Pháp luật WTO về trợ cấp cho các nước đang phát triển: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích trợ cấp theo quy định WTO cho các nước đang phát triển, rút ra bài học cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

215
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1.1. Tình hình nghiên cứu

1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.2. Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

1.3. Đánh giá nghiên cứu về một số vấn đề lý luận pháp luật cơ bản của WTO về trợ cấp

1.4. Đánh giá những kết quả nghiên cứu về quy định của WTO về trợ cấp

1.5. Đánh giá nghiên cứu về pháp luật về trợ cấp của một số nước thành viên WTO và bài học kinh nghiệm với Việt Nam

1.6. Đề xuất hướng nghiên cứu của luận án

2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT CƠ BẢN CỦA WTO VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

2.1. Khái quát chung pháp luật WTO về trợ cấp

2.2. Sự hình thành và phát triển pháp luật WTO về trợ cấp

2.3. Nguồn của pháp luật WTO về trợ cấp

2.4. Các luận điểm kinh tế học về áp dụng và duy trì trợ cấp

2.4.1. Bản chất của trợ cấp

2.4.2. Tác động của trợ cấp đối với nước đang phát triển

2.4.3. Quan điểm của WTO về đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D)

2.4.4. Xác định và phân loại nước đang phát triển trong WTO

2.4.5. Nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt của WTO về trợ cấp

2.5. Quan điểm của WTO về trợ cấp và các biện pháp đối kháng trợ cấp đối với các nước đang phát triển

2.5.1. Quan điểm của WTO về trợ cấp

2.5.2. Quan điểm của WTO về các biện pháp đối kháng trợ cấp

2.6. Cơ chế giải quyết tranh chấp về trợ cấp

2.7. Mối quan hệ giữa pháp luật WTO về trợ cấp và các nguồn pháp luật liên quan

2.8. Pháp luật WTO về trợ cấp và các FTA

2.9. Pháp luật WTO về trợ cấp và pháp luật quốc gia

3. CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT WTO VỀ TRỢ CẤP ĐỐI VỚI NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP CỦA MỘT SỐ NƯỚC THÀNH VIÊN

3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật WTO về trợ cấp đối với nước đang phát triển

3.2. Xác định sự tồn tại của trợ cấp và biên độ trợ cấp

3.3. Xác định thiệt hại (injury) do trợ cấp gây ra

3.4. Áp dụng biện pháp chống trợ cấp đối với nước đang phát triển

3.5. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trợ cấp của một số thành viên WTO

3.5.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trợ cấp của Trung Quốc

3.5.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trợ cấp của Braxin

3.5.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trợ cấp của Hoa Kỳ

4. CHƯƠNG 4: BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP TRONG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ TRỢ CẤP CỦA VIỆT NAM

4.1. Thực trạng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam

4.2. Cam kết của Việt Nam về trợ cấp

4.3. Pháp luật về đóng góp tài chính của chính phủ

4.4. Pháp luật về chống trợ cấp sau khi gia nhập WTO

4.5. Đánh giá tính tương thích với Hiệp định SCM

4.6. Thực tiễn tranh chấp về trợ cấp đối với hàng hoá Việt Nam

4.7. Bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam

4.8. Tuân thủ quy định về trợ cấp xuất khẩu và trợ cấp nội địa hoá

4.9. Áp dụng và duy trì hỗ trợ trong nước cho nông nghiệp

4.10. Áp dụng các biện pháp đóng góp tài chính phù hợp

4.11. Áp dụng trợ cấp có mục tiêu

4.12. Đáp ứng nguyên tắc minh bạch

4.13. Xây dựng pháp luật chống trợ cấp hiệu quả

4.14. Đề xuất một số giải pháp trong hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam

4.14.1. Nhóm giải pháp nhằm tăng tính định hướng cho trợ cấp

4.14.2. Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện và tăng cường tính hiệu quả của pháp luật về trợ cấp

