Chương 1, báo cáo đã dé cập đến 5 chuyên biến (hành chính, không gian, kinh tế, dân số và phúc lợi) xảy ra trong toàn bộ hệ thống đô thị của Việt Nam. Thứ 1, sự chuyên đôi về hệ thông hành chính liên quan đến những chính sách hay các thông lệ quản lý và thé chế tập trung vào DTH có tam ảnh hưởng quan trọng đến những chuyên đôi còn lại. Một trong những yếu tố của sự chuyên đôi về hệ thống hành chính là hệ thông phân loại đô thị. Thứ 2 là sự chuyển đổi không gian nghĩa là đô thị hóa được xem xét từ khía cạnh không gian, và tập trung vào những thay đôi trong sử dụng đất khi quá trình đô thị hóa diễn ra.
Thứ 3 là sự chuyên đồi kinh tế dé cập đến tính chat và sự biến dai trong các hoạt động kinh tế có vai trò dẫn dat quá trình đô thị hóa, do đó, đây cũng thường là yếu tô thúc đây các chuyên đôi khác. Thứ 4 là sự chuyên đôi về đặc điểm dân số, dé cập đến những thay đổi kinh tế xã hội do những biến đổi về kinh tế và tô chức không gian trong quá trình đô thị hóa ở Việt Nam. Thứ 5 là sự chuyển đỗi về phúc lợi, dé cập đến điều kiện sống của người dan Việt Nam có được cải thiện nhờ đô thị hóa hay không, nhất là đôi với những người có hoàn cảnh khó khăn. Tìm hiểu rõ những chuyên đôi nảy là điều quan trọng đẻ thực hiện các chính sách đúng din, cho phép Việt Nam tối đa hóa các lợi ích từ quá trình chuyên đổi đô thị đang điển ra.
Báo cáo cho biết, “ké từ năm 1986, dân số đô thị ở Việt Nam bat đầu tăng nhanh (hiện tại din số đô thị chiếm 34% dan số toàn quốc, với tốc độ tăng trưởng + Trích báo cáo của Dean Cira - chuyên gia trưởng về đỏ thị của Ngân hàng Thẻ giới (WB) - tại lễ giới thiệu Báo cáo Đánh giá đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra tại Thanh pho Ho Chi Minh sáng ngày 18 thing 4 năm 2012, do Viện nghiên cứu phát triển TP.HCM và Ngân hang thê giới tại Việt Nam đồng tô chức. Qua nhận định trên, có thể nhận thấy, Việt Nam đang ở những bước đầu tiên của đô thị hóa và “các đô thị lớn nhất nước như Hà Nội, TP.HCM, cùng các vùng xung quanh và một số đô thị quy mô trung bình đã đạt tốc độ tăng trưởng dân số nhanh nhất nước trong 10 năm vừa qua”. Báo cáo trên đã cung cấp cho người đọc một bức tranh toàn diện vẻ DTH ở Việt Nam, với lượng thông tin phong phú và đáng tin cậy, giúp chúng tôi có cơ sở để tiếp cận sâu hơn về DTH tại Quận 2 trong quá trình thực hiện dé tài. Công trình World Urbanization Prospects - The 2014 Revision - Triển vọng dé thị hóa thé giới của tô chức Liên Hợp Quốc phát hành (bản sửa năm 2014) chỉ ra rằng: “Thé giới trong xu thé toàn cầu ngày càng kết nỗi với nhau.
Hơn một nửa dân số thé giới (54%) hiện sông ở khu vực thành thị mặc dù vẫn có sự khác biệt đáng kể về mức độ đô thị hóa giữa các quốc gia” (trang 6). Dưới tác động của DTH, trong những thập niên tiếp theo, thé giới sẽ chứng kiến những thay đỗi sâu sắc vẻ quy mô và sự phân bố không gian của dân số toàn cầu. Đô thị hóa va tăng trưởng tông thé của dân số thé giới dự kiến sẽ thêm 2,5 tỷ người ở đô thị vào năm 2050, với gần 90% tăng tập trung ở châu A va châu Phi. Đồng thời, tỷ lệ dân số của thé giới sống ở khu vực thành thị dự kiến sé tăng lên đạt 66% vào năm 2050” (trang 15).
