Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phát triển sản xuất nông sản hàng hóa là xu hướng vận động phù hợp với quy luật kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2022), kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam đạt trên 50 tỷ USD, mang lại thặng dư thương mại trên 8,5 tỷ USD, đóng góp hơn 75% tổng giá trị xuất siêu của nền kinh tế. Tuy nhiên, về mặt tổ chức sản xuất, các liên kết giữa sản xuất, chế biến và tiêu thụ vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế. Khả năng tổ chức sản xuất và liên kết theo hợp đồng giữa doanh nghiệp và nông hộ còn thiếu tính bền vững; doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc kiểm soát số lượng, chất lượng nguồn cung nguyên liệu đầu vào, trong khi việc nhân rộng các mô hình liên kết hiệu quả vào thực tiễn còn chậm.

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc có diện tích đất nông, lâm nghiệp chiếm trên 60% tổng diện tích tự nhiên. Tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển đa dạng các loại cây trồng và vật nuôi, song phần lớn sản xuất vẫn ở quy mô nhỏ lẻ, phân tán. Dù vậy, tỉnh đã hình thành được một số vùng sản xuất tập trung với quy mô hàng hóa lớn, mang nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý đặc trưng, tiêu biểu là ba cây trồng chủ lực: cam, chè và mía. Năm 2017, toàn tỉnh có 7.243 ha cam (sản lượng 47.659 tấn), cùng diện tích chè và mía lớn cung cấp sản lượng hàng chục nghìn tấn mỗi năm. Mặc dù Hội đồng nhân dân tỉnh Tuyên Quang đã ban hành Nghị quyết số 11/2019/NQ-HĐND về chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, thực tế liên kết trên địa bàn vẫn chủ yếu diễn ra qua các hình thức phi chính thống. Liên kết theo hợp đồng văn bản mới chỉ tập trung ở một số sản phẩm và còn tồn tại nhiều bất cập: doanh nghiệp chậm thu mua, thanh toán chậm hoặc nợ đọng kéo dài; nông hộ không tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, vi phạm hợp đồng tiêu thụ để tránh hoàn trả đầu tư ứng trước; các hợp tác xã và tổ hợp tác chưa phát huy tốt vai trò cầu nối trung gian giữa nông dân và doanh nghiệp.

Thực tế đó đặt ra khoảng trống nghiên cứu: Hoạt động liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa tại tỉnh Tuyên Quang chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống trên cả phương diện lý luận và thực nghiệm đối với các cây trồng chủ lực. Do đó, việc thực hiện đề tài "Liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang" là cần thiết nhằm cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết nông nghiệp hàng hóa tại địa phương.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận án là đánh giá thực trạng liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, đi sâu nghiên cứu ngành trồng trọt với ba cây trồng chủ lực (cam, chè, mía), từ đó đề xuất các giải pháp tăng cường liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa của tỉnh đến năm 2035.

Mục tiêu cụ thể được xác định gồm 4 nội dung:

  1. Luận giải, hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa;
  2. Đánh giá thực trạng liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa đối với ba loại cây trồng chủ lực (cam, chè, mía) trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;
  3. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang;
  4. Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đến năm 2035.

Luận án tập trung giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Thực trạng liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa (cam, chè, mía) ở tỉnh Tuyên Quang diễn ra như thế nào?
  2. Những yếu tố nào và mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa (cam, chè, mía) trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang?
  3. Những giải pháp nào để tăng cường liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang đến năm 2035?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn về liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa. Đối tượng khảo sát bao gồm các chủ thể tham gia liên kết: hộ nông dân sản xuất, tác nhân thu mua, doanh nghiệp chế biến - tiêu thụ, hợp tác xã, tổ hợp tác, nhà khoa học và đại diện các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào ngành trồng trọt, đi sâu vào ba loại cây trồng chủ lực đại diện cho sản xuất nông sản hàng hóa quy mô lớn của tỉnh Tuyên Quang là cam, chè và mía.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại địa bàn 3 huyện trọng điểm có vùng sản xuất nông sản hàng hóa tập trung của tỉnh Tuyên Quang: Yên Sơn, Hàm Yên và Sơn Dương.
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2017-2021; dữ liệu sơ cấp điều tra trong các năm 2017, 2018 và 2019 (giai đoạn 2020-2021 gián đoạn do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19); định hướng giải pháp đề xuất đến năm 2035. Toàn bộ nghiên cứu được thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng 12/2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Tổng quan tài liệu trong luận án được tác giả tổng hợp theo hai nhóm nghiên cứu quốc tế và trong nước:

Các hướng nghiên cứu điểm lại trong luận án:

Cụ thể, Đỗ Quang Giám & Trần Quang Trung (2013) nghiên cứu khả năng tham gia sản xuất theo hợp đồng của nông hộ trồng chè tại Tuyên Quang, khẳng định tiềm năng liên kết giữa nông hộ và các công ty chè quốc doanh khi có sự hỗ trợ quản lý của nhà nước. Vũ Đức Hạnh (2015) phân tích liên kết tiêu thụ nông sản (lúa giống, dứa, nấm) tại Ninh Bình và chỉ ra lợi ích trong việc nâng cao giá bán và chất lượng sản phẩm. Vũ Thị Hằng Nga & Trần Hữu Cường (2020) cùng Nguyễn Đình Phúc & cs. (2017) nhấn mạnh sự thiếu liên kết trong chuỗi giá trị nông sản dẫn đến mất cân đối cung - cầu và làm giảm giá trị gia tăng của nông nghiệp Việt Nam.

Về lý luận và kinh nghiệm quản lý, Hồ Quế Hậu (2008, 2012, 2020), Trần Minh Vĩnh & Phạm Vân Đình (2014), Hồ Thanh Thủy (2017), Nguyễn Gia Kiêm (2021) đã phân tích các hình thức liên kết kinh tế, cơ chế chia sẻ lợi ích và vai trò điều tiết của Nhà nước. Về mặt thực tiễn, kinh nghiệm xây dựng 245 chuỗi cung ứng an toàn tại Sơn La (Nguyễn Hạnh, 2023) và chính sách hỗ trợ liên kết tiêu thụ vải thiều gắn với thương mại điện tử tại Bắc Giang (Sỹ Quyết, 2023; Đỗ Thêu, 2022) cung cấp nhiều bài học cho địa bàn miền núi.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu về liên kết nông nghiệp, phần lớn chỉ tiếp cận riêng lẻ theo từng chuỗi sản phẩm đơn nhất hoặc thực hiện tại các vùng đồng bằng. Tại tỉnh Tuyên Quang, chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, đồng thời cả ba ngành hàng cây trồng chủ lực (cam, chè, mía) theo cùng một khung phân tích tích hợp. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách đi sâu lượng hóa các yếu tố tác động đến khả năng và quyết định tham gia liên kết của nông hộ thông qua mô hình kinh tế lượng, kết hợp phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức (SWOT) để xây dựng các mô hình liên kết phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của tỉnh miền núi phía Bắc.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

Luận án kế thừa và tổng hợp các khái niệm học thuật cơ bản:

  • Nông sản hàng hóa: Dựa trên định nghĩa của FAO (2001a, 2001b) và VCCI (2008), tác giả xác định nông sản hàng hóa là những thành phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành nông nghiệp phục vụ mục đích tiêu thụ nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường là chủ yếu.
  • Phát triển: Kế thừa quan điểm của Lorenzo (2011), Mai Thanh Cúc & Quyền Đình Hà (2005), Đỗ Kim Chung (2012) và Panth (2020), luận án xem phát triển trong nông nghiệp là sự tăng tiến toàn diện về quy mô, sản lượng, năng suất, chất lượng sản phẩm và hiệu quả sản xuất.
  • Liên kết kinh tế và liên kết sản xuất nông sản hàng hóa: Kế thừa Eaton & Shepherd (2001), Trần Văn Hiếu (2005), Hồ Quế Hậu (2008, 2020), Barrett & cs., luận án định nghĩa liên kết sản xuất nông sản hàng hóa là sự phối hợp tự nguyện giữa các tác nhân tham gia sản xuất cung ứng ra thị trường tiêu dùng cuối cùng hoặc cung ứng nguyên liệu cho chế biến, được xác lập thông qua hợp đồng hoặc thỏa thuận có tính ràng buộc pháp lý nhằm đảm bảo lợi ích kinh tế - xã hội của các bên.

