Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp. Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu. Thực trạng phát triển nông nghiệp tỉnh Trà Vinh.
Đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố tới sự phát triển NN tỉnh Trà Vinh. Định hướng, mục tiêu và giải pháp phát triển NN tỉnh Trà Vinh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP 1.
Khái niệm, đặc điểm của nông nghiệp 1. Khái niệm về nông nghiệp Khái niệm về nông nghiệp có nhiều nghiên cứu đề cập tới. Tổng cục Thống kê theo cách phân ngành cấp II – nông nghiệp gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ; Theo Nguyễn Như Ý (1998) Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, sử dụng đất để trồng trọt và chăn nuôi, khai thác cây trồng và vật nuôi làm tư liệu và nguyên liệu lao động chủ yếu để tạo ra lương thực, thực phẩm và một số nguyên liệu cho công nghiệp. Nông nghiệp là một ngành lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản.
Theo Phạm Văn Khôi và Hoàng Mạnh Hùng (2020) Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt và chăn nuôi, hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các ngành nông, lâm và ngư nghiệp. Và theo Bùi Quang Bình (2010) nông nghiệp là ngành kinh tế truyền thống gắn liền với điều kiện tự nhiên và sản xuất ra các sản phẩm thiết yếu cho xã hội. Từ đây có thể rút ra khái niệm như sau: Nông nghiệp là ngành kinh tế gắn bó mật thiết với tự nhiên, bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ, sản xuất ra sản phẩm thiết yếu - lương thực, thực phẩm cho xã hội. Đặc điểm của nông nghiệp Đặc điểm của ngành nông nghiệp đã trở thành chủ đề cho các công trình nghiên cứu gồm cả trong và ngoài nước, bao gồm Torado M.
Perkins và cộng sự (2013); Dwight H. Từ đây có thể tổng kết một số đặc điểm sau của ngành nông nghiệp như sau: - Thứ nhất: sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Sản xuất nông nghiệp thường mang tính thời vụ cao vì nó phụ thuộc vào mùa vụ và thời tiết. 7 Những yếu tố như lượng mưa, nhiệt độ và độ ẩm đất có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của cây trồng và động vật nuôi.
Khi lượng mưa quá ít hoặc quá nhiều, hoặc nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp, cây trồng và động vật nuôi có thể bị tổn thương hoặc không thể phát triển tốt. Các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch, chăm sóc cây trồng, chăn nuôi gia súc và gia cầm đều được thực hiện theo một chu kỳ mùa vụ. Nếu không thực hiện đúng thời gian, các cây trồng hoặc động vật nuôi sẽ không phát triển tốt và không cho sản lượng cao như kỳ vọng. Do đó sản xuất nông nghiệp yêu cầu phải có kế hoạch và thực hiện các hoạt động đúng thời điểm để đạt được hiệu quả sản xuất tốt nhất.
- Thứ hai: đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của nông nghiệp. Các ngành khác cũng có nhu cầu sử dụng đất nhưng không phải đối với bất cứ một ngành nào, đất đai đóng một vai trò chủ đạo như trong nông nghiệp. Tầm quan trọng của đất đai có liên quan đến quy mô dân số cũng như trình độ kỹ thuật canh tác được sử dụng cũng như điều kiện thời tiết khí hậu. - Thứ ba: đối tượng sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống, cây trồng và vật nuôi.
Cây trồng vật nuôi đều phụ thuộc vào môi trường sống để có thể phát triển và sinh sống. Việc cung cấp đủ nước, ánh sáng, dinh dưỡng và điều kiện môi trường khác là rất quan trọng đối với việc sản xuất nông nghiệp. Các loại cơ thể sống, cây trồng và vật nuôi có sự khác biệt về cách phát triển, cách sinh sản, nhu cầu dinh dưỡng và điều kiện sống. Chúng đều chịu tác động bởi các yếu tố bên ngoài như thời tiết, dịch bệnh, côn trùng, động vật ăn thịt và các yếu tố khác.
- Thứ tư: nông nghiệp là một ngành duy nhất sản xuất lương thực thực phẩm. Con người có thể sống mà không cần thép, than hoặc điện nhưng không thể thiếu lương thực, trên thực tế, phần lớn các sản phẩm chế tạo đều có thể thay thế, nhưng không có sản phẩm nào thay thế được thức ăn. Mỗi nước đều phải sản xuất được lương thực hoặc nhập khẩu lương thực. Khái niệm về phát triển nông nghiệp Về phát triển nông nghiệp có nhiều cách tiếp cận khác nhau, nhưng qua một số nghiên cứu khác nhau như: theo Phạm Vân Đình và cộng sự (1997) phát triển nông nghiệp được hiểu là quá trình thay đổi của nền nông nghiệp ở giai đoạn này so 8 với giai đoạn trước đó và thường đạt ở mức độ cao hơn cả về lượng và chất.
