Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và quan điểm, phương hướng tiếp cận của luận án 5 Chương 2. ―Chủ nghĩa thần thực‖: Từ quan niệm đến thực hành Chương 3. Kỹ thuật tự sự Chương 4.
Diễn ngôn tự sự và ngôn ngữ tiểu thuyết 6 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ QUAN ĐIỂM, PHƢƠNG HƢỚNG TIẾP CẬN CỦA LUẬN ÁN 1. Các giai đoạn nghiên cứu tiểu thuyết Diêm Liên Khoa ở Trung Quốc Tại Trung Quốc, cho đến nay, đã có một khối lượng lớn các luận văn, luận án, bài báo nghiên cứu về tiểu thuyết Diêm Liên Khoa. Theo thống kê của thư viện học thuật trực tuyến CNKI (China National Knowledge Infrastructure), truy cập ngày 1/7/2019, từ khóa Diêm Liên Khoa cho ra 2206 kết quả, bao gồm 6 luận án tiến sĩ, 217 luận văn thạc sĩ, 13 hội thảo trong nước, 3 hội thảo quốc tế, 1757 bài tạp chí, 210 bài báo.
Số lượng đồ sộ của các công trình nghiên cứu đã cho thấy phần nào vị trí cũng như sức hút của nhà văn này trên văn đàn Trung Quốc đương đại. Sự nghiệp sáng tác của Diêm Liên Khoa bắt đầu từ năm 1980. Trong giai đoạn 1980 - 1994, ông đã có những tác phẩm viết về người lính đăng trên các tạp chí và Nhà xuất bản Quân đội, nhưng chưa thực sự được chú ý. Sau thành công của Ngày tháng năm (1997) và Ngàn năm trôi mãi (1998), tên tuổi Diêm Liên Khoa mới bắt đầu có sức hút trên văn đàn.
Từ 2001 - 2016, với hàng loạt tác phẩm được đánh giá là xuất sắc lần lượt xuất hiện: Kiên ngạnh như thủy (2001), Làng Thụ Hoạt (2004), Giấc mộng làng Đinh (2006), Phong Nhã Tụng (2008), Tứ thư (2011), Tạc liệt chí (2013), và gần đây nhất là Ngày tàn (2016), Diêm Liên Khoa ngày càng khẳng định vị trí của mình trong nền văn học đương đại Trung Quốc, đồng thời mở rộng tên tuổi ra thế giới. Tôn Hiểu Đông (Khoa Trung Văn, Đại học Sư phạm Diêm Thành, tỉnh Giang Tô) đã phân chia tình hình nghiên cứu về Diêm Liên Khoa thành 3 thời kỳ (tính đến năm 2007 khi bài báo ra đời): Từ 1991 – 1994: thời kỳ bắt đầu nghiên cứu về Diêm Liên Khoa một cách thận trọng; Từ 1995 – 2000: thời kỳ nghiên cứu phong phú; Từ 2001 – 2007: thời kỳ nghiên cứu về tiểu thuyết Diêm Liên Khoa một cách chỉnh thể (Nghiên cứu thuật bình về tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa, Tạp chí Văn học đương đại, 2/2007). Tham khảo cách phân chia này của Tôn Hiểu Đông, theo dõi quá trình sáng tác của Diêm Liên Khoa, đồng thời dựa trên các tài liệu nghiên cứu thu thập 7 được, chúng tôi tạm chia tình hình nghiên cứu về Diêm Liên Khoa ở Trung Quốc từ 1991 – 2015 thành 4 giai đoạn sau: Giai đoạn 1991 – 1997: Năm 1992, Diêm Liên Khoa ra nhập hiệp hội tác gia Trung Quốc. Năm 1997, ông cho xuất bản Ngày tháng năm, tương đối gây được sự chú ý trên văn đàn.
Ngoài ra, có thể kể đến một số tác phẩm khác ra đời trong gian đoạn này như Ngục tình cảm (1991), Người nữ thanh niên cuối cùng (1993), Vòng sinh tử (1995), Chào Kim Liên (1997). Đây là thời kỳ mà từ phương diện chủ đề, nội dung cho đến nghệ thuật của dòng văn học viết về nông thôn của nhà văn được quan tâm. Lâm Châu (1997) nhận định: cách nhìn về xã hội nông thôn của Diêm Liên Khoa ―mang sắc thái phê phán văn hóa‖. Xét về mặt tự sự, ―Ở phương diện mô thức dụ ngôn tự sự, Diêm Liên Khoa đã bỏ đi những tập quán quan sát thông thường với quan hệ nông thôn/thành thị, hoang dã/văn minh, từ góc độ sinh mệnh con người để đề xuất những nội hàm giá trị‖ (Tiểu thuyết hương thổ của Diêm Liên Khoa – tiếng ca khóc thương và sự bảo vệ quê hương) 124; tr34.