4.15. Những vấn đề về trợ cấp mà Việt Nam cần quan tâm khi tham gia các thoả thuận thương mại tự do

KẾT LUẬN CHUNG CỦA LUẬN ÁN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT VÀ ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến luận án

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc phân tích pháp luật WTO về trợ cấp cho các nước đang phát triển và những bài học cho Việt Nam. Tình hình nghiên cứu hiện tại cho thấy rằng, mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu về trợ cấp trong khuôn khổ WTO, nhưng các nghiên cứu cụ thể về Việt Nam còn hạn chế. Các tài liệu quốc tế đã chỉ ra rằng trợ cấp có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu. Đặc biệt, các nghiên cứu từ các nước như Trung Quốc, Braxin và Hoa Kỳ cung cấp những kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trong việc xây dựng chính sách trợ cấp phù hợp với quy định của WTO.

1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Nghiên cứu về pháp luật WTO liên quan đến trợ cấp cho các nước đang phát triển đã được thực hiện ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu cụ thể về Việt Nam vẫn còn thiếu. Một số luận án và tài liệu quốc tế đã chỉ ra rằng trợ cấp có thể giúp các nước đang phát triển vượt qua những thách thức trong thương mại quốc tế. Các nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp trợ cấp một cách hợp lý để bảo vệ lợi ích của các ngành sản xuất trong nước, đồng thời tuân thủ các quy định của WTO.

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu về pháp luật WTOtrợ cấp đang ngày càng được quan tâm. Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường chưa đi sâu vào việc phân tích các quy định cụ thể của WTO và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam. Các tài liệu hiện có chủ yếu tập trung vào việc đánh giá tác động của trợ cấp đối với nền kinh tế, mà chưa đề cập đến các khía cạnh pháp lý và chính sách cụ thể. Do đó, việc nghiên cứu sâu hơn về pháp luật về trợ cấp là cần thiết để xây dựng một khung pháp lý hiệu quả cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

II. Những vấn đề lý luận pháp luật cơ bản của WTO về trợ cấp đối với các nước đang phát triển

Chương này phân tích các quy định cơ bản của WTO về trợ cấp và cách thức áp dụng cho các nước đang phát triển. WTO đã thiết lập một khung pháp lý nhằm điều chỉnh hành vi trợ cấp của các chính phủ, với mục tiêu đảm bảo cạnh tranh công bằng trong thương mại quốc tế. Các quy định này bao gồm việc phân loại trợ cấp và xác định các biện pháp đối kháng. Đặc biệt, WTO cũng công nhận sự cần thiết phải có các biện pháp trợ cấp cho các nước đang phát triển nhằm hỗ trợ họ trong quá trình phát triển kinh tế. Điều này thể hiện qua các quy định về đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) dành cho các nước này.

2.1. Khái quát chung pháp luật WTO về trợ cấp

Pháp luật của WTO về trợ cấp được quy định trong nhiều hiệp định, trong đó có Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM). Các quy định này nhằm mục đích ngăn chặn các hành vi trợ cấp không công bằng, đồng thời tạo điều kiện cho các nước đang phát triển có thể nhận được sự hỗ trợ cần thiết. Việc phân loại trợ cấp thành các loại như trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, và trợ cấp nội địa là rất quan trọng để xác định tính hợp pháp của các biện pháp này trong bối cảnh thương mại quốc tế.

2.2. Tác động của trợ cấp đối với nước đang phát triển

Các nước đang phát triển thường gặp nhiều khó khăn trong việc cạnh tranh với các sản phẩm từ các nước phát triển. Trợ cấp có thể giúp các nước này duy trì và phát triển ngành sản xuất trong nước. Tuy nhiên, việc áp dụng trợ cấp cũng cần phải được thực hiện một cách cẩn trọng để tránh vi phạm các quy định của WTO. Các nghiên cứu cho thấy rằng, nếu được áp dụng đúng cách, trợ cấp có thể tạo ra những tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước.

