CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1. Dẫn nhập Chương này bao gồm hai nội dung chính: tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết. Tổng quan tình hình nghiên cứu về lời chỉnh sửa (ở nước ngoài và trong nước) nhằm phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu đã có của các tác giả trong và ngoài nước có liên quan mật thiết đến luận án, nêu lên những vấn đề còn tồn tại và chỉ ra những vấn đề luận án sẽ tập trung nghiên cứu và giải quyết. Phần cơ sở lí thuyết nhằm hệ thống lại một số vấn đề lí thuyết, từ đó xác lập cơ sở lí luận cho việc triển khai các nội dung nghiên cứu của luận án.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại ở nước ngoài Lời chỉnh sửa hội thoại lần đầu tiên được nghiên cứu một cách hệ thống trong công trình “The preference for self-correction in the organization of repair in conversation” (Sự ưa thích của hành động tự chỉnh sửa trong tổ chức của lời chỉnh sửa hội thoại) của Schegloff và cộng sự (1977). Từ công trình có tính chất tiên phong này, hàng loạt nghiên cứu về lời chỉnh sửa đã ra đời tập trung vào một số vấn đề như khái niệm lời chỉnh sửa, cấu trúc và các chiến lược chỉnh sửa trong các bối cảnh tương tác khác nhau và trong các ngôn ngữ khác nhau. Đáng chú ý là có những bài viết bước đầu chỉ ra sự tác động của các nhân tố văn hoá - xã hội lên việc thực hiện lời chỉnh sửa.
Nghiên cứu lời chỉnh sửa trong các bối cảnh giao tiếp khác nhau Kể từ nghiên cứu kinh điển của Schegloff và cộng sự (1977) về lời chỉnh sửa trong tiếng Anh, lời chỉnh sửa đã được mở rộng phạm vi nghiên cứu trong nhiều bối cảnh và góc độ khác nhau. Từ những nghiên cứu về lời chỉnh sửa trong các cuộc hội thoại tự nhiên như là một cách sửa chữa 16 những hiểu lầm trong hội thoại [Hirst, McRoy, Heeman, Edmonds, Horton, 1994] hay với những phân tích chỉnh sửa ngôn ngữ trong hội thoại của trẻ em [Konefal & Fokes, 1984]., lời chỉnh sửa được tìm hiểu ở các bối cảnh mang tính đặc thù như lời chỉnh sửa trong tương tác trên lớp học; lời chỉnh sửa trong các buổi khám bệnh giữa bác sĩ và bệnh nhân; lời chỉnh sửa trong giao tiếp hội thoại ở góc độ bệnh học. Nghiên cứu về chỉnh sửa trong tương tác trên lớp học với các nghiên cứu của nhiều tác giả như McHoul (1990); Egbert (1998); Liebsher & Dailey- O’cain (2003); Macbeth (2004); Seedhouse (2004), Seong (2004), Seo (2008), Cho (2008), Cho & Larke (2010); Fotovatnia và các cộng sự (2013). Trong bối cảnh lớp học, Seedhouse (2004) định nghĩa lời chỉnh sửa là việc xử lí những sự cố xảy ra trong diễn ngôn lớp học.
Sự cố ở đây có thể là bất cứ điều gì mà cả giáo viên và học sinh đều nhìn nhận là ảnh hưởng đến giao tiếp. Chỉnh sửa trong diễn ngôn sư phạm là một cơ chế hội thoại quan trọng cho phép giáo viên và học sinh hiểu được những "sự cố" trong giao tiếp ngôn ngữ có thể được sửa chữa như thế nào. Về nguyên tắc cả giáo viên và học sinh đều có thể là người khởi xướng chỉnh sửa hoặc là người thực hiện hành động chỉnh sửa. Ngoài 5 chiến lược khởi xướng chỉnh sửa được gợi ý trong công trình nghiên cứu hội thoại đời thường của Schegloff và cộng sự (1977, tr 367- 368) (bao gồm: 1.
chiến lược khởi xướng không chỉ rõ nguồn vấn đề; 2. chiến lược khởi xướng bằng câu hỏi có từ để hỏi; 3. chiến lược khởi xướng bằng cách nhắc lại một phần lượt nói chứa nguồn sự cố trong một câu hỏi; 4. chiến lược khởi xướng bằng cách nhắc lại một phần lượt nói chứa nguồn sự cố; và 5.