Nông nghiệp phát triển là một nền sản xuất vật chất có đầu ra ổn định, đa dạng về chủng loại, phù hợp về cơ cấu, thích ứng hơn về tổ chức và thể chế, thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của con người liên quan đến nông nghiệp. Bùi Quang Bình (2010) cho rằng phát triển nông nghiệp là quá trình thay đổi theo hướng hoàn thiện hơn về mọi mặt của sản xuất nông nghiệp như năng lực sản xuất, cơ cấu và trình độ tổ chức sản xuất để kết quả sản xuất được duy trì cao nhất có thể trong dài hạn. Theo Nguyễn Viết Tiến (2013) phát triển nông nghiệp nước ta ngày nay là quá trình chuyển nền nông nghiệp sản xuất nhỏ lạc hậu sang phát triển toàn diện nền sản xuất lớn tiên tiến, hiện đại, có cơ cấu hợp lý, gắn với mở rộng thị trường hội nhập tạo ra những tiền đề, điều kiện cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, nâng cao chất lượng cuộc sống nông dân và xây dựng nông thôn mới XHCN. Trên cơ sở đó có thể rút ra khái niệm về phát triển nông nghiệp như sau: - Phát triển nông nghiệp là trạng thái vận động theo xu hướng hoàn thiện hơn của sản xuất nông nghiệp về năng lực sản xuất, cơ cấu và trình độ kỹ thuật, tổ chức và năng suất.
Sự phát triển sản xuất nông nghiệp được thể hiện qua tăng trưởng kinh tế nông nghiệp cao hơn ổn định gắn với năng suất nông nghiệp cao hơn để đáp ứng và thích ứng với điều kiện thị trường và nền kinh tế; - Phát triển được thể hiện ở các mặt sau đây: duy trì tăng trưởng sản lượng nông nghiệp cao và ổn định theo thời gian; sự thay đổi cơ cấu nông nghiệp hợp lý; huy động và sử dụng nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp hiệu quả; tổ chức sản xuất theo hướng tham gia chuỗi giá trị nông nghiệp quốc gia và quốc tế; tăng nhanh năng suất nông nghiệp. Tầm quan trọng của phát triển nông nghiệp Với các nước đang phát triển, nông nghiệp là ngành sản xuất có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế. Từ các nghiên cứu của Todaro M.P (1998); Vũ Thị Ngọc Phùng (2006); Vũ Đình Thắng (2006); Phạm Văn Khôi và Hoàng Mạnh Hùng (2020)… có thể rút ra những đặc điểm sau: - Phát triển nông nghiệp bảo đảm cung cấp lương thực thực phẩm phục vụ nhu cầu cơ bản của con người: 9 + Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất xuất hiện sớm nhất của xã hội loài người. Sản phẩm quan trọng hàng đầu mà con người làm ra để nuôi sống mình là lương thực.
Cách đây khoảng một vạn năm, con người đã biết thuần dưỡng động vật hoang, trồng các loại cây rừng và biến chúng thành vật nuôi, cây trồng. Sự ổn định bước đầu của dân số thế giới là từ khi loài người biết trồng trọt và tạo được lương thực thực phẩm; + Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nông nghiệp ngày càng được mở rộng, các giống cây trồng vật nuôi ngày càng đa dạng, phong phú. Các Mác đã khẳng định, con người phải có ăn, sau đó mới đến các hoạt động khác. Ông đã chỉ rõ: nông nghiệp là ngành cung cấp tư liệu sinh hoạt cho con người.
Điều này khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của nông nghiệp trong việc nâng cao mức sống cho người dân, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cũng như sự ổn định chính trị xã hội của đất nước. - Phát triển nông nghiệp bảo đảm cung cấp nguyên liệu để phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và tạo thêm việc làm của dân cư: + Nông nghiệp là ngành cung cấp nguyên liệu quan trọng cho các ngành công nghiệp chế biến. Các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, đồ uống, công nghiệp dệt, da và đồ dùng bằng da… đều sử dụng nguồn nguyên liệu từ nông nghiệp; + Đối với các nước đang phát triển, nguyên liệu từ nông sản là bộ phận đầu vào chủ yếu để phát triển công nghiệp chế biến và nhiều ngành sản xuất hàng tiêu dùng. Hơn nữa thông qua công nghiệp chế biến, giá trị của nông sản được tăng lên và đa dạng hơn, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của thị trường trong nước và quốc tế.
Vì thế trong chừng mực nhất định, nông nghiệp có ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố các ngành công nghiệp chế biến. - Phát triển nông nghiệp bảo đảm cung cấp khối lượng hàng hoá lớn để xuất khẩu mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước: nông sản dưới dạng thô hoặc qua chế biến là bộ phận xuất khẩu hàng hoá chủ yếu của hầu hết các nước đang phát triển. Trong cơ cấu kim ngạch xuất khẩu, tỷ lệ nông sản xuất khẩu nhất là dưới dạng thô có xu hướng giảm đi, nhưng tăng lên về giá trị tuyệt đối. Vì vậy trong thời kỳ 10 đầu của quá trình công nghiệp hoá của nhiều nước, nông nghiệp trở thành ngành xuất khẩu chủ yếu, tạo ra tích luỹ để tái sản xuất và phát triển nền kinh tế quốc dân.
- Phát triển nông nghiệp để giải phóng lao động cung cấp cho công nghiệp và các lĩnh vực hoạt động khác của xã hội: đây là xu hướng có tính quy luật trong phân công lại lao động xã hội. Tuy vậy, khả năng di chuyển lao động từ nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác còn phụ thuộc vào việc nâng cao năng suất lao động trong nông nghiệp và vào việc phát triển công nghiệp và dịch vụ ở thành thị và cả việc nâng cao chất lượng nguồn lao động ở thành thị và nông thôn.