Luận án Tiến sĩ Luật học: Hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Việt Nam - Hoàng Thị Vịnh

Luận án tiến sĩ luật học tập trung phân tích sâu sắc hợp đồng dịch vụ pháp lý tại Việt Nam, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Tác giả

Hoàng Thị Vịnh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

2014

168
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam

Hợp đồng dịch vụ pháp lý là thỏa thuận giữa bên cung cấp và bên sử dụng dịch vụ pháp lý. Theo đó, bên cung cấp thực hiện công việc pháp lý theo yêu cầu. Bên sử dụng thanh toán phí dịch vụ. Dịch vụ pháp lý ở Việt Nam bao gồm nhiều loại hình khác nhau. Có dịch vụ của luật sư, công chứng viên, thừa phát lại. Mỗi loại hình có đặc điểm riêng biệt. Pháp luật Việt Nam điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý thông qua nhiều văn bản. Bộ luật Dân sự 2005 quy định chung về hợp đồng dịch vụ. Luật Thương mại 2005 điều chỉnh dịch vụ pháp lý mang tính thương mại. Luật Luật sư 2006 quy định về dịch vụ luật sư. Tuy nhiên, chưa có văn bản pháp luật nào quy định trực tiếp, có hệ thống về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Các quy định nằm rải rác tại nhiều văn bản khác nhau. Điều này gây khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật.

1.1. Khái niệm dịch vụ pháp lý và hợp đồng dịch vụ pháp lý

Dịch vụ pháp lý là hoạt động cung cấp các dịch vụ liên quan đến pháp luật cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu. Dịch vụ pháp lý mang tính thương mại bao gồm dịch vụ tư vấn pháp luật, dịch vụ luật sư, dịch vụ công chứng. Dịch vụ pháp lý không mang tính thương mại bao gồm trợ giúp pháp lý miễn phí. Hợp đồng dịch vụ pháp lý là sự thỏa thuận giữa các bên. Theo đó, bên cung cấp dịch vụ pháp lý thực hiện công việc theo yêu cầu. Bên sử dụng dịch vụ thanh toán phí dịch vụ. Khái niệm này cần được phân định rõ ràng giữa hai loại hình dịch vụ pháp lý.

1.2. Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý theo loại hình tổ chức hành nghề

Hợp đồng dịch vụ pháp lý được phân loại dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau. Theo loại hình tổ chức hành nghề, hợp đồng dịch vụ pháp lý gồm năm loại chính. Thứ nhất là hợp đồng dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư. Thứ hai là hợp đồng dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề công chứng. Thứ ba là hợp đồng dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề thừa phát lại. Thứ tư là hợp đồng dịch vụ pháp lý của trung tâm tư vấn pháp luật. Thứ năm là hợp đồng dịch vụ pháp lý của các tổ chức khác. Mỗi loại hợp đồng chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp luật riêng biệt.

II. Thực trạng pháp luật hợp đồng dịch vụ pháp lý hiện hành

Pháp luật hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam hiện hành chưa đáp ứng được thực tiễn hoạt động dịch vụ pháp lý. Các quy định điều chỉnh hợp đồng dịch vụ pháp lý nằm rải rác tại nhiều văn bản pháp luật. Các văn bản này có hiệu lực pháp lý khác nhau. Điều này tạo ra sự mâu thuẫn, chồng chéo trong quá trình áp dụng. Điều kiện hành nghề dịch vụ pháp lý được quy định tại nhiều luật chuyên ngành. Luật Luật sư quy định điều kiện hành nghề luật sư. Luật Công chứng quy định điều kiện hành nghề công chứng viên. Nghị định quy định điều kiện hành nghề thừa phát lại. Nghị định quy định điều kiện hành nghề tư vấn viên pháp luật. Tổ chức cung ứng dịch vụ pháp lý cũng đa dạng. Có tổ chức hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề công chứng. Có tổ chức hành nghề thừa phát lại, trung tâm tư vấn pháp luật. Mỗi loại hình tổ chức có quy định riêng về điều kiện thành lập và hoạt động.