chiến lược khởi xướng bằng gợi ý một cách hiểu lượt nói chứa nguồn sự cố), khi mở rộng phạm vi nghiên cứu trong bối cảnh lớp học, một số chiến lược khởi xướng khác đã được nhiều tác giả bổ sung. Chẳng hạn, khi nghiên cứu các chiến lược chỉnh sửa do người học khởi xướng Egbert (1998) bổ sung 17 vào danh sách 5 chiến lược của Schegloff và cộng sự chiến lược gợi ý nhắc lại; Liebscher & Daley-O’Cain (2003) phát hiện thêm chiến lược yêu cầu định nghĩa, giải thích, dịch. Xem xét lớp học ngoại ngữ của học sinh tiểu học ở Hàn Quốc, Cho & Larke (2010) nhận thấy học sinh sử dụng 9 chiến lược khởi xướng chỉnh sửa, trong đó ngoài 7 chiến lược đã nhắc ở trên còn thêm hai chiến lược nữa là sửa lỗi và sử dụng hành động phi ngôn từ. Nghiên cứu này đã hướng sự chú ý của giáo viên đến các loại sự cố thường xảy ra trên lớp học ở cấp tiểu học và cách xử lí những sự cố này để có tương tác thành công.
Trong lớp học ngoại ngữ, Drew (2005) nhận thấy rằng các chiến lược chỉnh sửa do giáo viên khởi xướng thường xuất hiện nhiều ở các tiết học tập trung vào sự chính xác, còn các chiến lược chỉnh sửa do học sinh khởi xướng lại xuất hiện nhiều hơn ở các tiết học tập trung vào các hoạt động thực hành. Nghiên cứu của Yue Jian-Ying (2015) ở một lớp học ngoại ngữ ở Trung Quốc cho thấy giáo viên sử dụng chiến lược tự khởi xướng và tự chỉnh sửa nhiều hơn các chiến lược chỉnh sửa khác đã được thông báo trong các công trình nghiên cứu trước đây, và ba chiến lược tự chỉnh sửa được giáo viên sử dụng là lặp lại, mở rộng và thay thế. Seo (2008) cũng nghiên cứu mối quan hệ giữa lời chỉnh sửa trong hội thoại và những hành động phi ngôn từ trong việc thực hiện lời chỉnh sửa nhằm hỗ trợ việc dạy và học tiếng Anh như một ngôn ngữ thứ hai. Không chỉ được mở rộng nghiên cứu trong bối cảnh lớp học, lời chỉnh sửa còn được tìm hiểu trong các buổi khám bệnh giữa bác sĩ và bệnh nhân với công trình "Conversation Repair: Case Studies in Doctor-Patient Communication" của Frederic (1995).
Trên cơ sở tư liệu là các cuộc hội thoại thực tế, công trình đầu tiên đã đi vào mô tả chi tiết hội thoại giữa bác sĩ và bệnh nhân. Sau đó tìm hiểu cách đặt câu hỏi phù hợp với từng tình huống cụ thể. Cuối cùng đưa ra đề xuất về các chiến lược và kĩ thuật chỉnh sửa nhằm 18 nâng cao kĩ năng giao tiếp của bác sĩ với bệnh nhân theo hướng lấy bệnh nhân làm trung tâm. Ngoài ra, lời chỉnh sửa còn được nghiên cứu trong giao tiếp hội thoại dưới góc độ bệnh học với các công trình của nhiều tác giả.
Brady, Steeples, Fleming (2005) nghiên cứu về tác động của các mức độ biểu đạt và tiếp thu ngôn ngữ đối với các hành vi giao tiếp được khởi xướng và chỉnh sửa ở trẻ chậm phát triển ngôn ngữ. Đối tượng nghiên cứu là 45 trẻ em ở độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi bị chậm phát triển ngôn ngữ nghiêm trọng (bao gồm cả khả năng biểu đạt cũng như khả năng tiếp thu ngôn ngữ), trong đó có 41/ 45 trẻ có IQ dưới mức trung bình. Nghiên cứu sử dụng tư liệu là những tương tác theo kịch bản của trẻ với giám khảo được ghi hình. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ giao tiếp biểu cảm đã góp phần tạo nên sự khác biệt trong việc sửa chữa của trẻ em sau những sự cố giao tiếp; tuy nhiên, đóng góp này không đáng kể.
