Luận án TS: Nghiên cứu ứng dụng chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc - Lê Thị Hồng Nhung

Tôi có thể giúp bạn tạo meta tags cho bài viết "Nghiên cứu ứng dụng chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc" như sau: { "ai_description": "Nghiên cứu ứng

Trường đại học

Trường Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Nhãn khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ y học

2021

170
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc

Chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc (Orthokeratology - Ortho-k) là phương pháp điều trị cận thị không phẫu thuật. Phương pháp sử dụng kính tiếp xúc cứng thấm khí (RGP) đeo vào ban đêm để thay đổi hình dạng giác mạc. Cơ chế hoạt động dựa trên nguyên lý áp lực cơ học. Kính ortho-k tạo áp lực lên bề mặt giác mạc thông qua phim nước mắt. Áp lực này làm phẳng vùng trung tâm giác mạc. Độ cong giác mạc thay đổi giúp điều chỉnh tiêu điểm ánh sáng. Kết quả là bệnh nhân có thể nhìn rõ vào ban ngày mà không cần kính. Phương pháp này có lịch sử phát triển từ những năm 1960. Chất liệu kính đã cải tiến từ PMMA sang RGP thấm khí tốt hơn. Ortho-k được FDA phê duyệt cho việc tạm thời điều chỉnh cận thị. Nghiên cứu cho thấy ortho-k có hiệu quả kiểm soát tiến triển cận thị. Đặc biệt ở trẻ em và thanh thiếu niên, phương pháp này mang lại kết quả khả quan.

1.1. Đặc điểm cấu tạo giác mạc liên quan đến điều trị

Giác mạc là lớp mô trong suốt nằm phía trước nhãn cầu. Độ dày giác mạc trung tâm khoảng 520-540 micromet. Bán kính cong giác mạc trung bình khoảng 7,8mm. Cấu trúc giác mạc gồm 5 lớp mô học chính. Lớp biểu mô có khả năng tái tạo và thay đổi hình dạng dưới tác động cơ học. Đây là cơ sở để ortho-k phát huy tác dụng. Khúc xạ giác mạc đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh thị lực. Công suất khúc xạ giác mạc chiếm khoảng 2/3 tổng công suất khúc xạ của mắt. Sự thay đổi hình dạng giác mạc làm thay đổi điểm hội tụ ánh sáng. Các chỉ số như đường kính ngang giác mạc (HVID) ảnh hưởng đến thiết kế kính.

1.2. Các loại kính tiếp xúc sử dụng trong chỉnh hình

Kính tiếp xúc cứng thấm khí (RGP) là loại kính chính dùng trong ortho-k. Chất liệu RGP có chỉ số thấm khí (Dk) cao cho phép oxy đi qua. Kính có cấu trúc gồm 3 đường cong cơ bản: vùng quang học, vùng chuyển tiếp và vùng rìa. Đường kính kính thường nhỏ hơn đường kính giác mạc. Vùng quang học mặt sau (BOZD) và bán kính vùng quang học (BOZR) là các thông số quan trọng. Thiết kế kính ortho-k có đặc điểm riêng biệt so với kính RGP thông thường. Cạnh rìa kính được thiết kế để tạo hồ nước mắt phù hợp. Hình ảnh nhuộm fluorescein đánh giá sự phù hợp của kính trên giác mạc. Kính phải định tâm tốt trên giác mạc để đảm bảo hiệu quả điều trị.

II. Phân tích cơ chế và hiệu quả điều trị cận thị

Cơ chế tác động của kính ortho-k lên giác mạc đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Kính tạo áp lực cơ học lên lớp biểu mô giác mạc qua phim nước mắt. Áp lực này làm di chuyển và tái phân bố tế bào biểu mô. Vùng trung tâm giác mạc trở nên phẳng hơn. Vùng cận rìa giác mạc dốc lên tạo hình dạng mới. Thay đổi này làm giảm công suất khúc xạ của giác mạc. Kết quả là giảm độ cận thị tạm thời cho bệnh nhân. Hiệu quả điều trị được đo bằng thị lực không kính (UCVA) và độ cầu tương đương (SE). Nhiều nghiên cứu quốc tế và trong nước đã chứng minh hiệu quả. Nghiên cứu tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ thành công cao. Độ cận thị ban đầu ảnh hưởng đến kết quả điều trị cuối cùng. Cận thị nhẹ và trung bình cho kết quả tốt hơn. Tuy nhiên, cận thị cao vẫn có thể đạt được cải thiện đáng kể.