Về phân loại và hình thức liên kết, luận án áp dụng các khung phân loại:

  1. Theo quan hệ kinh tế - kỹ thuật: Liên kết dọc (vertical integration - kết nối các khâu cung ứng đầu vào, sản xuất, chế biến, tiêu thụ theo chuỗi), liên kết ngang (horizontal integration - hợp tác giữa các nông hộ thông qua HTX, tổ hợp tác nhằm tạo quy mô kinh tế), và liên kết hỗn hợp (mixed integration - kết hợp cả liên kết dọc và ngang).
  2. Theo cấp độ quan hệ (Letlama, 2020): Kết nối (linkages), phối hợp (coordination), liên minh (alliance) và hợp nhất (integration).
  3. Mô hình "Bốn nhà": Liên kết giữa Nhà nước, Nhà khoa học, Doanh nghiệp và Nhà nông, trong đó doanh nghiệp giữ vai trò chủ chuỗi dẫn dắt thị trường, nông hộ là trung tâm sản xuất.

Khung nguyên tắc liên kết bao gồm: đảm bảo hiệu quả kinh tế; tự nguyện tham gia (Hồ Quế Hậu, 2012); dân chủ, bình đẳng và minh bạch (FAO, 2016; Vũ Thị Hằng Nga & Trần Hữu Cường, 2020); hài hòa lợi ích và chia sẻ rủi ro (Zhen & cs., 2022; FAO, 2001a); tôn trọng pháp luật và thực thi cam kết (FAO, 2016, 2018).

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định tính và định lượng:

Hạng mục Phương pháp / Nguồn dữ liệu cụ thể
Địa bàn khảo sát 3 huyện thuộc tỉnh Tuyên Quang: Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương
Cỡ mẫu sơ cấp Tổng số 300 hộ sản xuất nông sản hàng hóa (100 hộ trồng chè, 100 hộ trồng cam, 100 hộ trồng mía); 15 cơ sở thu mua, chế biến và tiêu thụ nông sản (5 cơ sở/huyện)
Nguồn dữ liệu thứ cấp Niên giám thống kê tỉnh Tuyên Quang (2017-2021), báo cáo của Sở NN&PTNT tỉnh Tuyên Quang, Cục Thống kê tỉnh, các Nghị quyết của HĐND tỉnh và văn bản quy phạm pháp luật liên quan
Phương pháp phân tích - Thống kê mô tả và thống kê so sánh (đánh giá diện tích, năng suất, sản lượng, giá bán, chi phí, thu nhập)
- Kiểm định thống kê (so sánh sai khác giữa nhóm hộ có liên kết và không liên kết)
- Mô hình hồi quy Probit (xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định/khả năng tham gia liên kết của hộ)
- Ma trận SWOT (phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của liên kết)
Hệ thống chỉ tiêu - Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô và tổ chức liên kết (diện tích, sản lượng, tỷ lệ ký hợp đồng)
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện hợp đồng (mức độ tuân thủ cam kết, tiếp cận tập huấn, mua vật tư)
- Nhóm chỉ tiêu hiệu quả kinh tế (doanh thu, chi phí trung gian, giá trị gia tăng, thu nhập/ha)
- Nhóm chỉ tiêu tính bền vững và sự hài lòng của tác nhân

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa

Chương này tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và tổng quan các công trình nghiên cứu:

  • Cơ sở lý luận: Phân tích các khái niệm cốt lõi, đặc điểm kinh tế của nông sản hàng hóa, các hình thức liên kết dọc, liên kết ngang và liên kết hỗn hợp. Chương làm rõ các cấp độ liên kết theo quan điểm của Letlama (2020), các nguyên tắc vận hành hợp đồng nông nghiệp theo hướng dẫn của FAO (2016, 2018), cùng hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế - xã hội và tính bền vững của liên kết (Chen & cs., 2013; John & cs.).
  • Cơ sở thực tiễn: Khái quát hệ thống chính sách của Việt Nam về liên kết nông nghiệp qua các giai đoạn, từ Quyết định số 80/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 62/2013/QĐ-TTg, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, Nghị định số 57/2018/NĐ-CP đến Nghị định số 38/2023/NĐ-CP. Phân tích bài học kinh nghiệm từ tỉnh Sơn La (phát triển 245 chuỗi an toàn, gắn kết nhà máy đường và bò sữa Mộc Châu) và tỉnh Bắc Giang (triển khai Nghị quyết 44/2020/HĐND, hỗ trợ tiêu thụ vải thiều trên sàn thương mại điện tử Voso.vn). Từ đó, tác giả rút ra 4 bài học kinh nghiệm cho tỉnh Tuyên Quang về đánh giá thực trạng, tăng cường hợp tác tác nhân, quy hoạch thương hiệu - chuyển đổi số và phát huy vai trò định hướng của chính quyền.
  • Tổng quan nghiên cứu: Tổng thuật các công trình quốc tế và trong nước, chỉ rõ những kết quả đã đạt được và xác định khoảng trống nghiên cứu cần tiếp tục giải quyết tại Tuyên Quang.

