Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển sinh kế hộ gia đình. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sinh kế hộ gia đình. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Chương 4: Thực trạng phát triển sinh kế hộ gia đình tại tỉnh Hà Giang. Chương 5: Phương hướng và giải pháp phát triển sinh kế hộ gia đình tại tinh Hà Giang đến năm 2030. TONG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VE PHÁT TRIEN SINH KE HỘ GIA ĐÌNH 1. Các nghiên cứu liên quan đến vai trò của phát triển sinh kế hộ gia đình Sinh kế được quan tâm đặc biệt trong các chương trình phát triển nông thôn và miền núi nhằm giảm nghèo và khắc phục tính dé bị ton thương trong cộng đồng (Allison & Horemans, 2006).
Bên cạnh đó, phương pháp tiếp cận sinh kế cũng được cải thiện nhằm phát triển nông thôn dựa trên các CLSK, (Allison & Ellis, 2001; Udoh, Akpan, & Uko, 2017). Allison & Horemans (2006) cho rằng tiếp cận sinh kế cần phải bao trùm hơn với một cách tiếp cận rộng hơn đối với sinh kế của người dân bằng cách nhìn xa hơn các hoạt động tạo thu nhập. Từ đó, Lee (2008) và Mbaiwa & Sakuze (2009) đề xuất giải pháp dé nâng cao tính bền vững của sinh kế hộ gia đình ở nông thôn bằng cách áp dụng nhiều CLSK và nhiều hoạt động sinh kế. Su & cộng sự (2021) thì cho rằng tiếp cận sinh kế là cần xác định những hạn chế cấp bách nhất và những cơ hội phát triển tiềm năng nhất của các nông hộ.
PTSK cho các hộ gia đình nông thôn còn là một trong những điều kiện tiên quyết cho sự phát triển ở khu vực nông thôn. PTSK tốt cho các nông hộ sẽ giúp xoá đói giảm nghèo, giảm tệ nạn xã hội và giảm bớt sự phụ thuộc của họ vào chính phủ. Nghiên cứu của Guo & cộng sự (2019) đã đề xuất các kiến nghị để phát triển đa dạng sinh kế gồm: (¡) Các hộ gia đình nên tăng giá trị tài sản là vốn con người bằng cách nâng cao kiến thức và kỹ năng của các thành viên và do đó có khả năng làm việc và thu nhập để nâng cao kết quả sinh kế; (ii) Các hộ gia đình nên tham gia vào các hoạt động xã hội như: các tổ chức nông dân, hợp tác xã, v. điều này sẽ xây dựng lòng tin và mọi người giúp đỡ nhau giải quyết vấn đề của họ.
Cần khuyến khích các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở các vùng nông thôn miền trung Nepal (Paudel Khatiwada & cộng sự 2017). Chính phủ nên phát triển mạnh mẽ các hoạt động phi nông nghiệp ở các vùng miền núi. Điều này có thé làm tăng cơ hội việc làm từ hoạt động phi nông nghiệp của các hộ gia đình. Nghiên cứu về đa dạng sinh kế của các hộ gia đình nông thôn có ý nghĩa to lớn trong việc giải quyết tình trạng nghèo đói ở nông thôn (Salvini & cộng sự, 2018).
Su, Wall & Xu (2016) đã chỉ ra rằng các phương thức sinh kế truyền thống kết hợp với các yếu tố về du lịch sinh thái trở thành CLSK đóng vai trò quan trọng nhất cho cộng đồng, có thể cải thiện sinh kế cho nhóm hộ nghèo ở các quốc gia đang phát triển. Do vậy, PTSK hộ gia đình đóng một vai trò quan trọng trong mục tiêu giảm nghèo bền vững. Bao gồm: Cải thiện mức sống và giảm nghèo, tăng cường an ninh lương thực; giảm thiểu tình trạng dé bị tổn thương; bền vững về sử dụng tài nguyên thiên nhiên; tiếp cận thông tin. Các nghiên cứu liên quan đến cách tiếp cận của phát triển sinh kế hộ gia đình Cách tiếp cận sinh kế truyền thống được cho là quá hẹp vì chỉ tập trung vào một số khía cạnh hoặc biểu hiện của nghèo đói, chăng hạn như thu nhập thấp mà không xem xét đến các khía cạnh quan trọng khác của nghèo đói như tinh dé bị tôn thương.