2.1. Thay đổi cấu trúc giác mạc sau điều trị

Sau điều trị ortho-k, độ dày biểu mô trung tâm giảm đáng kể. Độ dày giác mạc toàn phần tại trung tâm cũng thay đổi. Biểu mô vùng trung tâm bị nén mỏng đi. Biểu mô vùng cận rìa dày lên tương ứng. Sự tái phân bố này tạo ra hình dạng giác mạc mới. Công suất giác mạc đỉnh (ACP) giảm sau điều trị. Độ cong vùng trung tâm phẳng hơn, vùng rìa dốc hơn. Các thay đổi này được ghi nhận qua đo bản đồ giác mạc topography. Hình ảnh cho thấy rõ vùng điều trị và vùng chuyển tiếp. Thay đổi cấu trúc giác mạc có tính chất tạm thời. Sau ngừng đeo kính, giác mạc dần trở về hình dạng ban đầu.

2.2. Hiệu quả kiểm soát tiến triển cận thị

Ortho-k không chỉ cải thiện thị lực tức thì mà còn kiểm soát tiến triển cận thị. Cơ chế kiểm soát liên quan đến quang sai võng mạc ngoại vi. Kính ortho-k tạo ra hình ảnh viễn thị ở vùng ngoại vi võng mạc. Tín hiệu viễn thị ngoại vi này làm chậm tăng trưởng trục nhãn cầu. Nghiên cứu cho thấy giảm 40-60% tốc độ tăng cận thị. Chiều dài trục nhãn cầu tăng chậm hơn so với nhóm đeo kính gọng. Hiệu quả kiểm soát tốt hơn ở trẻ em có độ cận ban đầu thấp đến trung bình. Nghiên cứu Charm ghi nhận sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p=0,005). Thời gian đeo kính đủ dài là yếu tố quan trọng. Đeo kính mỗi đêm duy trì hiệu quả kiểm soát ổn định.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị

Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị ortho-k. Độ cận thị ban đầu là yếu tố quan trọng nhất. Cận thị nhẹ đến trung bình (dưới -5.00 D) cho kết quả tốt nhất. Độ cận cao hơn đòi hỏi thời gian điều trị dài hơn. Tuổi bắt đầu điều trị cũng ảnh hưởng đến hiệu quả. Trẻ em và thanh thiếu niên thường đáp ứng tốt hơn. Khúc xạ giác mạc ban đầu có liên quan đến kết quả điều trị. Tuy nhiên, mối liên quan này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Bán kính cong giác mạc ảnh hưởng đến thiết kế kính phù hợp. Đường kính đồng tử và nhãn trục là các yếu tố cần xem xét. Sự tuân thủ của bệnh nhân rất quan trọng. Đeo kính đúng thời gian quy định đảm bảo hiệu quả tối ưu. Vệ sinh kính và bảo quản đúng cách ngăn ngừa biến chứng. Tái khám định kỳ theo dõi tiến triển và điều chỉnh kính.

3.1. Ảnh hưởng của độ cận thị ban đầu

Độ cận thị ban đầu quyết định mục tiêu điều trị và kết quả cuối cùng. Cận thị dưới -3.00 D thường đáp ứng nhanh và hoàn toàn. Cận thị từ -3.00 đến -5.00 D cần thời gian điều trị lâu hơn. Cận thị trên -5.00 D có thể cần kết hợp kính gọng ban ngày. Nghiên cứu cho thấy mối tương quan giữa độ cận ban đầu và mức giảm. Độ cận ban đầu cao hơn thì mức giảm tuyệt đối lớn hơn. Tuy nhiên, tỷ lệ giảm tương đối lại cao hơn ở cận thấp. Mountford (1997) tìm thấy tương quan mạnh giữa khúc xạ giác mạc và độ cận giảm. Khúc xạ giác mạc ban đầu không phải yếu tố dự đoán đáng tin cậy. Cần đánh giá toàn diện các yếu tố trước khi lập kế hoạch điều trị.