2.1. Điều kiện hành nghề dịch vụ pháp lý của các chủ thể

Điều kiện hành nghề dịch vụ pháp lý được quy định tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Đối với luật sư, phải có bằng cử nhân luật, chứng chỉ hành nghề luật sư. Luật sư phải là thành viên của đoàn luật sư. Đối với công chứng viên, phải có bằng cử nhân luật, chứng chỉ công chứng viên. Công chứng viên phải được bổ nhiệm theo quy định. Đối với thừa phát lại, phải đáp ứng các điều kiện về trình độ, kinh nghiệm. Tư vấn viên pháp luật phải có bằng cử nhân luật trở lên. Mỗi loại hình hành nghề có quy trình, thủ tục riêng biệt.

2.2. Những hạn chế bất cập trong quy định pháp luật hiện hành

Quy định pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý còn nhiều hạn chế. Chưa có văn bản pháp luật nào quy định trực tiếp, có hệ thống về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Các quy định nằm rải rác tại nhiều văn bản có hiệu lực pháp lý khác nhau. Có những điểm mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định. Cùng một quan hệ hợp đồng dịch vụ pháp lý chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản. Điều này gây khó khăn cho việc xác định quyền, nghĩa vụ của các bên. Thực tiễn áp dụng pháp luật gặp nhiều vướng mắc.

III. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý

Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Cần ban hành văn bản pháp luật quy định trực tiếp, có hệ thống về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Văn bản này cần thống nhất các quy định về khái niệm, phân loại hợp đồng. Cần hoàn thiện quy định về chủ thể ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý. Quy định rõ về người đại diện ký kết hợp đồng. Hoàn thiện quy định về ủy quyền lại ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý. Cần quy định cụ thể về nội dung hợp đồng dịch vụ pháp lý. Bao gồm phí dịch vụ pháp lý, phương thức nghiệm thu kết quả công việc. Phương thức giao nhận công việc cũng cần được quy định rõ ràng. Giải pháp phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.

3.1. Hoàn thiện quy định về khái niệm và chủ thể hợp đồng dịch vụ pháp lý

Cần hoàn thiện quy định về khái niệm dịch vụ pháp lý trong hệ thống pháp luật. Phân định rõ ràng dịch vụ pháp lý mang tính thương mại và không mang tính thương mại. Hoàn thiện quy định về điều kiện hành nghề dịch vụ pháp lý. Đảm bảo tính thống nhất giữa các luật chuyên ngành. Quy định rõ về chủ thể ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý. Đối với tổ chức hành nghề luật sư, người đại diện ký kết phải là người đứng đầu. Đối với tổ chức hành nghề công chứng, người đại diện là trưởng phòng công chứng. Hoàn thiện quy định về ủy quyền lại ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý.

3.2. Hoàn thiện quy định về nội dung và thực hiện hợp đồng dịch vụ pháp lý

Cần hoàn thiện quy định về tổng phí dịch vụ pháp lý. Phí dịch vụ phải phản ánh đúng giá trị lao động của bên cung cấp dịch vụ. Quy định rõ phương thức thanh toán phí dịch vụ. Hoàn thiện quy định về phương thức nghiệm thu kết quả công việc. Kết quả công việc phải được đánh giá khách quan, toàn diện. Quy định rõ phương thức giao nhận công việc giữa các bên. Xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng dịch vụ pháp lý. Quy định trách nhiệm do vi phạm hợp đồng dịch vụ pháp lý. Đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn của luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ về hợp đồng dịch vụ pháp lý ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Phân tích thực trạng pháp luật hợp đồng dịch vụ pháp lý hiện hành. Chỉ ra những hạn chế, bất cập trong quy định pháp luật. Đánh giá mức độ phù hợp của pháp luật với thực tiễn hoạt động dịch vụ pháp lý. Đưa ra giải pháp đúng và đầy đủ cho việc hoàn thiện pháp luật. Giải pháp phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam. Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Luận án có ý nghĩa lý luận về mặt khoa học pháp lý. Có ý nghĩa thực tiễn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Góp phần phát triển hoạt động dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động dịch vụ pháp lý.