Chương 2: Đặc điểm địa bàn và phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày điều kiện thực tế của tỉnh Tuyên Quang và thiết kế phương pháp luận nghiên cứu:

  • Đặc điểm địa bàn: Phân tích điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất đai, dân số, lao động và tình hình tăng trưởng kinh tế của tỉnh giai đoạn 2017-2021. Nông nghiệp giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế (năm 2018 chiếm 23,63% tổng giá trị sản xuất toàn tỉnh). Đánh giá các thuận lợi về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp cho cây công nghiệp và cây ăn quả, đồng thời chỉ ra khó khăn về địa hình chia cắt, quy mô đất đai manh mún và hạ tầng giao thông kết nối vùng nguyên liệu.
  • Phương pháp tiếp cận và khung phân tích: Trình bày khung logic nghiên cứu liên kết lấy nông hộ làm trung tâm, phương pháp chọn mẫu phân tầng điều tra 300 hộ nông dân tại 3 huyện Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương và 15 cơ sở thu mua - chế biến - tiêu thụ.
  • Công cụ phân tích và hệ thống chỉ tiêu: Mô tả chi tiết kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, thống kê so sánh, ma trận SWOT, cấu trúc biến số trong mô hình kinh tế lượng Probit và hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả liên kết.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này trình bày toàn bộ phát hiện thực nghiệm của luận án, được chia thành 3 nội dung trọng tâm:

1. Thực trạng sản xuất và liên kết nông sản hàng hóa tại Tuyên Quang

Giai đoạn 2017-2021, diện tích và sản lượng của 3 cây trồng chủ lực (chè, cam, mía) cơ bản ổn định nhưng có sự chuyển dịch rõ rệt về cơ cấu giống nhằm nâng cao chất lượng và năng suất:

  • Cây chè: Hình thức liên kết diễn ra tương đối chính thống và chặt chẽ giữa nông hộ với các doanh nghiệp chế biến, tiêu biểu là Công ty Cổ phần Chè Mỹ Lâm. Nông hộ tham gia liên kết được cung ứng vật tư đầu vào, hướng dẫn quy trình kỹ thuật thu hái và tiêu thụ sản phẩm ổn định, đem lại hiệu quả kinh tế và thu nhập trên một đơn vị diện tích cao hơn nhóm hộ không liên kết.
  • Cây mía: Liên kết được tổ chức theo mô hình vùng nguyên liệu tập trung gắn với Công ty Mía đường Sơn Dương (SONSUCO). Doanh nghiệp đầu tư ứng trước giống, phân bón, cơ giới hóa khâu làm đất và ký hợp đồng bao tiêu sản phẩm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện tình trạng tranh chấp về đánh giá chữ đường, giá thu mua và việc thực hiện cam kết giữa hai bên.
  • Cây cam: Phổ biến là kênh tiêu thụ sản phẩm tươi qua thương lái hoặc thỏa thuận miệng, mức độ tham gia hợp đồng kinh tế chính thức còn thấp. Các mô hình tổ hợp tác, hợp tác xã sản xuất cam an toàn/VietGAP bước đầu hình thành giúp cải thiện năng lực đàm phán giá, nhưng khâu bảo quản sau thu hoạch và chế biến sâu còn yếu.

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết sản xuất

Thông qua việc ước lượng mô hình hồi quy Probit cho từng nhóm hộ trồng chè, cam, mía và phân tích ma trận SWOT, luận án xác định các yếu tố then chốt tác động có ý nghĩa thống kê đến khả năng tham gia liên kết:

Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến liên kết phát triển sản xuất:

Kết quả hồi quy Probit khẳng định: Nông hộ có quy mô diện tích lớn hơn, sản lượng cao hơn, chủ hộ hiểu rõ điều khoản hợp đồng và nhận thức được lợi ích từ liên kết có xác suất tham gia liên kết cao hơn rõ rệt. Đồng thời, việc doanh nghiệp chấp hành đúng cam kết thu mua và thanh toán là điều kiện tiên quyết củng cố tính bền vững của mối liên kết.