Công trình cũng chi ra rằng, có sự đa dạng rat lớn về đặc điểm của vùng đô thị trên thế giới, hơn một nửa cư dân đô thị trên thé giới cư trú trong các khu định cư tương đối nhỏ (dưới 500.000 dan), trong khi đó gan 1/8 dân đô thị trên thé giới song ở 28 thành phố lớn (số dân từ 10 triệu người trở lên) trong đó có TP. Qua công trình cho thay, khi thé giới tiếp tục đô thị hoá, thách thức phát triển bền vững sẽ ngày càng tập trung ở các thành phó, đặc biệt ở các quốc gia có tốc độ ĐTH nhanh như ở Việt Nam và Đông Nam A. Vì vậy, chính sách của Chính phủ nhằm phát triển kinh tế, cải thiện cuộc sông của người đân thành thị và nông thôn được xem là rất cần thiết. Công trình Globalization, Modernity and Urban Change in Asia Cities - Toàn câu hóa, hiện dai và sự thay đổi đô thị ở các thành pho châu A do tác già Phạm Quang Minh, Nguyễn Văn Sửu, len Ang, Gay Hawkins đồng chủ biên, được Nhà xuất bản Tri thức xuất bản năm 2016, gồm các bài viết của các nhà khoa học Việt Nam và nước ngoài, phần tích và lý giải về sự biến đôi đô thị ở các khía cạnh khác nhau, từ 17 biến đôi dan số và di cu, biến đôi sinh kế, tôn giáo, tín ngưỡng, văn hóa, cho đến những biến đôi về xã hội và môi trường.
Nhìn chung, các bài viết đều hướng tới trả lời hai câu hỏi lớn: Biến đổi đô thị đã và đang diễn ra như thé nào trong bối cảnh không gian và thời gian khác nhau ở Việt Nam và Châu Á? Các ngành khoa học xã hội và nhân văn có thé đóng góp gì cho nghiên cứu đô thị và biến đôi đô thị? Trong tiền trình hiện đại hóa, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tẾ, ở Việt Nam cũng như ở các quốc gia châu A, đã va đang chứng kiến những biến đôi quan trọng về nhiều mặt ở cả khu vực nông thôn và thành thị. Việc nghiên cứu về những biến đôi đô thị ở Việt Nam và các quốc gia chau A có ý nghĩa khoa học và thực tiến, đòi hỏi phải có cách tiếp cận cộng tác, tích hợp. liên ngành và đặc biệt là sự nhập cuộc của các ngành khoa học xã hội va nhân văn. Tác gia Richard Florida trong bài viết đăng trên Citylab vào năm 2017: Does Urbanization Drive Southeast Asia's Development? - Đô thị hóa có thúc đẩy sự phát triển của Đông Nam A? cho rang Đông Nam A bao gồm các nước như Campuchia, Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam đang trải qua quá trình ĐTH nhanh chóng.
Đến năm 2030, dân số đô thị sẽ tăng thêm 100 triệu người (từ 280 triệu người hiện nay lên 373 triệu người). Tác giả cho rằng, quá trình đô thị hoá không đồng đều ở các khu vực, các thành phố và các quốc gia và trong bốn nhóm phát triên kinh tế, “TP.HCM đứng ở nhóm vị trí thứ 4 với GDP trên đầu người là §.660 USD, thấp hơn đáng kế so với các nước Đông Nam A khác nhưng lại cao hơn nhiều lan GDP bình quân của người Việt Nam (1.544 USD)” va “năng suất ở TP.HCM gap 5,6 lần so với nền kinh tế Việt Nam” (trang 6). Tác giá chỉ ra mỗi quan hệ giữa mức độ đô thị hoá và phát triển kinh tế (đo bằng sản lượng kinh tế/người). Điều này chứng tỏ mức độ PTH của Việt Nam gan đúng với mức độ phát triển kinh tế.