4.1. Ý nghĩa lý luận và đóng góp khoa học của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Làm rõ khái niệm, bản chất pháp lý của hợp đồng dịch vụ pháp lý. Phân loại hợp đồng dịch vụ pháp lý theo nhiều tiêu chí khác nhau. Nghiên cứu các yếu tố cấu thành hợp đồng dịch vụ pháp lý. Phân tích mối quan hệ giữa hợp đồng dịch vụ pháp lý với bên thứ ba. Bên thứ ba có thể là cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hoạt động của bên thứ ba ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện hợp đồng. Luận án đóng góp vào kho tàng khoa học pháp lý Việt Nam.

4.2. Ý nghĩa thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Luận án có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng văn bản pháp luật về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Góp phần phát triển hoạt động dịch vụ pháp lý ở Việt Nam. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hợp đồng. Kiến nghị ban hành văn bản pháp luật quy định trực tiếp về hợp đồng dịch vụ pháp lý. Kiến nghị hoàn thiện quy định về điều kiện hành nghề dịch vụ pháp lý. Kiến nghị thống nhất quy định về phí dịch vụ pháp lý. Đảm bảo tính minh bạch, công khai trong hoạt động dịch vụ pháp lý.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ luật học hợp đồng dịch vụ pháp lý ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Dịch vụ pháp lý đã xuất hiện rất sớm trên thế giới, với các thể chế Luật sư, Chưởng khế (Công chứng viên) và Thừa phát lại. Điển hình như thể chế công chứng đã xuất hiện từ thế kỷ X, thứ XI ở các nước thuộc Châu âu, đặc biệt là Pháp cũng như các nước Mỹ - Anh và sau đó tiếp tục phát triển tại Châu Phi và trên toàn thế giới.

Do đó, cũng đã có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về hợp đồng, HĐDVTM và DVPL, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu về HĐDVPL. Trong số những nghiên cứu có liên quan đến HĐDVPL chủ yếu là các công trình nghiên cứu của thời kỳ hiện đại, như: - Contract Law (Luật hợp đồng), Eric Talley, University of Southern California Law School (Fall 1999) - Contracts (Hợp đồng), Amy Bushaw, Lewis & Clark College, Northwestern School of Law (Fall, 2001) - William J.Hawrd ( ), Principles of Business Law (Nguyên tắc của luật doanh nghiệp), Eighth Edition – Prentice Hall. - OECD, Liberaliziation of Trade in Professional Services (Giới hạn, phạm vi của dịch vụ thương mại chuyên nghiệp), OECD Documents, 1995. - Peter Goldsmith, Globalisation of Law (Luật toàn cầu) – Tearing down the Wall, in Harper, Ros (Ed.), Global Law in Practice (luật toàn cầu trong thực tiễn), Kluwer Law Intenational and International Bar Association (luật quốc tế và hiệp hội luật sư quốc tế), London, 1997.

- Cuốn sách “Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế 2004” do Nxb Từ điển Bách khoa xuất bản năm 2010. Phiên bản 2004 (ra đời năm 1994) nhằm tạo nên sự phù hợp với thực tiễn phát triển của hợp đồng điện tử và với mục đích chính là giải quyết các vấn đề mới và quan trọng đối với cộng đồng pháp lý và kinh tế quốc tế. - Cuốn sách “Quản lý hợp đồng trong kinh doanh” do Nxb Lao động - Xã hội xuất bản năm 2008 - Cuốn sách này được tham khảo từ cuốn sách tiếng Trung 7 mang tên “Làm thế nào để quản lý hợp đồng” do tác giả Phong Bảo Thanh biên soạn, Nxb Đại học Bắc Kinh - đã được hiệu chỉnh, biên soạn theo các quy định của pháp luật Việt Nam. Nội dung cuốn sách đã phân tích các kỹ năng cơ bản về soạn thảo và thực hiện các loại hợp đồng, kỹ năng phòng tránh những sơ hở nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của chủ thể hợp đồng.