3.2. Ảnh hưởng của tuổi và các yếu tố sinh lý

Tuổi bắt đầu điều trị ảnh hưởng đến hiệu quả kiểm soát cận thị. Trẻ em từ 6-12 tuổi thường cho kết quả kiểm soát tốt nhất. Giai đoạn này mắt đang phát triển và dễ đáp ứng với điều trị. Thanh thiếu niên trên 16 tuổi hiệu quả kiểm soát có thể giảm. Tốc độ tăng cận thị tự nhiên cao hơn ở trẻ nhỏ. Điều trị sớm giúp hạn chế tăng trưởng trục nhãn cầu hiệu quả. Các yếu tố sinh lý như độ dày giác mạc cần được đánh giá. Giác mạc mỏng có thể hạn chế mức độ điều trị. Đồng tử lớn hơn có thể ảnh hưởng đến chất lượng thị lực ban đêm. Biểu đồ tăng trưởng sinh lý giúp dự đoán tiến triển cận thị. Đánh giá toàn diện giúp tối ưu hóa kế hoạch điều trị cá nhân hóa.

IV. Ứng dụng và triển vọng của phương pháp ortho k

Phương pháp ortho-k đã được ứng dụng rộng rãi trên toàn thế giới. Tại Việt Nam, phương pháp này ngày càng phổ biến. Nhiều trung tâm nhãn khoa triển khai dịch vụ ortho-k. Đối tượng chính là trẻ em và thanh thiếu niên bị cận thị. Phương pháp phù hợp với những người không muốn phẫu thuật. Đặc biệt hữu ích cho vận động viên và người làm việc trong môi trường bụi. Ortho-k giúp kiểm soát cận thị tiến triển hiệu quả. Tỷ lệ cận thị toàn cầu đang gia tăng đáng báo động. Ước tính 50% dân số thế giới sẽ cận thị vào năm 2050. Ortho-k đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phòng chống cận thị. Công nghệ thiết kế kính ngày càng tiến bộ. Kính ortho-k thế hệ mới có tính cá nhân hóa cao. Đo đạc giác mạc bằng công nghệ cao giúp tối ưu hóa thiết kế. Triển vọng phát triển rộng mở với nhiều nghiên cứu đang tiến hành.

4.1. An toàn và biến chứng trong điều trị

An toàn là yếu tố quan trọng hàng đầu trong điều trị ortho-k. Biến chứng thường gặp nhất là viêm giác mạc nhiễm trùng. Nguy cơ nhiễm trùng tăng nếu vệ sinh kính không đúng cách. Viêm giác mạc do Acanthamoeba là biến chứng nghiêm trọng nhất. Tỷ lệ biến chứng thấp khi tuân thủ đúng quy trình. Bệnh nhân cần được hướng dẫn kỹ về vệ sinh và bảo quản kính. Dung dịch ngâm kính phải được thay thế đúng hạn. Không sử dụng nước máy để rửa kính. Tái khám định kỳ giúp phát hiện sớm các vấn đề. Ngưng đeo kính ngay khi có dấu hiệu bất thường. Biến chứng nhẹ như khô mắt, ngứa có thể xảy ra. Đánh giá thường xuyên đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.

4.2. Triển vọng nghiên cứu và phát triển

Nghiên cứu về ortho-k đang được mở rộng trên nhiều khía cạnh. Thiết kế kính tích hợp kiểm soát cận thị ngoại vi đang được phát triển. Công nghệ in 3D giúp tạo kính cá nhân hóa chính xác hơn. Nghiên cứu kết hợp ortho-k với thuốc nhỏ atropine nồng độ thấp. Kết hợp phương pháp có thể tăng hiệu quả kiểm soát cận thị. Nghiên cứu dài hạn đánh giá tác động trên 10 năm đang tiến hành. Công nghệ trí tuệ nhân tạo hỗ trợ thiết kế kính tối ưu. Ứng dụng di động giúp theo dõi và quản lý điều trị. Nghiên cứu đa trung tâm tại Việt Nam cung cấp dữ liệu thực tế. Hướng nghiên cứu mới bao gồm ortho-k cho lão thị. Triển vọng ứng dụng rộng rãi hơn trong tương lai gần.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu áp dụng chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Tật khúc xạ là một trong những nguyên nhân chính gây giảm thị lực, là bệnh có thể tránh đƣợc góp phần giảm tỷ lệ mù lòa. Theo thống kê, dự đoán đến năm 2020 tỷ lệ tật khúc xạ trên thế giới ƣớc chừng 2,5 tỷ ngƣời chiếm gần bằng một phần ba dân số thế giới, trong đó 80%-95% mắc tật khúc xạ cận thị. Tỷ lệ này tiếp tục gia tăng không ngừng, ƣớc t nh đến năm 2050 tỷ lệ cận thị sẽ tăng lên 50% dân số [1], [2]. Tỷ lệ cận thị chiếm cao nhất vẫn là những nƣớc châu Á, tập trung nhiều ở lứa tuổi học sinh và sinh viên nhƣ Đài Loan (83%), Hồng Kông (80%), Trung Quốc (53%) [3], [4],[5], [6], [7].

