Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương này tập trung nghiên cứu các nhóm công trình nghiên cứu về ngoại giao giáo dục trên thế giới và của Việt Nam, và các nhóm công trình nghiên cứu về hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học Việt Nam nhằm đưa ra các đánh giá tổng thể, những nội dung cần bổ sung để phát triển vào khoảng trống nghiên cứu ngoại giao giáo dục của Việt Nam. Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 2 nhằm tiếp cận cơ sở lý luận về ngoại giao giáo dục dưới góc độ khái niệm và nội hàm của hình thức ngoại giao này như một khung phân tích chính nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu xuyên suốt luận án. Chương này cũng phân tích bối cảnh khu vực và quốc tế cũng như những thành tựu của Việt Nam thời kỳ Đổi mới và hội nhập. Chương 3: Ngoại giao giáo dục của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2020 Chương này sẽ tập trung phân tích thực trạng triển khai ngoại giao giáo dục của Việt Nam giai đoạn 2001 - 2020.
Từ đó, ngoại giao giáo dục phục vụ cho các mục tiêu chính sách đối ngoại, quảng bá, khẳng định hình ảnh, vị thế của Việt Nam; đồng thời thúc đẩy hợp tác và hội nhập quốc tế về giáo dục của Việt Nam. 14 Chương 4: Ngoại giao giáo dục của Việt Nam - Trường hợp Đại học Quốc gia TP.HCM Chương này sẽ đi sâu vào phân tích trường hợp ngoại giao giáo dục của Đại học Quốc gia TP.HCM; từ đó đánh giá thành tựu ngoại giao giáo dục của Đại học Quốc gia TP.HCM, một chủ thể thuộc Nhà nước, trong tổng thể quá trình triển khai ngoại giao giáo dục của Việt Nam. Chương 5: Nhận xét và dự báo về xu hướng ngoại giao giáo dục của Việt Nam Chương này sẽ đưa ra đánh giá tổng quan về những mặt đạt được và những hạn chế của ngoại giao giáo dục Việt Nam. Qua đó, chương 5 đưa ra những nhận định về xu hướng phát triển của ngoại giao giáo dục trong thời gian tới; đồng thời đề xuất những gợi ý chính sách để thúc đẩy ngoại giao giáo dục của Việt Nam.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nhóm các công trình nghiên cứu về ngoại giao giáo dục trên thế giới Ngoại giao giáo dục là một hình thức ngoại giao kiểu mới. Tuy nhiên đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến ngoại giao giáo dục. Tác giả Patti McGill Peterson có bài viết “Diplomacy and Education: A Changing Global Landscape (Ngoại giao và giáo dục: bối cảnh toàn cầu thay đổi)” [Peterson, 2014, pp.
2-3] nêu bật vai trò của giáo dục và trao đổi học thuật trong việc xây dựng các mối quan hệ quốc tế và được mô tả bởi thuật ngữ “sức mạnh mềm”, dựa vào sức mạnh của việc truyền đạt các ý tưởng, văn hóa nhằm tạo ảnh hưởng đối với quan hệ hữu nghị và khuynh hướng của nước khác. Bài viết cũng khẳng định giáo dục đại học là một bộ phận của ngoại giao công chúng và là công cụ lý tưởng để thực thi sức mạnh mềm. Một ví dụ điển hình về ngoại giao giáo dục được các nước phương Tây vận dụng thành công là chương trình Fulbright — do Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ tài trợ — nhằm thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các quốc gia và công chúng, tổng hợp nên sức mạnh mềm từ mối liên kết giữa chính phủ và công chúng nước ngoài. Đây là chương trình tài trợ lớn nhất dành cho sinh viên và học giả trên toàn thế giới và được xem là một trong những tài sản ngoại giao lớn của Hoa Kỳ.