III. Thực tiễn áp dụng pháp luật WTO về trợ cấp đối với nước đang phát triển

Chương này tập trung vào việc phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật WTO về trợ cấp đối với các nước đang phát triển, bao gồm cả Việt Nam. Các nghiên cứu cho thấy rằng, mặc dù có nhiều quy định của WTO về trợ cấp, nhưng việc thực thi và áp dụng các quy định này tại các nước đang phát triển vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Các nước như Trung Quốc, Braxin và Hoa Kỳ đã có những kinh nghiệm phong phú trong việc áp dụng trợ cấp, từ đó rút ra những bài học quý giá cho Việt Nam.

3.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật WTO về trợ cấp đối với nước đang phát triển

Việc áp dụng pháp luật WTO về trợ cấp tại các nước đang phát triển thường gặp nhiều thách thức. Các nước này cần phải cân nhắc giữa việc duy trì trợ cấp để bảo vệ ngành sản xuất trong nước và việc tuân thủ các quy định của WTO. Nhiều nước đã áp dụng các biện pháp trợ cấp một cách linh hoạt để phù hợp với tình hình kinh tế của mình, đồng thời vẫn đảm bảo tuân thủ các quy định quốc tế. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có một khung pháp lý rõ ràng và hiệu quả để quản lý các biện pháp trợ cấp.

3.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về trợ cấp của một số thành viên WTO

Các thành viên WTO như Trung Quốc, Braxin và Hoa Kỳ đã có những cách tiếp cận khác nhau trong việc áp dụng trợ cấp. Trung Quốc, với nền kinh tế chuyển đổi, đã áp dụng nhiều biện pháp trợ cấp để hỗ trợ các ngành công nghiệp mũi nhọn. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại có những quy định chặt chẽ hơn về trợ cấp và thường xuyên áp dụng các biện pháp đối kháng. Những kinh nghiệm này có thể giúp Việt Nam trong việc xây dựng và hoàn thiện chính sách trợ cấp của mình.

IV. Bài học kinh nghiệm và những giải pháp trong hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam

Chương cuối cùng của luận án đưa ra những bài học kinh nghiệm và giải pháp cho Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật về trợ cấp. Các nghiên cứu cho thấy rằng, để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm và doanh nghiệp trong nước, Việt Nam cần xây dựng một khung pháp lý rõ ràng và hiệu quả về trợ cấp. Điều này bao gồm việc áp dụng các biện pháp trợ cấp có mục tiêu, đồng thời đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc phân bổ trợ cấp.

4.1. Thực trạng pháp luật về trợ cấp của Việt Nam

Hiện nay, pháp luật về trợ cấp của Việt Nam còn nhiều hạn chế. Các quy định chưa thực sự hiệu quả trong việc hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước. Nhiều doanh nghiệp không thể tiếp cận được các biện pháp trợ cấp của Chính phủ. Do đó, cần có những cải cách mạnh mẽ trong chính sách trợ cấp để đảm bảo rằng các doanh nghiệp có thể nhận được sự hỗ trợ cần thiết trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.

4.2. Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ cấp của Việt Nam

Để hoàn thiện pháp luật về trợ cấp, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống quy định rõ ràng và minh bạch về trợ cấp. Các giải pháp có thể bao gồm việc tăng cường tính định hướng cho trợ cấp, hoàn thiện và tăng cường tính hiệu quả của pháp luật về trợ cấp, cũng như đảm bảo rằng các biện pháp trợ cấp được áp dụng một cách công bằng và hợp lý. Điều này sẽ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các sản phẩm và doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

06/02/2025
Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về trợ cấp đối với các nước đang phát triển theo quy định của wto bài học với việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một cuốn sách về luật WTO. Do đó, phần nghiên cứu đưa ra khá ngắn gọn, cơ bản và tác giả tập trung đưa ra những luận điểm về mối quan hệ xung đột của luật WTO nói chung mà chưa đưa ra những phân tích riêng về mối quan hệ xung đột của 12 luật WTO về trợ cấp với các nguồn luật trợ cấp khác. Cùng hướng với xu hướng nghiên cứu về pháp luật WTO nói chung, tác giả Raj Bhala (2001) cũng dành một phần nhỏ trong chương IV để nghiên cứu về mối quan hệ giữa cơ chế GATT-WTO và pháp luật của Hoa kỳ. [02, tr 176-184] Tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa cơ chế GATT — WTO với pháp luật liên bang của Hoa kỳ và với pháp luật từng bang của Hoa kỳ.