Ở Việt Nam, theo điều tra của Vũ Thị Thanh năm 2009, tỷ lệ tật cận thị học sinh Hà Nội là 33,7%[8]. Điều tra của Lê Thị Thanh Xuyên và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ cận thị là khoảng 39,35%[9]. Gần đây nhất, Nguyễn Thị Huyền và cộng sự năm 2019 điều tra trên diện rộng trong cả nƣớc, tỷ lệ tật cận thị học đƣờng là 32,8% [10]. Chính vì vậy, việc tìm ra những phƣơng pháp điều trị cận thị luôn thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu và cộng đồng.

Việc điều trị cận thị ngoài việc dùng các phƣơng pháp để điều chỉnh lấy lại thị lực tốt nhất cho bệnh nhân thì kiểm soát tiến triển cận thị cũng là một vấn đề đang rất đƣợc quan tâm với các nhà khoa học. Cận thị cao sẽ dẫn tới nguy cơ thoái hóa võng mạc, xuất huyết võng mạc, glôcôm, đục thể thủy tinh, bong võng mạc, làm tăng nguy cơ mù lòa [11],[12]. Hiện nay, điều chỉnh cận thị bằng kính tiếp xúc là phƣơng pháp can thiệp ít xâm lấn mang lại lựa chọn cho bệnh nhân không muốn đeo kính gọng, thuận tiện trong sinh hoạt và chơi thể thao, là giải pháp cho những bệnh nhân lệch khúc xạ nhiều, dùng cho cả trẻ em và ngƣời lớn. Trên thế giới, kính tiếp xúc đã đƣợc nghiên cứu từ lâu với nhiều thay đổi thiết kế, chất liệu khác nhau.

Kính tiếp xúc điều chỉnh cận thị có 2 loại chính là kính tiếp xúc mềm và kính tiếp xúc cứng. Kính tiếp xúc mềm rất phổ biến ở các nƣớc 2 phát triển, nhƣng do dùng cho đeo ban ngày nên ảnh hƣởng quá trình hấp thụ oxy giác mạc, ít phù hợp với điều kiện khí hậu và môi trƣờng Việt Nam. Ngày nay, thế giới đã phát triển kính tiếp xúc cứng đeo ban đêm (orthokeratology hay còn gọi ortho-k) để chỉnh hình giác mạc nhằm điều chỉnh độ khúc xạ và kiểm soát tiến triển cận thị. Phƣơng pháp chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc cứng đã đƣợc tiến hành từ những năm của thập kỉ 60 trên thế giới.

Qua nhiều cuộc cách mạng về thiết kế, chất liệu kính thấm khí, các phƣơng tiện thiết bị hỗ trợ, hiện nay việc sử dụng kính tiếp xúc cứng điều trị tật cận thị trở nên phổ biến. Kết quả của chỉnh hình giác mạc ngày nay tốt hơn nhiều so với những năm trƣớc đây. Cách điều chỉnh này đòi hỏi chất liệu và thiết kế mới để sản xuất kính tiếp xúc cứng đeo trong đêm nhằm giúp ngƣời bị cận thị không phụ thuộc vào kính gọng. Khái niệm này thực sự có lợi ch hơn hẳn sử dụng kính tiếp xúc ban ngày, là một cuộc cách mạng tại Úc vào năm 1994 [13].

