Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chương 2: Tiếp nhận tiểu thuyết Thủy hử ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến năm 1949 Chương 3: Tiếp nhận tiểu thuyết Thủy hử ở Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1980 Chương 4: Tiếp nhận tiểu thuyết Thủy hử ở Trung Quốc từ năm 1980 đến nay 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Về lý thuyết tiếp nhận văn học 1. Khái lược về lý thuyết tiếp nhận văn học Tiếp nhận là một hiện tượng không thể thiếu trong đời sống xã hội. Từ xa xưa, con người giao tiếp với nhau thông qua ngôn ngữ và các hình thức tiếp nhận khác.
Chính vì thế, các yếu tố, xu hướng tiếp nhận trong đời sống xã hội nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng đã có lịch sử lâu dài. Trong văn học, người ta dùng lý thuyết tiếp nhận để chỉ ra phương thức tồn tại của tác phẩm văn học. Tư duy tiền hiện đại chỉ nhấn mạnh văn bản còn tư duy hiện đại và hậu hiện đại đã thấy rõ được vai trò của người đọc. Sự khác biệt giữa văn bản và tác phẩm đã được bàn đến với việc cho rằng công thức chính là hệ hình tư duy và mỗi tác phẩm văn học có cách thức tồn tại riêng của nó.
Lý thuyết tiếp nhận giúp khám phá văn bản và cho thấy rõ văn bản có phần chịu sự chi phối của người tiếp nhận. Thời cổ đại, trong công trình The Poetics (Nghệ thuật thi ca), Aristotle đã nhắc tới karthasis (thanh lọc), một yếu tố được xem là khởi nguyên của khái niệm tiếp nhận. Quá trình chọn lọc, tiếp thu, phản hồi của độc giả chính là những biểu hiện quan trọng nhất của tiếp nhận văn học. Bước sang thời cận hiện đại sau này, lý thuyết tiếp nhận và mĩ học tiếp nhận mới được định hình.
Mỹ học tiếp nhận ra đời vào thập niên 60 của thế kỷ XX từ Đức. Tại đây, hai đại biểu Hans Robert Jauss (1921-1997) và Wolfgang Iser (1926-2007) của trường Đại học Konstanz là những người mở đường cho nghiên cứu tiếp nhận, còn gọi là trường phái mỹ học tiếp nhận Konstanz. Trong Từ điển thuật ngữ văn học, tiếp nhận văn học được định nghĩa là: “Hoạt động chiếm lĩnh các giá trị tư tưởng, thẩm mĩ của tác phẩm văn học, bắt đầu từ sự cảm thụ văn bản ngôn từ, hình tượng nghệ thuật, tư tưởng, cảm hứng, quan niệm nghệ 7 thuật, tài nghệ tác giả cho đến sản phẩm sau khi đọc: cách hiểu, ấn tượng trong trí nhớ, ảnh hưởng trong hoạt động sáng tạo, bản dịch, chuyển thể… Qua tiếp nhận văn học, nhờ được tri giác, liên tưởng, cắt nghĩa, tưởng tượng của người đọc mà tác phẩm trở nên đầy đặn, sống động, hoàn chỉnh; ngược lại người đọc nhờ tác phẩm mà được mở rộng vốn hiểu biếu, kinh nghiệm về đời sống, tư tưởng và tình cảm cũng như năng lực cảm thụ, tư duy” [55, 235]. Qua định nghĩa này, tiếp nhận văn học chính là quá trình người đọc vận dụng kinh nghiệm, sự hiểu biết cá nhân để lý giải và cảm thụ tác phẩm.
Người đọc còn giữ vai trò trung tâm, chi phối một số khái niệm hữu quan khác như: Tầm đón nhận/ Chân trời chờ đợi (đón đợi), kinh nghiệm thẩm mỹ, khoảng cách thẩm mỹ,. Nghiên cứu mối quan hệ tác giả - tác phẩm - người đọc giúp cho các nhà nghiên cứu có được cái nhìn sâu sắc, thấu đáo, đa diện hơn về lí thuyết này. Qua đó, lí luận phê bình văn học được mở rộng, nâng cao; giá trị văn học cũng như các xu thế tiếp nhận ngày càng đa dạng, thực chất, có chiều sâu hơn. Jauss, trong chương thứ nhất (chương được coi là quan trọng nhất, có tính chất tuyên ngôn) của cuốn sách gồm 11 chương ra đời năm 1970, có tiêu đề: Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học, đã đề cập đến khái niệm Tầm đón nhận: “Cái hệ thống ra đời trong giây phút lịch sử mà bất kỳ tác phẩm nào xuất hiện, và được xây từ hiểu biết trước đây về thể loại, từ hình thức và đề tài của những tác phẩm có trước, và từ sự đối lập của ngôn ngữ nhà thơ và ngôn ngữ thông thường” [37, 87-88].