3. Giải pháp tăng cường liên kết đến năm 2035

Dựa trên phân tích thực trạng và ma trận SWOT, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:

  • Đổi mới và nhân rộng các mô hình liên kết: Hoàn thiện mô hình liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến và HTX/tổ hợp tác theo hợp đồng kinh tế; phát triển liên kết ngang giữa các hộ nông dân trong tổ hợp tác để tăng quy mô hàng hóa;
  • Tăng cường thực thi cơ chế "Bốn nhà" (Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Nhà nông), xác định rõ trách nhiệm và cơ chế phân chia lợi ích giữa các chủ thể;
  • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý chuỗi cung ứng, truy xuất nguồn gốc và xúc tiến thương mại điện tử;
  • Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn kỹ thuật sản xuất theo tiêu chuẩn chất lượng và nâng cao năng lực đàm phán hợp đồng cho nông dân;
  • Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tích tụ ruộng đất, hạ tầng giao thông nội đồng và tiếp cận vốn tín dụng phục vụ liên kết.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm các khái niệm về liên kết phát triển nông sản hàng hóa; luận giải rõ đặc điểm, vai trò và bản chất của mối liên kết kinh tế giữa nông hộ và doanh nghiệp chế biến trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hàng hóa hiện đại.
  2. Làm rõ cấu trúc các hình thức liên kết (liên kết dọc, liên kết ngang, liên kết hỗn hợp), nội dung liên kết (cung ứng đầu vào, chuyển giao kỹ thuật, tiêu thụ đầu ra, dịch vụ logistics) và nguyên tắc vận hành đảm bảo tính dân chủ, bình đẳng và chia sẻ rủi ro giữa các chủ thể.
  3. Bổ sung cơ sở lý luận về các yếu tố tác động đến sự bền vững của chuỗi liên kết nông sản tại vùng trung du miền núi, nhấn mạnh yêu cầu hài hòa lợi ích kinh tế như một điều kiện cốt lõi để duy trì hợp đồng.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bức tranh toàn diện và dữ liệu thực nghiệm có hệ thống về thực trạng sản xuất, chế biến và tiêu thụ 3 nông sản chủ lực (cam, chè, mía) tại tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2017-2021.
  2. Lượng hóa cụ thể tác động của các nhân tố (quy mô diện tích, sản lượng, trình độ kỹ thuật, sự hiểu biết hợp đồng, mức độ tuân thủ cam kết của doanh nghiệp) đến xác suất tham gia liên kết của hộ nông dân thông qua mô hình Probit.
  3. Thiết kế các sơ đồ mô hình liên kết đa chiều lấy nông hộ làm trung tâm, gắn kết chặt chẽ vai trò của doanh nghiệp chế biến, HTX, tổ chức tín dụng, nhà khoa học dưới sự hỗ trợ thể chế của chính quyền địa phương.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp và định hướng có tính ứng dụng thực tiễn cao cho tỉnh Tuyên Quang và các địa phương vùng trung du miền núi phía Bắc đến năm 2035.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án tập trung nghiên cứu riêng ngành trồng trọt với 3 loại cây trồng chủ lực (cam, chè, mía) trên địa bàn 3 huyện đại diện (Yên Sơn, Hàm Yên, Sơn Dương), chưa bao quát toàn bộ các nông sản khác (cây lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc, thủy sản) cũng như các địa bàn còn lại trong tỉnh. Do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 trong các năm 2020-2021, quá trình điều tra thu thập số liệu sơ cấp bị gián đoạn, một số chỉ tiêu kinh tế trong giai đoạn này chỉ phản ánh qua số liệu thống kê thứ cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng nghiên cứu sang các ngành hàng nông sản đặc sản khác của địa phương (bưởi, chè Shan tuyết, đại gia súc, dược liệu); khảo sát toàn diện tác động của chuyển đổi số và thương mại điện tử đến hiệu quả chuỗi liên kết nông nghiệp trong giai đoạn phục hồi sau đại dịch.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và dữ liệu thực chứng cho UBND tỉnh Tuyên Quang, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, chính quyền cấp huyện trong việc đánh giá hiệu quả thực thi Nghị quyết 11/2019/NQ-HĐND và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị nông sản hàng hóa theo Nghị định 98/2018/NĐ-CP.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Kinh tế nông nghiệp: Tham khảo khung phân tích kết hợp định tính và định lượng (mô hình hồi quy Probit và ma trận SWOT) trong nghiên cứu hành vi kinh tế của nông hộ và tổ chức chuỗi ngành hàng nông sản.
  • Doanh nghiệp nông nghiệp và Hợp tác xã: Tham khảo các bài học thực tiễn về xây dựng hợp đồng bao tiêu, cơ chế đầu tư ứng trước đầu vào và cách thức tổ chức vùng nguyên liệu ổn định gắn với nhà máy chế biến (như mô hình Công ty Chè Mỹ Lâm và Công ty Mía đường Sơn Dương).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án nghiên cứu cụ thể những loại nông sản hàng hóa nào tại Tuyên Quang?