Người ta nhận thấy răng cần phải chú ý nhiều hơn đến các yếu tố và quá trình khác nhau hạn chế hoặc nâng cao khả năng kiếm sống của người nghèo một cách bền vững về mặt kinh tế, sinh thái và xã hội. Scoones (1998) cho rằng để xây dựng được chiến lược đa dạng sinh kế thì phân tích các khía cạnh khác nhau của các NLSK và CLSK như là các yếu tố riêng biệt là không đủ, phải đồng thời phân tích quy trình thé chế và co cấu, mối liên kết của các yêu tô khác nhau này với nhau. Dé làm được điều nay, thì trình độ hiểu biết, mức độ nhận thức và mong muốn lợi ích của người dân địa phương cần được quan tâm. Đề đạt được mục tiêu PTSK thì điều cần thiết là phát triển kinh tế nông thôn phải được ưu tiên bằng điều kiện tiên quyết là hiện đại hóa nông nghiệp và đồng thời thúc day phát triển đồng bộ các lĩnh vực phi kinh tế như giáo dục, y tế và dinh dưỡng (Barrett, Bezuneh, & Aboud, 2001).
Hiện đại hóa nông nghiệp là chuyên đôi nông nghiệp tự cung tự cấp sang nông nghiệp hàng hóa để đa dạng hoá sinh kế ở vùng nông thôn. Hiện đại hoá nông nghiệp cũng là cách để gia tăng vốn, tài sản của các hộ gia đình dé tăng thu nhập (Ellis & Bahiigwa, 2003). Do vậy, PTSK hộ gia đình cần có sự phát triển đồng bộ, có sự phối hợp với tât cả các tác nhân của xã hội, bao gôm nhà nước, chính quyên địa phương, doanh nghiệp, nhà khoa hoc va các tô chức xã hội. Sự phát triển của khu vực nông thôn còn được hiểu là các nỗ lực của chính phủ nhằm hỗ trợ người nghèo; huy động các nguồn lực tài chính từ cộng đồng; giúp nâng cao kỹ năng của thanh niên nông thôn để có cơ hội tự tạo việc làm; tạo điều kiện hình thành các nhóm tài chính vi mô; nâng cao năng lực quản lý tài chính, năng lực đầu tư.
Các nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển sinh kế hộ gia đình 1. Những nghiên cứu về yếu tố hoàn cảnh, hoạt động và chiến lược sinh kế Bối cảnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đô thị hoá có tác động tích cực và tiêu cực tới nhiều bên liên quan dé PTSK. Có những quan điểm trái chiều về việc có nên giữ đất nông nghiệp hay nên chuyển đổi mục dich sử dụng đất nông nghiệp sang các hoạt động phi nông nghiệp. Nghiên cứu của Nguyen & cộng sự (2020) và Zhou & Chi (2022) chỉ ra rằng việc mất đất nông nghiệp gây mat sinh kế nông nghiệp truyền thống và đe dọa an ninh lương thực, các tác động tương tự của việc mat đất canh tác cũng được thể hiện ở những nghiên cứu khác (ví dụ: các tác động tiêu cực ở Trung Quốc (Li & cong su, 2016; Zhou & Chi, 2022) va An Độ (Batar & cộng su, 2017; Mahapatra, 2007; Meher, 2009)).