Hơn nữa, kính tiếp xúc ortho-k với cơ chế điều chỉnh viễn thị vùng rìa giúp làm hạn chế tăng chiều dài trục nhãn cầu, làm giảm tiến triển cận thị. Hiện nay nó đƣợc coi là một trong các phƣơng pháp hiệu quả nhất làm giảm tiến triển cận thị và đang đƣợc áp dụng rộng rãi ở nhiều nƣớc trên thế giới [14],[15],[16]. Trong những năm gần đây phƣơng pháp này cũng đã đƣợc bắt đầu triển khai tại nƣớc ta. Để nghiên cứu tác dụng của k nh trong điều kiện Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu một cách tổng thể và lâu dài đề tài “Nghiên cứu áp dụng chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc” nhằm 2 mục tiêu sau: 1.

Đánh giá kết quả điều trị cận thị của phương pháp chỉnh hình giác mạc bằng kính tiếp xúc cứng đeo đêm. Phân tích một số yếu tố liên quan ảnh hưởng đến kết quả điều trị. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM GIÁC MẠC LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU TRỊ KHÚC XẠ VÀ KÍNH TIẾP XÚC 1.1 Hình dạng giác mạc Mặt trƣớc giác mạc có dạng phi cầu hình hơi bầu dục, trục ngang lớn hơn 11 – 12,5mm), trục dọc nhỏ hơn 10 – 11,5mm). Mặt sau giác mạc hình tròn, đƣờng kính trung bình là 11,7mm.

Về lâm sàng, có thể chia giác mạc thành 4 vùng khác nhau: (1) Vùng trung tâm 3 mm (vùng quang học) (2) Vùng cận trung tâm có đƣờng kính ngoài là 7 – 8mm (3) Vùng chu vi có đƣờng kính ngoài khoảng 11mm (4) Vùng rìa có đƣờng kính khoảng 12mm Vùng trung tâm và cạnh trung tâm quyết định công suất khúc xạ của giác mạc (hình 1.1 Phân vùng giác mạc (Nguồn: External diseases and Cornea book section 8 2018-2019. American Academy of Ophthalmology [17]) 4 1.2 Độ dày giác mạc Độ dày của giác mạc tăng theo tuổi. Ở ngƣời dƣới 25 tuổi, độ dày của giác mạc ở trung tâm là 560µm, nó tăng lên chậm và đạt tới 570 µm ở những ngƣời trên 65 tuổi. Độ dày giác mạc tăng dần từ trung tâm ra ngoại vi.

Độ dày giác mạc ở vùng rìa là 700µm hình 1. Độ dày giác mạc tăng cao nhất sau khi mắt nhắm một thời gian (chẳng hạn sau giấc ngủ) do thiếu oxy. Độ dày giác mạc hơi giảm khi mắt mở ra và giác mạc bị mất nƣớc do tác dụng của không khí [17].2 Độ dày giác mạc (Nguồn: External diseases and Cornea book section 8 2018-2019. American Academy of Ophthalmology [17]) 1.3 Cấu trúc mô học của giác mạc Mô giác mạc là trong suốt và không có mạch máu gồm 5 lớp: biểu mô, màng Bowman, nhu mô, màng Descemet và nội mô.

Trong đó lớp biểu mô có vai trò rất quan trọng, nó là lớp ngoài cùng tiếp giáp với kính tiếp xúc qua màng nƣớc mắt. Lớp biểu mô dày khoảng 50µm có cấu tạo 3 lớp tế bào chính: lớp tế bào vảy (gồm 2 hàng tế bào), lớp tế bào cánh (gồm 2 hàng tế bào) và lớp tế bào đáy (gồm 1 lớp tế bào). Lớp biểu mô có chu kỳ thay thế các lớp tế bào khoảng 7 ngày. Giác mạc đƣợc che phủ ph a trƣớc bằng lớp màng nƣớc mắt, còn các tế bào nội mô phía sau tiếp xúc trực tiếp với thủy dịch.

Mặc dù màng nƣớc mắt không phải là thành phần của giác mạc, song nó có mối liên hệ rất chặt chẽ về mặt giải phẫu và chức năng với giác mạc [19]. Các lớp tế bào biểu mô giác mạc (Nguồn: Hogan và CS, 1971, Histology of the Human Eye [19]) 1.4 Bán kính độ cong giác mạc * Đặc điểm giải phẫu sinh lý Bán kính cong mặt trƣớc giác mạc bình thƣờng là 7,8mm theo trục ngang, 7,7mm theo trục dọc và mặt sau là 6,7mm. Theo Ngô Nhƣ Hòa [20] thì độ cong trung bình ở ngƣời Việt Nam là 7,71mm. Độ cong trƣớc chiếm hai phần ba công suất khúc xạ của toàn nhãn cầu, xấp xỉ +48,0 , độ cong sau giác mạc -5,8D.