Luận án tập trung vào ba loại cây trồng chủ lực đại diện cho sản xuất nông sản hàng hóa tập trung quy mô lớn của tỉnh Tuyên Quang, bao gồm: cam (khảo sát tại vùng chuyên canh Hàm Yên), chè (khảo sát tại Yên Sơn, Sơn Dương) và mía (khảo sát tại vùng nguyên liệu Sơn Dương, Yên Sơn).

2. Cỡ mẫu điều tra thực địa của luận án được thiết kế như thế nào?

Tổng quy mô mẫu sơ cấp của luận án gồm 300 hộ sản xuất nông sản hàng hóa (100 hộ trồng chè, 100 hộ trồng cam, 100 hộ trồng mía) và 15 cơ sở thu mua, chế biến, tiêu thụ (mỗi huyện khảo sát 5 cơ sở) trên địa bàn 3 huyện trọng điểm: Yên Sơn, Hàm Yên và Sơn Dương.

3. Luận án sử dụng những công cụ định lượng và mô hình kinh tế nào để phân tích dữ liệu?

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp: thống kê mô tả, thống kê so sánh, kiểm định thống kê so sánh hiệu quả kinh tế giữa các nhóm hộ, ma trận SWOT và đặc biệt là mô hình hồi quy Probit để ước lượng xác suất và lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định tham gia liên kết của hộ nông dân.

4. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những mô hình liên kết tiêu biểu nào đang hoạt động trên địa bàn tỉnh?

Luận án phân tích các mô hình thực tế gồm: mô hình liên kết hợp đồng cung ứng đầu vào và bao tiêu chè búp tươi gắn với Công ty Cổ phần Chè Mỹ Lâm; mô hình đầu tư nguyên liệu và thu mua mía cây của Công ty Mía đường Sơn Dương (SONSUCO); mô hình tổ nhóm nông dân liên kết sản xuất cam an toàn tiêu thụ qua thương lái và các kênh phân phối tự do.

5. Những yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến khả năng tham gia liên kết của nông hộ tại Tuyên Quang?

Kết quả ước lượng mô hình Probit và phân tích SWOT chỉ ra rằng: quy mô diện tích canh tác, sản lượng hàng hóa, trình độ áp dụng tiến bộ kỹ thuật, mức thu nhập của hộ, sự hiểu biết về nội dung hợp đồng và tính nghiêm túc trong thực hiện cam kết thu mua/thanh toán của doanh nghiệp là những yếu tố quyết định đến việc tham gia và duy trì liên kết bền vững.


Kết luận

Luận án "Liên kết phát triển sản xuất nông sản hàng hóa trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang" của tác giả Nguyễn Tiến Hưng là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu thuộc chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp. Bằng việc kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và mô hình hồi quy định lượng Probit trên mẫu khảo sát 300 nông hộ và 15 cơ sở chế biến, luận án đã làm rõ thực trạng tổ chức, hiệu quả kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng đến liên kết sản xuất ba ngành hàng chủ lực (chè, cam, mía). Các kết quả và hệ thống giải pháp đề xuất đến năm 2035 cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho công tác quản lý, quy hoạch vùng sản xuất và thực thi chính sách liên kết nông nghiệp tại tỉnh Tuyên Quang cũng như các địa phương vùng trung du miền núi phía Bắc.