Xu hướng thứ hai, nghiên cứu nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ xung đột của pháp luật trợ cấp, có thê kế đến các tác giả Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid (2006) trong nghiên cứu “Quy định về trợ cấp và hỗ trợ nhà nước theo luật WTO và luật Cộng đồng Châu Âu — Xung đột luật quốc tế”. [48] Tác giả đã đưa ra các nghiên cứu về mối quan hệ giữa các quy định về trợ cấp của WTO và Bộ quy tắc hỗ trợ nhà nước của Cộng đồng Châu Âu (EC State aid Rules) tại phần IV của cuốn sách. Trong đó tác giả đã chỉ ra những điểm khác biệt cơ bản giữa quy tắc hỗ trợ nhà nước của Cộng đồng Châu Âu và Hiệp định SCM, va AOA.

Hay nhóm tác giả Clive Standbrook, Philip Bentley (1996) trong nghiên cứu “Dumping and Subsidies: The Law and procedures governing the imposition of anti-dumping and countervailing duties in the EC” đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa pháp luật trợ cấp của WTO và pháp luật về trợ cấp của EC. [69] Cũng với xu hướng nghiên cứu chuyên sâu về trợ cấp này, tác giả Christian Tietje (2004) với nghiên cứu “Current developments under the WTO Agreement on Subsidies and Countervailing Measures as an Examples for the Functional Unity of Domestic and International Trade Law”. Đánh giá những kết quả nghiên cứu về quy định của WTO về trợ cấp Nhìn chung, các quy định của WTO về trợ cấp là nội dung cơ bản trong những nghiên cứu về van đề trợ cấp nói chung với nhiều mức tiếp cận và phương pháp tiếp cận khác nhau: Về các quy định về trợ cấp thời kỳ GATT 1947: quy định về trợ cấp thời kỳ GATT 1947 không được nghiên cứu phô biến ở nhóm tài liệu trong nước, tuy nhiên có thé nhận thấy trong các tài liệu nước ngoài. Tác giả Melaku Geboye Desta (2002) đã nghiên cứu các quy định về trợ cấp xuất khâu và hỗ trợ trong nước đối với sản phâm nông nghiệp dưới thời kỳ ITO-GATT 1947 cũng như các quy định sửa đổi GATT vào năm 1955 và Đạo luật trợ cấp 1979.

Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của Melaku Geboye Desta không bao ham tat cả các quy định trợ cấp trong thời kỳ này mà tập trung nghiên cứu các quy định về trợ cấp xuất khâu và hỗ trợ trong nước đối với sản phẩm nông nghiệp. Luengo Hernandez de Madrid (2006) 13 đã đưa ra một nghiên cứu về các quy định trợ cấp dưới thoi ky GATT với nội dung rộng hơn so với nghiên cứu trên. Cụ thể tại chương 3 của nghiên cứu, [48, tr 35-96] tác giả đã phân tích đến sự ra đời và phát triển các quy định về trợ cấp trong WTO từ bản khởi đầu, dự thảo Hiến chương Havana, tiếp theo đó la GATT 1947 và các sửa đổi, sau nữa là Đạo luật trợ cấp — kết quả của vòng đàm phan Tokyo, và cuối cùng là các đàm phán trong vòng Uruguay — vòng đám phán đã đưa ra các quy định trợ cấp hiện hành. Nội dung tiếp cận nghiên cứu về quy định trợ cấp dưới thời kỳ GATT 1947 của Gustavo E.

