Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, ngôi đình Việt đã được nhiều học giả trong và ngoài nước đánh giá là một hiện tượng riêng biệt, mang nhiều nét đặc sắc văn hóa của Việt Nam. Cho đến thời điểm hiện tại, qua tổng hợp cho thấy đã có nhiều công trình nghiên cứu về đình làng Việt Nam của các học giả trong và ngoài nước với những mức độ quan tâm, khai thác dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau: Lịch sử, tôn giáo, xã hội học, nghệ thuật học… và đặc biệt là những nghiên cứu về di tích, kiến trúc ở Hội An khá phong phú, đa dạng được công bố dưới dạng sách, luận văn, luận án, bài viết khoa học. trong đó đề cập đến nhiều vấn đề liên quan đến kiến trúc, mỹ thuật truyền thống ở Hội An.
Tình hình nghiên cứu về đình làng nói chung * Tình hình nghiên cứu ngoài nước Thực tế tình hình nghiên cứu đã ghi nhận nhiều công trình nghiên cứu về đình làng của các NNC với những mức độ quan tâm và hướng tiếp cận khác nhau như: nghệ thuật, kiến trúc, lịch sử, tôn giáo, xã hội. Từ trước năm 1954 đã xuất hiện các công trình nghiên cứu của một số học giả phương Tây quan tâm đến nghệ thuật truyền thống của Việt Nam mà hầu hết là những nghiên cứu về lịch sử, phong tục, tín ngưỡng xung quanh ngôi đình của người Việt. Viện Viễn Đông Bác cổ tại Hà Nội là nơi đã tạo điều kiện cho nhiều cuộc khám phá, khai quật, nghiên cứu về các vấn đề lịch sử xã hội cũng như tìm hiểu nhiều hiện vật mỹ thuật có giá trị văn hóa. Đây là những tư liệu về đời sống xã hội của người An Nam, đã có những khảo cứu về nghệ thuật truyền thống mà NCS cho là rất đáng chú ý.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Trong cuốn Histoire du Royaume de Tonquin (Lịch sử Vương quốc Đàng Ngoài), viết từ năm 1636, Alexandre de Rhodes đã hết sức kinh ngạc về ngôi đình người Việt. Dẫu vậy, ông cũng buộc phải thừa nhận rằng đó là không gian tín ngưỡng phổ biến nhất, được người dân cho rằng “Tất cả sự thịnh vượng làm ăn, sự phì nhiêu của ruộng đồng và sức khỏe của dân làng và súc vật đều phụ thuộc vào vị Thành hoàng” được thờ phụng trong các ngôi đình đó. Đây là chỗ các kỳ hào hội nhau bàn việc chung trong thôn xã, tổ chức lễ lạc công cộng, ca hát múa nhảy và tiệc tùng [4, tr. Trong Những phạm trù nghệ thuật dân gian người Việt thời trung đại [39], GS.TS Kiều Thu Hoạch cũng đã khẳng định và xác nhận vai trò quan trọng của nhà truyền giáo Alexandre de Rhodes đối với việc đóng góp về lịch sử nghiên cứu đình làng.
Linh mục Léopold Michel Cadière với L’Art à Hué (Nghệ thuật và Nghệ nhân vùng Kinh thành Huế) [61] là một ấn phẩm đặc biệt của B. Đây có thể xem là một trong những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tạo hình ở Huế đầu tiên được công bố rộng rãi từ năm 1919. Các bản vẽ trong ấn phẩm này đã trở thành tư liệu quý giá để người đời nay có thể tham khảo mặc dù nhiều công trình, di tích ở Huế đến nay đã không còn nữa. Tài liệu không trực tiếp đề cập đến mỹ thuật hay đình ở Hội An nhưng cách phân tích và đánh giá các hiện tượng mỹ thuật ở Huế của linh mục L.