Một số ví dụ khác được đề cập trong bài viết là việc các quốc gia Châu Âu thành lập các cơ quan thúc đẩy ngoại giao giáo dục như Hội đồng Anh (British Council), Cơ quan Trao đổi Hàn lâm Đức (The German Academic Exchange Service - DAAD), hay mới nổi lên gần đây là ý tưởng của Trung Quốc về việc phát triển Viện Khổng Tử trên khắp thế giới. Tất cả những ví dụ ngoại giao giáo dục đó có điểm chung đều xuất phát từ nỗ lực của chính phủ nhằm xây dựng quan hệ văn hoá và thúc đẩy các cơ hội trao đổi hợp tác giáo dục, tiến đến mở rộng hình ảnh và tầm ảnh hưởng quốc gia trên trường quốc tế. Các chương trình học bổng và các nguồn tài trợ cho giáo dục thông qua các thể chế là các hình thức ngoại giao giáo dục; trong đó, các hoạt động hợp tác của các chủ thể phi nhà nước được xem là một bộ phận quan trọng trong nỗ lực ngoại giao của quốc gia. Tác giả cũng đưa ra lập luận rằng mục đích của ngoại giao giáo dục là tìm kiếm sự gắn kết cho tất cả chủ thể tham gia vào hoạt động hợp tác giáo dục.
Trong khi các tổ chức và chính phủ ở các quốc gia có nền giáo dục đại học phát triển đang 16 tạo ra các sáng kiến để tiếp nhận ngày càng nhiều sinh viên đến từ các quốc gia đang phát triển, các trường đại học tại các nước có nền giáo dục đại học đang phát triển lại tìm kiếm mối quan hệ với các tổ chức giáo dục có uy tín hơn để tăng cơ hội cải thiện thứ hạng nền giáo dục của họ. Cụ thể hơn, các nước có nền giáo dục đại học đang phát triển mong muốn theo đuổi các mục tiêu như làm phong phú chương trình đào tạo, mở rộng nền tảng kiến thức và kinh nghiệm cho sinh viên, đa dạng hoá sinh viên và giảng viên quốc tế của trường, cung cấp cơ hội để giảng viên của trường tham gia vào các mạng lưới nghiên cứu quốc tế, và phát triển các hoạt động hợp tác chung có lợi cho các bên. Liên quan đến Hoa Kỳ, một trong những quốc gia có nền giáo dục tiên tiến nhất trên thế giới, tác giả George P. Young có bài viết “Education as Diplomacy (Giáo dục như ngoại giao)” [Young, 1962].
Vào thập niên 60 của thế kỷ 20, Hoa Kỳ đối mặt với một vấn đề có phạm vi toàn cầu và ngày càng trở nên trầm trọng hơn. Đó là vấn đề xây dựng quan hệ với các nước khác khi Hoa Kỳ là nước thiểu số bị thù địch, ngay cả trong phạm vi châu Mỹ. Hoa Kỳ, vì thế, đã thúc đẩy chính sách láng giềng tốt bằng khoản đầu tư hàng triệu đô la Mỹ cho các nước Mỹ Latinh. Một trong những thể chế được Hoa Kỳ chú trọng là việc triển khai các chương trình giáo dục chính thức.
Các nhà giáo dục Bắc Mỹ đã tích cực hoạt động tại các nước Mỹ Latinh trong nhiều năm. Khoảng 300 trường học Bắc Mỹ đã được thành lập cùng với sự gia tăng của các hoạt động thương mại tại khu vực này, đặt tại tất cả hai mươi nước cộng hòa ở Mỹ Latinh với 4 nhóm trường: (1) các trường truyền giáo được thành lập bởi các nhóm công giáo và tin lành; (2) các trường học được tổ chức bởi các tập đoàn Bắc Mỹ ở Mỹ Latinh cho con em công chức, cán bộ Bắc Mỹ; (3) một vài trường tư thục vì lợi nhuận; và (4) các trường học phi lợi nhuận vì cộng đồng. Tuy nhiên, sự mở rộng số lượng của các trường này không mang lại hiệu quả tốt hơn cho mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và các nước Mỹ Latinh bởi nhiều lý do. Thông qua chương trình Dịch vụ trường học liên Mỹ, chỉ khoảng bốn mươi trường nhận được các khoản trợ cấp nhỏ hàng năm.