Bên cạnh đó, nghiên cứu của Wang & cộng sự (2019) chỉ ra rằng khoảng 30% hộ gia đình mất đất buộc phải đi tìm việc làm phi nông nghiệp và điều này gây áp lực không nhỏ lên thị trường lao động. Tuy nhiên, việc chuyền đổi đất nông nghiệp cho quá trình mở rộng các thành phố vệ tinh và sự phát triển doanh nghiệp nông thôn tạo ra nhiều hơn các cơ hội việc làm phi nông nghiệp cho người nông dân ở Trung Quốc (Rigg, 2006). Đặc biệt, trong một số quốc gia Đông Nam Á và Châu Phi, những người nông dân từ bỏ việc làm nông nghiệp đề tìm kiếm những việc làm phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn tại những vùng đô thị (Pender & cộng sự, 2004; Tuyen, 2014). Vì vậy, đất đai đã mat dan đi vai trò thiết yếu trong việc tao dựng sinh kế nông nghiệp và vai trò của nó đã dan dần được thay thé bởi những nhân tố khác như giáo dục, kỹ năng và quan hệ.
Thêm nữa, Rigg (2006) đã tổng quan mối liên kết giữa đất đai, nông nghiệp, đói nghèo và sinh kế ở những vùng nông thôn tại các quốc gia đang phát triển (Châu Á và Châu Phi), tác giả cho rằng sinh kế và đói nghèo đã trở nên ít liên quan tới đất đai trong khi lượng kiều hối đóng một vai trò quan trọng đối với sinh kế và sinh kế nông thôn đang được đa dạng hóa hơn. Vì lý do này, chính sách phân phối đất đai không nên được xem là biện pháp chính dé giảm đói nghèo ở nông thôn. Hơn nữa, một số nghiên cứu khác khăng định thêm rằng sự phát triển đô thị dẫn đến chuyên đổi mục đích sử dụng đất là một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển và những tác động tiêu cực về việc làm nông nghiệp và thiếu hụt lương thực có thể được bù đắp bởi tiến bộ công nghệ, thâm canh tăng năng suất nông nghiệp và tạo việc làm mới trong khu vực phi nông nghiệp (ví dụ nghiên cứu ở Trung Quốc của Li & cộng sự (2016), Wang & cộng sự (2019), ở Ethiopia của Fitawok & cộng sự (2022) và Wayessa (2020)). Nghiên cứu của Koczberski & Curry (2005) chứng minh rằng mất đất canh tác lại có thể mang lại nhiều cơ hội mới cho các hộ gia đình vì chính sự khan hiếm đất đai được xem như một trong những nhân tố thúc đây những gia đình nông thôn phải đa dạng hóa sinh kế của họ.
Một phát hiện tương tự cũng được tìm thấy trong một nghiên cứu của Gregory & Mattingly (2009) và Kuwornu & Dumayiri (2014) ở Ghana và của Tuyen & cộng sự (2014) ở Việt Nam. Kamaruddin & Samsudin (2014) cũng đưa ra kết quả tương tự khi chỉ ra rằng chuyên đổi đô thị hóa và thích nghi thông qua hoạt động phi nông nghiệp là cơ hội cho các hộ gia đình tiếp cận hướng PTSK mới. Xem xét hoạt động sinh kế, các nghiên cứu khác chỉ ra rằng các nhóm nghèo và nghèo đa chiều có xu hướng tiếp cận đa dạng sinh kế bằng cách thực hiện các hoạt động trồng trọt và khai thác lâm sản (Đặng Hữu Liệu & Nguyễn Thị Hà Thành, 2017) hay các hoạt động sinh kế là sản xuất nông nghiệp theo hướng quảng canh, phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên (Đồng Thị Thanh & cộng sự, 2019) hoặc thông qua các hoạt động đa dạng hóa sinh kế trang trại, buôn bán chế biến nông sản, sản xuất lương thực (Xu & cộng sự 2015). Bên cạnh các hoạt động sinh kế, CLSK cũng được xem là một yếu tố tác động đến PTSK.