Cùng với xu hướng nghiên cứu chung của thời kỳ này, nhiều luận văn tập trung phân tích tiểu thuyết Diêm Liên Khoa từ phương diện chủ đề tư tưởng, như: Ý nghĩa và sách lược miêu tả về nỗi khổ trong tiểu thuyết Diêm Liên Khoa của Dương Hoài Châu (Đại học Sư phạm Tây Nam, 2005), Nghiên cứu chủ đề khổ nạn trong tiểu thuyết hương thổ của Diêm Liên Khoa của Lục Tân (Đại học Diên Biên, 2005), Luận về các ý tượng và mẫu đề trong tiểu thuyết hương thổ của Diêm Liên Khoa của Đậu Bằng (Đại học Tây Bắc, 2007). Trong đó, ―Hệ biểu tượng Dao Câu‖ (―Dao Câu hệ liệt‖) là một nội dung trọng tâm được nhiều nhà nghiên cứu khai thác, chẳng hạn: Tinh thần đi tìm biểu tượng Dao Câu của Diêm Liên Khoa của Thái Quế Lâm; Sự truy cầu tinh thần của Diêm Liên Khoa trong phả hệ thần thoại Dao Câu của Nhất Văn Trung. Trong bài viết Thế giới Dao Câu và những vấn đề khác - Bình luận về bốn tác phẩm của Diêm Liên Khoa, Trương Đức Tường nhận xét: ―Trong bốn bộ tác phẩm, Diêm Liên Khoa lấy vận mệnh của nhân vật chính Liêm 8 Khoa làm chủ đạo, từ đó vẽ nên thế giới Dao Câu, họa lại phẩm chất và tinh thần của người Dao Câu‖ 231; tr7. Cũng về bốn tác phẩm trên, Từ Quốc Tuấn cho rằng: ―Nội hàm và chủ đề trong tác phẩm của Diêm Liên Khoa hầu hết đều mang tính bi kịch‖ (Câu chuyện người nông dân - giấc mộng khó thành - mạn bình về tiểu thuyết Diêm Liên Khoa 190; tr18.
Triệu Thuận Hoành lại tập trung phân tích ―Sự tồn tại của dục vọng và kết cấu nông thôn‖, ―mộng tưởng cá nhân và mộng tưởng tập thế‖ để chỉ ra những ―bi kịch và hài kịch‖ của người nông dân trong các tiểu thuyết hương thổ của Diêm Liên Khoa (Tưởng tượng về nông thôn - bàn về những sáng tác tiểu thuyết gần đây của Diêm Liên Khoa, Phê bình tiểu thuyết, kỳ 6, 1993) 247. Bên cạnh hệ biểu tượng Dao Câu, nhiều nhà nghiên cứu khai thác hình tượng người lính - nông dân trong tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa. Đáng chú ý nhất là bài của Chu Hướng Tiền: Con cái nông dân và người lính - nông dân: định vị những sáng tác tiểu thuyết về người lính của Diêm Liên Khoa. Đặt các sáng tác về người lính của Diêm Liên Khoa vào bối cảnh chung của văn học quân đội thập niên 80, tác giả nhận định: tiếp nối dòng văn học ―thời đại mới‖ (tân thời đại văn học) của một số cây bút sinh năm 1960 như Chu Tô Tiến, Trần Hoài Đức, Lưu Đào Lâm.Diêm Liên Khoa đã bổ sung những khuyết thiếu, đồng thời làm sâu sắc và phát triển thêm chủ đề ―nông dân - người lính‖ của văn học thời kỳ mới 252; tr52-53.