Cadière đặc biệt tinh tế, giàu giá trị khoa học. Năm 1922, công trình Les Arts décoratifs au Tonkin (Nghệ thuật trang trí ở Bắc Kỳ) [66] của Marcel Bernanose được xem như là một trong những công trình nghiên cứu công phu, chứa nhiều dữ liệu khoa học cho việc giải mã các ý nghĩa biểu tượng của mô típ trang trí trên kiến trúc đình làng của người Việt. Công trình đã nêu lên những đặc trưng của các biểu tượng trang trí trong công trình kiến trúc trên các chất liệu khác nhau liên quan đến các nghệ nhân chạm khắc và đội ngũ thợ ở các làng nghề. Đây là một trong những LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 tài liệu quý hàm chứa nhiều dữ liệu khoa học giúp NCS có thể hiểu hơn về nghệ thuật trang trí đình làng ở miền Bắc, từ đó góp phần luận giải ý nghĩa biểu tượng của các mô típ trang trí trên kiến trúc đình ở Hội An.
Năm 1954 NNC Louis Bezacier đã cho ra mắt biên khảo L’art Vietnamien (Nghệ thuật Việt Nam) [64] với sự khảo cứu về khá nhiều loại hình kiến trúc khác nhau như: chùa, đền, văn miếu, cung điện. Trong công trình này, kiến trúc đình làng bước đầu được nhắc đến với vai trò là một ngôi nhà kiến trúc vừa có tính chất dân dụng, vừa có tính chất tôn giáo. Mặc dù, công trình chưa nghiên cứu sâu về kiến trúc ở Hội An và đình ở Hội An, nhưng công trình vẫn gợi ra một số vấn đề về nghệ thuật, giúp cho NCS có thêm những kiến giải về NTTTTKT đình ở Hội An. Trong công trình Phù thuật và tín ngưỡng An Nam [71], học giả người Pháp Paul Giran cho thấy hình ảnh đình đã in sâu trong tâm trí của người Việt xưa.
Ông cho rằng đình là nơi ở của thần bảo hộ của mỗi làng và là trung tâm cộng đồng. Đặc biệt, đình là nơi mà con người có thể thực hiện tất cả những sự kiện của đời sống xã hội ở đó như: Giải quyết vấn đề hành chính và tư pháp, tế lễ, các hoạt động sinh hoạt của xã hội Việt Nam. Có thể nói rằng nghiên cứu về NTTTTKT đình ở Hội An chính là nghiên cứu về những quan niệm thẩm mỹ, những tâm tư tình cảm của người Hội An xưa đã gửi gắm trong quá trình xây dựng các ngôi đình bởi ngôi đinhg của người Việt chính là biểu tượng của nền văn minh, văn hóa dân tộc. Nó được ví như biểu tượng Kim Tự Tháp của nền văn minh Ai Cập hay đền thờ Parthéon là biểu tượng cho nền văn minh Hy Lạp mà linh mục Kim Định đã nêu trong Triết lý cái đình [29].
Trong Essai sur le đình et leculte du génie tutélaire des villages au Tonkin (Ngôi đình và việc thờ thần Thành hoàng của các làng xã ở Bắc Kỳ) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 [131] của NNC Nguyễn Văn Khoan đã bàn về nguồn gốc, chức năng, kiến trúc, tín ngưỡng… ở ngôi đình. Học giả Pháp Louis Bezacier trong L’art Vietnamien (Nghệ thuật Việt Nam) [64] đã có những nhận xét và đánh giá về công trình nghiên cứu của NNC Nguyễn Văn Khoan [131] rằng đây là một công trình nghiên cứu súc tích. Theo ông, có thể xếp đình vào loại hình kiến trúc dân dụng và cả kiến trúc tôn giáo. Arts of Viet Nam 1009 - 1945 (Nghệ thuật của Việt Nam 1009 - 1945) [63] là tài liệu nguyên bản tiếng Anh của NNC Kerry Nguyễn Long xuất bản 2013 được xem như một trải nghiệm tìm hiểu nghệ thuật Việt Nam qua hơn một nghìn năm dưới con mắt khách quan của người nước ngoài.