Ngày nay với sự ra đời của máy đo giác mạc kế và máy bản đồ giác mạc (corneal topographer), ta có thể đo đƣợc bán kính cong cả giác mạc trƣớc và ƣớc t nh đƣợc tổng công suất khúc xạ giác mạc từ bề mặt trƣớc. Độ cong giác mạc thay đổi theo tuổi, nó gần với dạng cầu ở trẻ mới sinh, chuyển dần sang loạn thị thuận. Ở tuổi trung niên, giác mạc trở lại gần dạng cầu và sau đó trở thành loạn thị nghịch ở ngƣời già [21]. * Bản đồ giác mạc Chụp bản đồ giác giác có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá toàn bộ giác mạc trƣớc và sau điều trị khúc xạ, đánh giá chi tiết độ cong khác nhau và các đặc điểm hình dạng giác mạc.

Những thông tin này rất hữu ích cho mô tả loạn thị giác mạc, bệnh học của giác mạc và đánh giá cho việc điều trị kính tiếp xúc. 6 Có nhiều loại máy chụp bản đồ giác mạc dựa trên nguyên lý hệ thống đĩa placido hoặc các thiết bị quét cắt khe. Hệ thống đĩa placido dùng một vật tiêu gồm nhiều vòng sáng đồng tâm chiếu bề mặt trƣớc giác mạc. Vòng trung tâm sẽ đóng vai trò nhƣ vật tiêu của một giác mạc kế và dùng để đo độ cong ở vùng trung tâm 3 mm của giác mạc.

Vòng tiếp theo tƣơng ứng với vùng quanh trung tâm và tạo ra một vòng phản chiếu đại diện cho độ cong của vùng đó. Các vòng sáng nằm trên một mặt phẳng ở cách giác mạc một khoảng, thông thƣờng có thể đo ch nh xác 7 mm trung tâm giác mạc. Để đo độ cong giác mạc gần rìa hơn, các vòng sáng phải nằm trên một mặt lõm để cho khoảng cách các vòng sáng đến toàn bộ giác mạc đều nhau [22]. Hệ thống sử dụng hình tiêu gồm vài chục vòng đồng tâm Placido.

Bờ của mỗi vòng này đƣợc khảo sát chi tiết với khoảng hàng nghìn điểm. Các điểm này đƣợc 2 camera ghi hình lại rồi đƣợc t nh toán để xác định độ cong của từng điểm, sau đó dữ liệu đƣợc mã hóa để cho ra độ cong, độ cao, hình ảnh 3 chiều của giác mạc. Hệ thống quét cắt khe đo đƣợc mặt trƣớc và sau của giác mạc qua phân tích miền thời gian hoặc phân tích dựa trên tia sáng. Các thiết bị này xử lý các số liệu trên các điểm của mặt trƣớc và bề mặt sau giác mạc t nh ra độ cong cũng nhƣ đo đƣợc độ dày giác mạc.

Để biểu thị độ cong giác mạc ngƣời ta thƣờng dùng các thang màu khác nhau: - Màu xanh lam nhạt, xanh lam đậm: chỉ những vùng có độ cong ít. - Màu xanh lục: chỉ những vùng có độ cong trung bình - Màu vàng, cam, đỏ: chỉ những vùng có độ cong nhiều. Trong thang màu đƣợc chuẩn hóa, mỗi màu sẽ thay thế cho một khoảng cách +1,5D trong khoảng từ + 28 D đến + 65,5D.5 Vai trò của giác mạc trong điều chỉnh cận thị Ở mắt bình thƣờng, để nhìn đƣợc rõ chi tiết thì ảnh của vật phải nằm đúng trên võng mạc của mắt. Ở mắt cận thị, độ khúc xạ của mắt cao hơn bình thƣờng khiến cho ảnh của vật nằm ở trƣớc võng mạc, do đó nhìn không rõ nét.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