Nhìn chung, các công trình trên chủ yếu đứng từ phương diện lý luận Macxit để nghiên cứu nội dung tư tưởng, chủ đề, hình tượng, còn phương diện nghệ thuật tự sự thì chưa được chú trọng. Giai đoạn 1998 – 2007: Giai đoạn này đánh dấu bước chuyển biến lớn trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn với một loạt tác phẩm xuất sắc: bắt đầu với Ngàn năm trôi mãi (1998), và tiếp theo là Kiên ngạnh như thủy (2001), Làng Thụ Hoạt (2003), Giấc mộng làng Đinh (2006). Trong bài viết Diêm Liên Khoa sẽ như thế nào, Chu Hướng Tiền nhận xét: ―Có thể thấy ―ước số hiện thực chủ nghĩa‖ thể hiện khắp nơi trong kết cấu chủ nghĩa hiện thực của Diêm Liên Khoa‖. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu Bá Lâu (―Bá Lâu hệ liệt‖) như một hình tượng xuyên suốt trong tiểu thuyết Diêm 9 Liên Khoa, có thể kể đến các bài viết của Cao Nguyên Bảo, Trần Tư Hòa, Lưu Bảo Lượng, Trình Diễm Hoa, Từ Tụy.
Đây cũng là giai đoạn xuất hiện những công trình nghiên cứu về thế giới nghệ thuật của Diêm Liên Khoa, chẳng hạn các bài viết của Cốc Nguyên Ngọc (Luận về thế giới của Diêm Liên Khoa), Trương Chí Trung (Từ cuồng hoan đến cứu chuộc – tổng thuật về sự giao thoa giữa hai thế giới của Cách mạng), Thiệu Yên Quân (Gánh khổ nạn trên vai để sống – Từ Làng Thụ Hoạt của Diêm Liên Khoa nhìn về truyền thống văn học nông thôn hiện thực chủ nghĩa đương đại)… Nhiều luận văn khai thác tiểu thuyết Diên Liên Khoa từ phương diện thi pháp và phong cách nghệ thuật, có thể kể đến như: Luận về tiểu thuyết tranh đấu thập niên 90 của Diêm Liên Khoa của Trương Diên Quốc, Luận về tự sự Utopia (không tưởng) trong tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa của Lô Tiêu Dao, Tu từ tự sự trong tiểu thuyết Diêm Liên Khoa của Liêu Tiểu Năng đã nghiên cứu tiểu thuyết Diêm Liên khoa qua các phương diện như đạo đức, cách mạng, sinh mệnh, bút pháp tự sự dụ ngôn và chính trị kiểu không tưởng (utopia). So với giai đoạn trước, số lượng bài nghiên cứu về Diêm Liên Khoa ở giai đoạn này đã tăng lên một bậc, nội dung cũng sâu sắc và phong phú hơn, xuất hiện một số bài viết xuất phát từ góc độ tư tưởng văn hóa truyền thống Trung Quốc để soi chiếu tác phẩm. Bên cạnh đó, các tác giả như Tôn Hiểu Đông, Tống Hồng Linh, Thạch Thự Bình lại nhấn mạnh tính hiện đại trong tiểu thuyết Diêm Liên Khoa. Nhưng nhìn chung, giới nghiên cứu Trung Quốc vẫn chủ yếu đứng từ giác độ lịch sử văn hóa để nghiên cứu về nội dung tiểu thuyết, lấy đó làm thước đo để đánh giá các giá trị của tác phẩm.
Như vậy, rõ ràng việc đi tìm cá tính sáng tạo của nhà văn ở phương diện nghệ thuật chưa được chú trọng. Ngoài ra, việc chưa quan tâm đến lập trường sáng tác, chưa nghiên cứu kỹ lưỡng bút pháp xây dựng nhân vật của nhà văn cũng là điểm hạn chế của các công trình nghiên cứu ở giai đoạn này. Giai đoạn 2008 – 2013 Các tác phẩm của Diêm Liên Khoa lần lượt được xuất bản với lối viết đa dạng hơn, mang tính thử nghiệm về mặt hình thức như: Phong Nhã Tụng (2008), Tứ thư (2011), Tạc liệt chí (2013), Ngày tàn (2016) tiếp tục đưa tên tuổi nhà văn vượt ra khỏi ranh giới Trung Quốc và châu Á để vươn ra thế giới. Năm 2010, Trung Quốc 10 xuất bản một số công trình nghiên cứu về Diêm Liên Khoa tương đối dày dặn, như: Luận về sáng tác tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa của Trịnh Anh Quân (Nhà xuất bản Đại học Trịnh Châu, 2010).
Công trình này nghiên cứu về sự nghiệp sáng tác của Diêm Liên Khoa trong vòng 30 năm, chia thành ba giai đoạn: thời kỳ thử bút, thời kỳ phát triển và thời kỳ cây bút đã lão luyện, trong đó tập trung phân tích yếu tố tình cảm, tư tưởng và đặc điểm văn thể trong tiểu thuyết Diêm Liên Khoa.