Thuật ngữ Tầm đón nhận (Erwahrtungshorizont - tiếng Đức, Horizon d‟attente - tiếng Pháp, Horizons of expectations - tiếng Anh) được H. Jauss tiếp thu từ K. Mannheim vào năm 1958, sau đó phát triển và mở rộng thêm nhiều nội dung khác. Tầm đón nhận được H.
Jauss xác định là trình độ và kinh nghiệm đọc của độc giả. Trong phần viết Introduction to Modern Literary theory của Kristi Siegel 8 càng khẳng định rõ điểu này: “Tầm đón nhận/ Chân trời chờ đợi (đón đợi), một thuật ngữ được phát triển bởi Hans Robert Jauss để giải thích “sự mong chờ” của người đọc như thế nào hoặc khung tham chiếu dựa trên kinh nghiệm quá khứ của người đọc văn học và những định kiến về văn học của người được sở hữu (tức là kinh nghiệm thẩm mỹ của người đọc luôn bị ràng buộc bởi thời gian và các yếu tố lịch sử” (Nguồn: http://www. Tuy nhiên, ở bài viết Những giới hạn tiếp nhận “Bà Bovary” ở Việt Nam (Qua trường hợp các bản dịch), nhà nghiên cứu Phùng Kiên có ý kiến rằng, khái niệm Erwahrtungshorizont nên hiểu là Giới hạn tiếp nhận: “Căn cứ vào những phân tích này và cách hiểu đối với khái niệm của H. Jauss, chúng tôi xin phép được diễn đạt chữ horizon d‟attente (tiếng Pháp) như là giới hạn tiếp nhận thay cho cách diễn đạt được dịch sát nghĩa từng chữ nhưng có phần hơi mơ hồ thường gặp là chân trời chờ đợi hay tầm đón đợi” [74, 114].
Theo nhà nghiên cứu, nếu dịch Erwahrtungshorizont là Tầm đón nhận/ chân trời chờ đợi (đón đợi) e rằng chưa bao quát được ý nghĩa, cách dịch Giới hạn tiếp nhận vừa thể hiện được phạm vi tiếp nhận vừa thể hiện trọn vẹn cách hiểu về các phương thức, xu thế, nội dung tiếp nhận của độc giả. Bên cạnh đó, khái niệm kinh nghiệm thẩm mỹ nói tới một quá trình tiếp thu văn bản của độc giả, trong đó tác phẩm văn học tồn tại, tác động và chi phối hoạt động đọc (sự đọc) của độc giả. Trên cơ sở đó sẽ hình thành một khoảng cách giữa tác phẩm và người đọc, được gọi là khoảng cách thẩm mỹ. Từ nội dung, nghệ thuật, thế giới nhân vật trong tác phẩm đến chiều sâu thế giới tâm hồn người đọc đều là những khoảng cách thẩm mỹ, những giới hạn tiếp nhận cần được nghiên cứu, bình luận, nhận định sâu sắc hơn.
Về tình hình nghiên cứu, vận dụng lý thuyết tiếp nhận 1. Ở Âu - Mĩ Trong bầu không khí khủng hoảng của các phương pháp luận ở Âu - Mĩ giữa thế kỷ XX, khoảng những năm 1960, lý thuyết tiếp nhận ra đời ở Đức có 9 ý nghĩa như một sự bình ổn. Lý thuyết tiếp nhận là sự tổng hợp, bao gồm một phạm vi rộng lớn nhiều trường phái lí luận khác nhau, trong đó chủ nghĩa cấu trúc, chú giải học, chủ nghĩa hình thức Nga, xã hội học văn học, tâm lý học tiếp nhận… được xem là những yếu tố căn bản của hệ thống lí thuyết này. Iser đã viết bài giảng xuất sắc Die Appellstruktur der Texte, được xuất bản bằng tiếng Anh là Indeterminacy and the Reader‟s response in Prose Fiction (Tính bất định và sự hưởng ứng của người đọc trong văn xuôi hư cấu).