Caplan, Guthrie Komo (1996) tìm hiểu về chỉnh sửa hội thoại ở trẻ em bị tâm thần phân liệt với trẻ em bình thường. Nghiên cứu này đã so sánh các chiến lược tự chỉnh sửa mà trẻ tâm thần phân liệt và trẻ bình thường sử dụng cũng như mối quan hệ của chúng với chứng rối loạn tư duy hình thức, khiếm khuyết diễn ngôn và khả năng phân tâm. Kết quả cho thấy, một số chiến lược chỉnh sửa (bắt đầu sai, bổ sung, sửa đổi tham chiếu) được trẻ bị tâm thần phân liệt sử dụng ít hơn so với những đứa trẻ bình thường. Bên cạnh rối loạn tư duy hình thức và khiếm khuyết trong diễn ngôn, trẻ em tâm thần phân liệt sử dụng không đúng mức các chiến lược tự chỉnh sửa khi trình bày suy nghĩ của mình với người nghe, đặc biệt nếu chúng đang được điều trị bằng thuốc an thần.
Từ đó, nhóm tác giả cho rằng, kỹ năng giao tiếp kém có thể phản ánh các dấu hiệu tiêu cực trong bệnh tâm thần phân liệt khởi phát ở trẻ em. 19 Orange, Lubinski, Higginbotham (1996) nghiên cứu về chỉnh sửa trong hội thoại của những người mắc chứng mất trí nhớ của bệnh Alzheimer. Chỉnh sửa hội thoại đã được tìm hiểu trêm cơ sở tư liệu là băng ghi hình các cuộc nói chuyện tự phát trong giờ ăn của 6 người lớn tuổi bình thường, 5 đối tượng mắc chứng mất trí nhớ giai đoạn đầu (EDAT) và 5 đối tượng mắc chứng mất trí nhớ giai đoạn giữa của bệnh Alzheimer (MDAT) với một thành viên gia đình đóng vai trò là đối tác trò chuyện. Kết quả đã chỉ ra những khác biệt về sự cố cần chỉnh sửa, tín hiệu xác định sự cố và cách thức chỉnh sửa giữa các hai nhóm EDAT và MDAT.
Những phát hiện này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển các chiến lược nâng cao giao tiếp của người chăm sóc gia đình dành riêng cho giai đoạn lâm sàng của DAT. Tiếp cận lời chỉnh sửa từ góc độ bệnh học, trình tự chỉnh sửa trong hội thoại của các cặp vợ chồng mất ngôn ngữ với các nhà trị liệu ngôn ngữ cũng được quan tâm tìm hiểu [Lindsay & Wilkinson, 1999]. Ở góc độ bệnh học, lời chỉnh sửa còn được nghiên cứu trong giao tiếp của người tự kỉ với nghiên cứu của Volden (2004); Philip (2008). Bài viết vì thế đã đi vào tìm hiểu và đánh giá khả năng chỉnh sửa của trẻ mắc ASD khi liên tục đối mặt với sự cố được biểu thị thông qua một loạt phản hồi bằng các yêu cầu làm rõ (RQCL) xếp chồng lên nhau (như "Cái gì?", "Tôi không hiểu", "Hãy nói với tôi bằng cách khác").
Kết quả về khả năng chỉnh sửa thành công các sự cố trong giao tiếp đã đặt ra câu hỏi về một số lý thuyết hiện có về nguồn gốc và bản chất của những khiếm khuyết trong giao tiếp xã hội ở bệnh tự kỷ. Đối tượng trong nghiên cứu của Philip (2008) là lời chỉnh sửa trong giao tiếp tự nhiên của 3 thanh thiếu niên mắc chứng rối loạn phổ tự kỉ (ASD) khi giao tiếp với nhà nghiên cứu và 20 khi giao tiếp với thanh thiếu niên tự kỉ khác.