Tác giả đã đi từ những dấu mốc của văn hóa Đông Sơn cho đến trải qua các triều đại trong lịch sử Việt Nam, trong đó có nội dung về nghệ thuật ở làng mà điển hình là các hoạt động nghệ thuật mang tinh thần làng xã. Theo tác giả, các vấn đề lịch sử, xã hội vốn chịu sự ảnh hưởng tôn giáo, đặc biệt là thói quen, tập quán sinh sống và sáng tạo của người Việt đã tạo ra các công năng cho từng loại hình kiến trúc, trong đó có kiến trúc đình làng. Những công trình nói trên mặc dù chưa phải là nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật trang trí đình làng, song những khảo cứu, nhận định dưới con mắt của các học giả nước ngoài về lịch sử - văn hóa Việt Nam, đặc biệt là về đời sống thẩm mỹ của con người An Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX có thể xem là những cơ sở ban đầu trong nghiên cứu nghệ thuật tạo hình trang trí ứng dụng trong đời sống nói chung và nghệ thuật tạo hình mỹ thuật đình làng nói riêng. * Tình hình nghiên cứu trong nước Viện Mỹ thuật - Mỹ nghệ được thành lập năm 1962, trong vai trò là người khởi xướng nghiên cứu đình làng, họa sỹ Nguyễn Đỗ Cung trong Bàn về mỹ thuật Việt Nam [23] cùng với các cộng sự của mình đã bước đầu phân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 định được phong cách nghệ thuật đình làng.
Từ đây, nghệ thuật điêu khắc đình làng được công nhận như một dòng nghệ thuật quan trọng trong dòng chảy của lịch sử mỹ thuật Việt Nam. Với tài liệu này, NCS có cơ sở đối chiếu để đưa ra các nhận định chính xác hơn cho NTTTTKT đình ở Hội An. Trong Lược sử mỹ thuật Việt Nam [40] NNC Nguyễn Phi Hoanh đã khẳng định người Việt Nam luôn biết cách tiếp thu, chọn lọc những cái vốn phong phú của các nền văn hóa khác để bổ sung cho cái có sẵn của mình để tạo ra một thể thức đặc sắc. Ông cũng đã tập hợp và phân loại hệ thống đồ án trang trí của Việt Nam: “Đồ án có tính chất tôn giáo và tín ngưỡng (Tứ linh, lưỡng long tranh châu, lưỡng long chầu nhật/nguyệt, long ẩn, ngư long hí thủy, long mã, chim phượng… ), đồ án bát vật, đồ án thông dụng trong dân gian, đồ án bát quả, đồ án tứ hữu, tứ thời…” [40, tr.
Ngoài ra, ông còn nêu rất kỹ về lối thể hiện và chất liệu dùng trong trang trí kiến trúc truyền thống. Điều đó cho thấy đây là tài liệu không chỉ mô tả đơn thuần về trang trí mà nó còn thể hiện cả những tinh hoa dân tộc. Trong công trình này, NNC Nguyễn Phi Hoanh đã dành cả chương V để nói về mỹ thuật phong kiến thời Nguyễn ở Huế, điều đó thể hiện mỹ thuật thời kỳ này có sức ảnh hưởng lớn và đóng vai trò quan trọng trong dòng chảy của mỹ thuật Việt Nam. Dựa trên những thông tin của tài liệu này, NCS có thêm những thông tin đầy đủ và chi tiết hơn về mỹ thuật truyền thống ở Huế để từ đó có thể khẳng định được những đặc trưng và giá trị nghệ thuật trang trí trên kiến trúc ĐCP, ĐHA và ĐSP.
Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân đã công bố bài viết “Điêu khắc đình làng” [109] trong đó nghệ thuật điêu khắc trang trí trên kiến trúc đình làng Bắc Bộ Việt Nam được đánh giá khá cao.