Luengo Hernandez de Madrid rộng hơn so với nội dung nghiên cứu của Melaku Geboye Desta. Tuy nhiên Gustavo E. Luengo Hernandez de Madrid tập trung phân tích nhiều hơn về các yếu tô bên ngoài ảnh hưởng đến sự hình thành, thay đôi, phát triển của các quy định trợ cấp “tiền” WTO, hơn là phân tích cụ thể nội dung từng quy định về trợ cấp giai đoạn này. Về quy định của WTO về trợ cấp: các nghiên cứu tập trung phân tích các quy định của WTO về trợ cấp trong phạm vi Hiệp định SCM và AOA.

Ở trong nước, hầu hết các nghiên cứu ở mức cơ bản như giáo trình, tài liệu b6 trợ, hay những bài viết trên các trang thông tin điện tử đều nghiên cứu các quy định của WTO về trợ cấp theo xu hướng này, và ở mức mô tả quy định một cách giản lược. Một số nhà nghiên cứu đã đưa ra những phân tích quy định của về trợ cấp ở mức độ chi tiết và chuyên sâu hơn như Pham Quang Minh (2012) [13, tr 53-63] hay các tác gia nước ngoài như Raj Bhala (2001), [02, tr 643] Peter Van Den Bossche (2009). Tiếp cận nghiên cứu pháp luật WTO về trợ cấp một cách tông quát qua tất cả thời kỳ GATT cho đến WTO có thé thấy trong nghiên cứu của các tác giả như Marh Benitah (2001), Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid (2006).

Tác giả Malcolm Bosworth, Đỗ Trọng Khanh (9/2005) đã dành một phan trong nghiên cứu dé phân tích các quy định về trợ cấp của WTO theo hai nhóm, trợ cấp công nghiệp, các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại và trợ cấp nông nghiệp. Đối với trợ cấp công nghiệp, các tác giả tiếp cận Hiệp định SCM thông qua nghiên cứu một số quy định cơ bản về trợ cấp: khái niệm trợ cấp, trợ cấp bi cắm, trợ cấp có thê bị kiện, các biện pháp đối kháng trợ cấp, các quy định đối xử đặc biệt và khác biệt và các quy định khác. Đối với trợ cấp nông nghiệp, các tác giả tiếp cận nghiên cứu các quy định của AOA đối với trợ cấp xuất khâu và hỗ trợ trong nước dành cho hàng nông sản. Nghiên cứu cũng đã thê hiện mức độ phân tích chuyên sâu về mặt lý luận của một tham luận khoa học.

Các tác giả mô tả pháp luật WTO về tro cấp một cách đơn giản và ngăn gọn, làm tiên dé nghiên cứu các nội dung khác. 14 Về trợ cấp nông nghiệp nói riêng, tác giả Phạm Quang Minh (2012) đã nghiên cứu các quy định hiện hành của WTO về trợ cấp nông nghiệp tại chương 2 của luận án. Theo đó, tác giả nghiên cứu lần lượt quy định về trợ cấp nông nghiệp trong các Hiệp định: Hiệp định chung về thương mại và thuế quan - GATT 1994, Hiệp định SCM và AOA. Trong đó phần nghiên cứu của tác giả về GATT 1994 và Hiệp định SCM mang tính khái quát, làm tiền đề cho phần nghiên cứu về AOA.

Tác giả đã nghiên cứu về tiếp cận thị trường, hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu theo AOA. Trong đó, tác giả cho răng hỗ trợ trong nước là trợ cấp. Về trợ cấp xuất khẩu, tác giả tiếp cận nghiên cứu chưa sâu và chưa chỉ rõ được sự khác nhau về quan điểm trợ cấp xuất khâu trong AOA và Hiệp định SCM. Tác giả Melaku Geboye Desta (2002) đã đưa ra một nghiên cứu khá chỉ tiết.