Đây là một trong những bài đầu tiên được W. Iser phát biểu ở trường Đại học Konstanz. Sự tác động của bản dịch bằng tiếng Anh này mặc dù không được hưởng ứng mạnh mẽ như những bài viết của H. Jauss nhưng đã cho thấy một bước tiến trong nghiên cứu tiếp nhận của W.
Iser còn cống hiến những công trình khá ấn tượng như The current situation of literary theory: key concepts and the imaginary (Tình hình hiện nay của lý thuyết văn học: khái niệm chìa khóa và sự tưởng tượng) in trên New literary history, vol.I, 1979; The Act of Reading: A Theory of Aesthetic Response (Hoạt động đọc: Một lý thuyết của phản ứng thẩm mỹ), Baltimore: John Hopkins UP, 1974. Jauss lại dựa vào giả thích học của Gadamer để nghiên cứu lịch sử tiếp nhận văn học, ngữ cảnh, người đọc, tầm đón nhận. Tầm đón nhận được H. Jauss xem như “khái niệm nguồn” của lí thuyết tiếp nhận.
Jauss, tầm đón nhận là trình độ và kinh nghiệm văn chương (có trước) của mỗi người đọc hay (nảy sinh sau khi đọc)/ khi tiếp xúc với tác phẩm. Những phân tích về mặt thể loại, hình thức, đề tài, nội dung, nghệ thuật của độc giả đã dẫn đến các hình thức, xu hướng tiếp nhận khác nhau. Có thể kể thêm một vài công trình của H. Jauss như: Aesthetic Experience and Literary Hermeneutics (Kinh nghiệm thẩm mỹ và khoa giải thích học văn bản cổ văn học), Minneapolis: U of Minnesota P, 1982; Toward an Aesthetic of 10 Reception (Hướng tới một tiếp nhận thẩm mỹ), U of Minneapolis P, 1982.
Như vậy, trong khi H. Jauss nghiên cứu lý thuyết tiếp nhận trong hệ hình quan hệ xã hội và văn học; thì W. Iser tập trung nghiên cứu sự đọc/ hoạt động đọc như một nội dung quan trọng của tiếp nhận văn học. Ngoài những công trình của W.
Jauss, nghiên cứu tiếp nhận ở các nước Âu - Mĩ còn có những công trình đáng chú ý viết bằng tiếng Anh: - Robert C.Holub (1984), Reception theory - A critical introduction, Published in Great Britain by Methuen Co. - Dan shen and Xiaoyi Zhou (2006), Western Literary Theories in China: Reception, Influence and Resistance, Published by Edinburgh University Press. Princeton University Press. Princeton: Princeton University.
The Role of the Reader. How to Read a Page. The Reader, the Text, the Poem. Carbondale: Southern Illinois UP, 1978., and Inge Crosman, eds.
The Reader in the Text: Essays on Audience and Interpretation. Và viết bằng tiếng Pháp: - Auerbach Erich, Mimésis, Gallimard, 1996. - Casanova Pascale, La République mondiale des lettres, Seuil, 2008 (1999). - Nhiều tác giả, Qu‟est-ce que la littérature comparée ? (P.
11 - Nhiều tác giả, Pierre Corneille et l‟Allemagne (VALENTIN Jean- Marie dir. - Iser Wolfgang, Acte de lecture, Editions Mardaga, Bruxelle, 1985. - Jauss Hans-Robert, Pour une esthétique de réception, (traduit de l‟allemand par Claude Maillard), Gallimard, 1978. - Jauss Hans-Robert, Pour une herméneutique littéraire (traduit de l‟allemand par Maurice Jacob), Gallimard, nrf, 1982.
Bên cạnh những nghiên cứu chung về lý thuyết tiếp nhận, ở Âu - Mĩ, việc nghiên cứu tiểu thuyết Thủy hử nói riêng cũng đạt được một số thành tựu. Các nhà Hán học phương Tây tập trung nghiên cứu chủ đề tư tưởng, tác dụng xã hội, hoặc tiến hành so sánh quan niệm nghệ thuật, văn hóa Đông - Tây trong Thủy hử. Điều này chứng tỏ sự quan tâm không nhỏ của học giả Âu - Mĩ đến tiểu thuyết Thủy hử.