đề xuất các giả định thay thế, các lý thuyết quan trọng của tội phạm học với mục tiêu đặt nền móng cho sự nghiên cứu thống nhất tội phạm học tạo khả năng tốt hơn để lý giải toàn diện hơn về tội phạm.

Bên cạnh đó, việc xem xét mối liên hệ giữa tâm sinh lý và khả năng phạm tội của con người là vấn đề rất được quan tâm khi bàn về nguyên nhân của tội phạm. Theo nhà tội phạm học người Ý Cesare Lombroso (1835 - 1909), người từng là một bác sỹ trong quân đội Ý thì đặc điểm nhận dạng của người phạm tội thường là râu rậm, trán hói, mũi to.; cùng với ông là nhiều nhà khoa học khác cũng cho rằng những đặc điểm nhận dạng của một người quyết định tới khả năng phạm tội của anh ta. Ngày nay, bằng những chứng cứ khoa học, ngành tội phạm học ít nhiều phủ nhận những lập luận trên vì bản chất con người là môi trường và giáo dục quyết định. Năm 2013, tác giả Adrian Raine người Anh hiện là giáo sư trường Đại học bang Pennysylvania, Mỹ đã cho ra mắt một cuốn sách bàn về mối liên hệ giữa tâm sinh lý và khả năng phạm tội của con người “The Anatomy of Violence”, do nhà xuất bản Pantheon Books ấn hành và trước đó năm 1993 đã có cuốn “The 11 Psychopathology of Crime”.

Ông đã nghiên cứu vấn đề này trong suốt hơn ba thập kỷ và đưa ra những quan điểm về tội phạm nổi tiếng trên khắp thế giới. Ông nhận định có tới 50% những hành vi chống đối xã hội được ngầm mặc định do bộ gen, vì vậy vấn đề chúng ta đối mặt nằm ở bộ gen sinh học. Điều này được thể hiện rõ trong nội dung của “The Anatomy of Violence”: trên cơ sở các nghiên cứu khoa học với số liệu thống kê mới nhất, tác giả lập luận dựa vào sự tương tác di truyền với môi trường sinh học và xã hội để lý giải nguyên nhân gây ra bạo lực, diễn biến trong não bộ kẻ tâm thần, kẻ giết người hàng loạt, các hành vi phạm tội chống đối xã hội phức tạp. Cuốn sách là công trình công phu, giá trị tuy nhiên cũng gây không ít tranh cãi do nó chống lại những quan niệm truyền thống; nhưng đó vẫn là cột mốc quan trọng, tạo sự hiểu biết mới trong nghiên cứu tội phạm học.

Cuốn sách “Rural Criminoalogy” (Tội phạm học nông thôn) của tác giả Joseph F. Donnermeyer và Walter S. Dekeseredy do Routledge ấn hành năm 2013.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