Các quy định VỀ trợ cấp xuất khẩu được tiếp cận tại phần II và hỗ trợ trong nước được tiếp cận tại phần III của nghiên cứu. Pháp luật về trợ cấp nông nghiệp được Melaku Geboye Desta tiếp cận ở hai giai đoạn: giai đoạn “tiền-WTO” và giai đoạn WTO. Đối với giai đoạn WTO, điểm khác biệt của Melaku Ggeboye Desta so với các tác giả khác là mặc dù phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn đối với sản phẩm nông nghiệp, nhưng tác giả đã kết hợp phân tích các quy định vé trợ cấp ở cả hai Hiệp định: Hiệp định SCM và AOA. Cụ thể, Melaku Geboye Desta đưa ra quan điểm phân loại, trợ cấp xuất khẩu hàng nông nghiệp thuộc nhóm trợ cấp bị cắm và hỗ trợ trong nước bao gồm trợ cấp thay thế nhập khâu và các khoản trợ cấp có thê đôi kháng, không thé đối kháng.

Tác gia Thomas Weishing Guang (2003) trong “Trade Remedies: Laws on dumping, subsidies and safeguards in China” đã tập trung nghiên cứu về Hiệp định SCM trong mối tương quan so sánh với Quy định về chống trợ cấp của Trung Quốc (ASR). Tứ nhất, tác giả phân tích các yếu tô cầu thành trợ cấp theo Hiệp định SCM, đã được nhận xét tại phần các nghiên cứu về khái niệm trợ cấp. Thứ hai, tác giả tiếp cận các quy định của Hiệp định SCM vé trợ cấp bị cắm, trợ cấp có thể đối kháng và trợ cấp không thé đối kháng. Đối với nội dung này, tác giả chưa làm rõ sự thay đổi quy định của Hiệp định SCM đối với nhóm trợ cấp không thể đối kháng.

Thi? ba, tác giả nghiên cứu các chương trình trợ cấp mà Chính phủ có thể áp dụng phù hợp với Hiệp định SCM. Đây là một nghiên cứu kết hợp nghiên cứu các quy định trợ cấp của WTO và pháp luật chống trợ cấp của Trung Quốc. Tác giả đã áp dụng phương pháp so sánh trong tất cả các nội dung nghiên cứu nhằm chỉ ra sự tương thích và chưa tương thích của Quy định về chống trợ cấp của Trung Quốc với pháp luật WTO về trợ cấp. Do đó, dù ở nhiều nội dung vẫn còn mang tính khái quát, nhưng nghiên cứu đã cung câp nhiêu kiên thức và thông tin bô ích có thê kê thừa cho các nghiên cứu sau.

15 Nhóm tác gia Gustavo E. Luenco, Herrianclez de Madrid (2006) đã dành chương 4 trong phan II của cuốn “Regulation of subsidies and state Aids in WTO and EC law” dé nghiên cứu Hiệp định SCM [48, tr 97-206]. Thu nhát, nhóm tác giả đã dành một phần lớn trong chương IV đề phân tích và dẫn chiếu những tranh chấp liên quan tới khái niệm trợ cấp, đã được nhận xét trong phần các nghiên cứu về khái niệm trợ cấp. Thi hai, nhóm tác giả đã nghiên cứu các quy định cắm trợ cắm đối với từng loại: trợ cấp xuất khâu và trợ cấp thay thế xuất khẩu.

Đối với trợ cấp xuất khẩu, các tác giả phân tích rõ các yêu tố “de jure” và “de facto” và Phụ lục 1 của Hiệp định SCM. 7 ba, là phần nghiên cứu dành cho trợ cấp không thé đối kháng theo Điều 8 Hiệp định SCM. Và thứ tư, kết quả nghiên cứu dành cho trợ cấp có thể đối kháng theo Điều 5 và Điều 6 của Hiệp định SCM. Các nghiên cứu đối với trợ cấp theo AOA được thê hiện tại chương 5 của cuốn sách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