Bên cạnh những số liệu tích cực liên quan đến kinh tế và tốc độ DTH tại TP.HCM, tác giả cũng nêu cảnh báo về sự phát triên không đồng đều ở các đô thị tại Việt Nam. Điều nay cũng được chúng tôi vận dụng dé so sánh sự phát triển giữa Quận 2 với các quận vùng ven trong qua trình DTH. ¢ Đề cập đến qui hoạch đô thị, sự chuyển biến về cơ cấu kinh tế và CSHT Các tác gia Coulhart, A. Sharp trong Urban Development 18 Strategy: Meeting the Challenges of Rapid Urbanization and the Transition to market oriented Economy - Chiến lược phát triển đô thị: Dap ứng những thách thức của quá trình đỏ thị hoá nhanh và chuyển đổi sang nên kinh tế thị trường do văn phòng World Bank tại Việt Nam phát hành (2010) đã dé cập đến hai bước chuyên đổi quan trọng đang diễn ra trong nên kinh tế Việt Nam, đó là chuyên từ nông thôn sang đô thị và sự chuyên đổi từ nén kinh tế quy hoạch trung ương sang nên kinh tế thị trường.
Các tác giả cho rằng, “tăng trưởng kinh tế trong tương lai của Việt Nam sẽ phụ thuộc vào khả năng phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ cạnh tranh theo hướng thị trường, chủ yếu là các hoạt động dựa vào đô thị” (trang 5). Bên cạnh việc trình bày, đánh giá hiện trạng phát trién đô thị ở Việt Nam và các chính sách ánh hưởng đến các khu đô thị, công trình cũng xác định các nguôn tài chính mà các thành phó có thê huy động dé đầu tư cơ sở hạ tầng va đồng thời chỉ ra những thách thức trong quy hoạch và quản lý đô thị cũng như các khuyến nghị về cách thức giải quyết những thách thức khác nhau. chúng tôi cũng nhận thức rằng định hướng phát triên kinh tế Quận 2 mà trọng tâm là tài chính và dịch vụ theo hướng thị trường là một trong những chủ trương đúng đắn của chính quyên TP. Michael Spence, Patricia Clarke, Annez va Robert M.
Buckley đồng chủ biên công trình Urbanization and growth - Đồ thị hóa và tang trưởng (Nxb Dan Tri, 2010). Công trình dé cập đến mối quan hệ giữa quá trình DTH và tăng trưởng kinh tế. Theo các tác gia, những nước đang phát triển trong đó có Việt Nam muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao và bên vững thì các ngành chế tạo và dịch vụ ở khu vực thành thị phải luôn dẫn dau (trang 10). phát triển sản xuất nông nghiệp ở nông thôn cùng với việc áp dụng KHKT sẽ góp phần giải phóng sức lao động và bộ phận lao động đó sẽ đi cư vào đô thị tham gia các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp trong đô thị.
Công trình cũng chỉ ra rằng. năng suất lao động trong các ngành chế tạo và dich vụ luôn cao hơn từ ba đến năm lần so với khu vực truyền thong. Vì vậy, dé nâng cao đời sông người dân khu vực nông thôn, giải pháp quan trọng là chuyên dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang các ngành nghẻ phi nông nghiệp có năng suất lao động cao hơn. 19 Cùng với quan điểm trên, J Vernon Henderson (Nxb Đại học Brown, năm 2004) trong công trình cùng tên (Urbanization and growth - Dé thị hóa và tăng trương) đã chứng minh mỗi quan hệ giữa DTH và phát triển kinh tế bằng các công thức tính khoa học.
Ngoài ra, tác giả còn đẻ cập đến những yếu tổ tác động đến DTH ở các nước trên thé giới.