- Cuốn sách “ Hướng dẫn soạn thảo và ký kết 30 loại hợp đồng kinh tế” của Vụ Hợp đồng kinh tế, Cục quản lý hành chính công thương nhà nước Trung Quốc biên soạn, Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản năm 1995. Nội dung cuốn sách đã giới thiệu, hướng dẫn cụ thể, tỉ mỉ cách soạn thảo các điều khoản cơ bản của từng loại hợp đồng nhằm giúp các doanh nghiệp nâng cao chất lượng và hiệu quả trong ký kết tránh sơ hở trong kinh doanh. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, ngay sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, DVPL đã được ghi nhận, cho phép thành lập và hoạt động (tuy chỉ đối với hoạt động của luật sư) và chỉ được xác lập trở lại và phát triển khá mạnh mẽ từ hơn hai thập kỷ qua. Trong khoảng thời gian đó, đã có một số nghiên cứu về DVPL ở các khía cạnh khác nhau với phạm vi nghiên cứu khác nhau, như giáo trình, sách chuyên khảo, chuyên đề, nhưng chủ yếu tồn tại dưới hình thức những bài viết đăng trên tạp chí, đăng trên kỷ yếu hội thảo và đề tài nghiên cứu của một số cá nhân, tổ chức về DVPL.

Hiện nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống về HĐDVPL. Có thể sắp xếp nhóm các công trình nghiên cứu có liên quan đến HĐDVPL đã được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua như sau: 1. Những công trình nghiên cứu về hợp đồng và pháp luật hợp đồng. - Nghiên cứu về khái niệm hợp đồng, có các nghiên cứu như: Giáo trình “Luật Thương mại” của tập thể tác giả do TS.

Bùi Ngọc Cường chủ biên, Nxb Giáo dục xuất bản năm 2008. Xác định bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và hợp đồng trong thương mại là một loại hợp đồng dân sự có những đặc điểm riêng, quan hệ với hợp đồng dân sự theo nguyên lý cái chung với cái riêng; Giáo trình “Pháp luật kinh tế” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân xuất bản năm 2008. Quan niệm hợp đồng theo nghĩa rộng là sự thỏa thuận và hợp đồng trong hoạt động thương mại là sự thỏa thuận giữa các thương nhân để thực hiện các hoạt động thương mại. Hợp đồng trong hoạt động thương mại nhưng chủ thể không phải là các thương nhân thì được coi là hợp đồng dân sự theo nghĩa hẹp.

Giáo trình này chưa xác định những hợp đồng trong hoạt động thương mại giữa 8 thương nhân (có mục đích lợi nhuận hoặc thu thù lao) với tổ chức, cá nhân khác không phải là thương nhân (mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng) là hợp đồng dân sự hay thương mại; Nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Khánh, đã xác định thời điểm xuất hiện của thuật ngữ hợp đồng ở Việt Nam, phân tích, đã chỉ ra bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận và mục đích là tạo hệ quả pháp lý; Đặc biệt, bài viết “Điều chỉnh thông tin bất cân xứng và quản lý rủi ro trong pháp luật hợp đồng Việt Nam” của TS. Phạm Duy Nghĩa đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 5 năm 2003, đã đưa ra quan niệm mới về hợp đồng, theo đó hợp đồng từ chỗ là sự thống nhất ý chí vào thời điểm giao kết, nay “hợp đồng ngày càng mang tính chất của một quá trình có điều tiết”;…Các nghiên cứu nêu trên đều thống nhất với nhau trong việc xác định hợp đồng nói chung là sự thỏa thuận. Đây là những nghiên cứu nền tảng để tác giả luận án tiếp cận, kế thừa nghiên cứu khái niệm HĐDVPL.