Thông qua sự tài trợ của chương trình, các cuộc họp và đề xuất thành lập các hiệp hội trường học khu vực cũng được khởi 17 xướng; tuy nhiên, có rất ít nỗ lực định hướng các trường hướng tới các mục tiêu liên quan đến quan hệ liên Mỹ. Một số tuyên bố hỗ trợ tài chính cho các trường học thông qua Luật Công 400 cũng được đề cập với điều kiện phương pháp giảng dạy của các trường nhận tài trợ phải theo chuẩn Bắc Mỹ. Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng 61% trong số các trường có hầu hết là trẻ em (80%-100%) được dạy bởi giáo viên trong nước ít nhất một phần của thời gian học. Chỉ 1/3 số trường cung cấp đào tạo tại chức cho giáo viên bản địa, mặc dù thực tế là phần lớn giáo viên Mỹ Latinh có trình độ kém.
Chỉ khoảng 1/3 giáo viên Bắc Mỹ tại các trường này có thể giao tiếp tốt bằng ngôn ngữ của nước sở tại. Trong 14% của các trường được báo cáo, ít hơn 1/5 giáo viên Bắc Mỹ được chứng nhận. Mặc dù hầu hết các hiệu trường (76%) báo cáo rằng họ có một chương trình thử nghiệm đã được thiết lập, 73% trong số đó thực tế không có hoạt động nào liên quan đế công tác kiểm tra ngôn ngữ nước sở tại. Gần 2/3 hiệu trưởng của các trường báo cáo rằng học sinh của họ không được chấp nhận chuyển tiếp lên sang các trường trong hệ thống quốc gia sau khi rời khỏi các trường học Bắc Mỹ.
Sau thời kỳ chiến tranh và mở ra kỷ nguyên hợp tác, Hoa Kỳ đã đạt được những bước tiến vượt bậc và trở thành một trong những quốc gia đi đầu trong ngoại giao giáo dục với hàng loạt các thể chế như chương trình Fulbright, Quỹ Ford, v.v… Trong quan hệ ngoại giao giáo dục của Hoa Kỳ thì châu Âu luôn đóng vai trò đặc biệt. Mối quan hệ này được thể hiện qua nghiên cứu “Higher Education Diplomacy in Transatlantic Relations: A US Perspective (Ngoại giao giáo dục đại học trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương: Một góc nhìn từ Hoa Kỳ)” [Rumbley, 2019]. Bài viết đưa ra ba nhận định. Thứ nhất, từ quan điểm của Hoa Kỳ, quan hệ xuyên Đại Tây Dương trong giáo dục đại học từ lâu đã được đặc trưng bởi mối quan hệ mạnh mẽ - cả lịch sử và đương đại về bản chất.
Tất cả đưa ra lý do cho một mức độ lạc quan thực sự cho tương lai của ngoại giao giáo dục đại học trong mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương, bất chấp những thách thức lớn. Thứ hai, mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương trong giáo dục đại học cũng được đặc trưng bởi các quan điểm và ưu tiên khác nhau, thường làm phức tạp sự gắn kết và có khả năng sẽ tiếp tục tiếp diễn. Sự khác biệt giữa các đồng minh thân cận chính là điểm quan trọng cần được 18 xác định và thừa nhận, từ đó được thương lượng một cách xây dựng nhằm tìm kiếm lợi ích của các bên. Thứ ba, những động lực tích cực trong mối quan hệ Hoa Kỳ - châu Âu rốt cuộc dường như lấn át tiêu cực.
Quan hệ ngoại giao giáo dục của Hoa Kỳ và châu Âu được công nhận bởi rất nhiều thể chế.