- Nghiên cứu về pháp luật điều chỉnh hợp đồng, có các nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật học năm 2002 của tác giả Nguyễn Viết Tý về “Phương hướng hoàn thiện pháp luật kinh tế trong điều kiện có bộ luật dân sự”, đã giải quyết được mối quan hệ giữa luật kinh tế và luật dân sự sau khi có BLDS 2005; Nghiên cứu của TS. Phan Chí Hiếu, đã xác định phạm vi áp dụng của chế định hợp đồng; nguyên tắc áp dụng phối hợp BLDS với các văn bản pháp luật chuyên ngành khác có liên quan đến hợp đồng [25]; Giáo trình “Pháp luật kinh tế” của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2008, xác định mối quan hệ giữa BLDS với các luật riêng (LTM và các luật chuyên ngành) và nguyên tắc áp dụng trong việc điều chỉnh quan hệ hợp đồng;…Nghiên cứu về mối quan hệ và nguyên tắc áp dụng pháp luật nêu trên cho phép tác giả luận án kế thừa, phát triển trong việc nghiên cứu pháp luật điều chỉnh HĐDVPL. - Nghiên cứu về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, có các nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật học năm 2002 của tác giả Lê Thị Bích Thọ về “Hợp đồng kinh tế vô hiệu và hậu quả pháp lý của hợp đồng kinh tế vô hiệu” đã phân tích, đánh các điều kiện làm cho HĐKT bị vô hiệu và hậu quả pháp lý của các hợp đồng kinh tế vô hiệu; Bài viết “Ảnh hưởng của điều kiện hình thức hợp đồng đến hiệu lực hợp đồng” của tác giả Phạm Hoàng Giang đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3 năm 2007. Nêu quan điểm về hình thức hợp đồng, phân tích và rút ra đặc điểm chung của hình thức hợp đồng của một số quốc gia là đều thể hiện nguyên tắc tự do hình thức hợp đồng tuy vẫn quy định các trường hợp ngoại lệ về hình thức hợp 9 đồng.

Nêu quan điểm về vấn đề điều kiện hình thức hợp đồng còn bao gồm cả điều kiện về thủ tục giao kết, chỉ ra điểm giống nhau của pháp luật hợp đồng nước ta và pháp luật hợp đồng các nước là đều thừa nhận nguyên tắc tự do hình thức hợp đồng, nhưng có điểm khác cơ bản khi xây dựng các quy định về hình thức hợp đồng là, các nước xây dựng theo phương pháp tiếp cận “chọn – bỏ”, còn Việt Nam xây dựng theo phương pháp tiếp cận “chọn – cho”, chỉ ra những hạn chế trong việc thừa nhận nguyên tắc tự do hợp đồng của pháp luật Việt Nam;…Các nghiên cứu này khuyến nghị Việt Nam nên thừa nhận nguyên tắc tự do hợp đồng của một số nước phát triển, mà chưa kiến nghị quy định chính thức về điều kiện hình thức hợp đồng. - Nghiên cứu về giao kết hợp đồng, có các nghiên cứu như: Luận án tiến sĩ luật học năm 2010 của tác giả Nguyễn Văn Thoan về “Ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử trong điều kiện Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế”. Nghiên cứu quy trình, thực trạng ký kết và thực hiện hợp đồng điện tử từ ba góc độ là kỹ thuật, thương mại và pháp lý ở Việt Nam; những thuận lợi và khó khăn khi ký kết và thực hiện HĐĐT; Luận án tiến sĩ luật học năm 2001 của tác giả Bùi Ngọc Cường về “Xây dựng và hoàn thiện pháp luật kinh tế nhằm đảm bảo quyền tự do kinh doanh ở nước ta”, đã chỉ rõ bản chất và những nội dung cơ bản của quyền tự do kinh doanh, trong đó có quyền tự do hợp đồng; Nghiên cứu của tác giả Phạm Hoàng Giang, đã xác định bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận (thống nhất ý chí tự chủ) của các bên và xác định hai nội dung cơ bản của tự do giao kết hợp đồng, đưa ra nguyên tắc công bằng trong giao kết hợp đồng và sự cần thiết của sự can thiệp vào quan hệ hợp đồng nhằm mục đích bảo đảm quyền tự do hợp đồng của bên yếu hơn [16];… - Nghiên cứu về thực hiện hợp đồng và quản lý nhà nước về hợp đồng, gồm: Nghiên cứu của TS. Phạm Duy Nghĩa về sự cần thiết phải có sự can thiệp của nhà nước trong việc xử lý thông tin bất cân xứng giữa các chủ thể hợp đồng, đặc biệt là vấn đề nghĩa vụ tiết lộ thông tin của bên có thông tin và quản lý rủi ro.

Đề xuất các biện pháp quản lý rủi ro hợp đồng gồm nghĩa vụ trung thành, nghĩa vụ cẩn trọng và nghĩa vụ tiết lộ thông tin [42]; Bài viết “Điều kiện thương mại chung và nguyên tắc tự do khế ước” của PGS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