Chương 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN XÂY DỰNG MÔ HÌNH KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP XÂY DỰNG GIAO THÔNG 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài luận án 1.1 Các công trình nghiên cứu đã công bố ở một số nước phát triển Trong nghiên cứu “Management accounting education at the Millennium”, (Michael W Maher, 2000) đã đưa ra những luận điểm chứng minh vai trò quan trọng của việc triển khai công tác kế toán quản trị trong bối cảnh hội nhập của nền kinh tế thế giới. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, kế toán quản trị có vai trò định hướng việc kiểm soát chi phí trong mỗi tổ chức. Chi phí trong mỗi tổ chức rất đa dạng và phong phú, nhưng để kiểm soát chi phí có thể dùng các cách phân loại chi phí như: Chi phí chênh lệch. chi phí toàn bộ, chi phí trách nhiệm.
Trên cơ sở phân loại chi phí, tác giả đã xác định các quy trình phân tích thông tin chi phí căn cứ vào các báo cáo phân tích chi phí, báo cáo đánh giá trách nhiệm quản lý. Từ đó tác giả đánh giá hiệu quả hoạt động của từng bộ phận trong tổ chức góp phần vào công tác kiểm soát chi phí của tổ chức đó. Trong nghiên cứu này tác giả Maher đánh giá cao vai trò của toán học đối với sự phát triển của kế toán quản trị hiện đại. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa ứng dụng vào thực tiễn các doanh nghiệp mà mới chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết.
Trong nghiên cứu “Management accounting”, (Alkinson, Kaplan & Young, 2008) đã đề cập đến kế toán trách nhiệm gồm: Trách nhiệm thu thập thông tin, lập báo cáo và đánh giá hệ thống thông tin mang nội bộ và cung cấp cho các cấp quản lý về hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. Hệ thống thông tin được tập hợp để phân tích và báo cáo tình hình sản xuất kinh doanh đáp ứng yêu cầu của các nhà quản trị doanh nghiệp. Việc đánh giá kết quả thực thiện là trách nhiệm của các bộ phận và là trách nhiệm của nhà quản lý bộ phận. Nhóm tác giả đã triển khai nghiên cứu việc phân cấp trong quản lý theo đó hệ thống thông Luận án tiến sĩ Kinh tế 5 tin và trách nhiệm của từng bộ phận cần được phân cấp.
Mỗi bộ phận phải lập của bộ phận trình cấp quản trị cao hơn về các nội dung phát sinh tại bộ phận mình. Kết quả nghiên cứu đã làm rõ sự cần thiết cuả báo cáo trách nhiệm trong công tác quản trị doanh nghiệp. Các nhà quản trị cấp cao sẽ sư dụng thông tin từ những báo cáo này để đánh giá hiệu quả của từng bộ phận trong tổ chức. Tuy nhiên, nghiên cứu mới đề cập đến hệ thống báo cáo bộ phận mà báo cáo này mới chỉ là một trong những nội dung của việc xây dựng mô hình kế toán quản trị chi phí.
Trong nghiên cứu “Current state and prospects of cost accounting development for sugar industry enterprise” (Vvchudovets, 2013) đã đề cập đến những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất đường. Các nhân tố ảnh hưởng sự phát triển của kế toán quản trị chi phí trong doanh bao gồm đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý, nguồn nhân lực và máy móc thiết bị. Tác giả cho rằng có sự khác nhau trong việc phân loại và ghi nhận chi phí sản xuất. Sự khác nhau là do đặc điểm tổ chức sản xuất và đặc điểm sản phẩm.
Việc xác định chi phí và phân bổ chi phí sản xuất phụ thuộc rất lớn vào trình độ của các nhà quản trị, của các nhân viên kế toán và mức độ ứng dụng công nghệ thông tin vào kế toán. Trên cơ sở những vấn đề lư thuyết và thực tiễn, tác giả định hướng giải pháp nhận diện chi phí trong mỗi công đoạn của quá trình sản xuất đường. Công trình nghiên cứu đã đề cập đến kế toán quản trị chi phí bao gồm cả kế toán tài chính và kế toán quản trị chi phí. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến nhân tố nhu cầu thông tin của nhà quản trị trong các doanh nghiệp đây là nhân tố quan trọng sẽ chi phối đến nội dung của kế toán quản trị chi.
Với nghiên cứu “Validity of information base on (CPV) analysis for the needs of short - term business decision making”, (Marjanovic, T. Ljutic, 2013) đã đề cập đến vai trò của phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận và phân tích điểm hòa vốn là công cụ quan trọng và phổ biến trong quá trình ra quyết định ngắn hạn. Nhóm tác giả cho rằng việc phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận khi những ước lượng kế toán dựa trên cơ sở của việc ứng xử chi phí ngắn hạn trong khoảng thích hợp của khối lượng các hoạt Luận án tiến sĩ Kinh tế 6 động mà cốt lõi là chi phí biến đổi. Trong một giới hạn phù hợp thì chi phí, thu nhập và khối lượng hoạt động tiệm cận gần đến quan hệ tuyến tính khi đó chi phí được chia thành chi phí biến đổi, chi phí cố định.
Do đó việc đưa ra giả thuyết về mối quan hệ tuyến tính của chi phí trong ngắn hạn mang lại nhiều thông tin hữu ích như: giúp nhà quản trị xác định tổng chi phí ở các mức độ hoạt động một cách nhanh chóng, Biến phí đơn vị là bằng nhau cho dù mức độ hoạt động khác nhau. Bên cạnh những thông tin hữu ích, nghiên cứu cũng đưa ra những điểm hạn chế khi phân tích dựa trên chi phí biến đổi và hạn chế cần lưu ý khi sử dụng thông tin từ việc phân tích mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận. Tuy nhiên, nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết và là nghiên cứu chung chưa ứng dụng thực tế vào phân tích tại một lĩnh vực hoặc loại hình doanh nghiệp cụ thể nào. Nghiên cứu về mô hình phân bổ chi phí chung “Reward and realities of German cost accounting”, (Kip.Krumwiede, 2009) đã trình bày về: (1) Mô hình phân bổ chi phí chung theo bộ phận.
Theo mô hình này, kế toán sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để phân bổ chi phí cho phù hợp với công việc ở từng bộ phận. Với cách phân bổ này cho phép xác định chi phí của từng loại sản phẩm, dịch vụ được chính xác hơn. Tuy nhiên, cách phân bổ này sẽ gặp khó khăn khi có sự thay đổi về quy trình sản xuất, sự đa dạng về tính chất và kích cỡ của sản phẩm. (2) Mô hình sử dụng một tiêu chuẩn phân bổ duy nhất có thể là chi phí nhân công được lấy làm tiêu chuẩn phân bổ chi phí chung cho từng loại sản phẩm.
Trong nghiên cứu “Activity-Based Costing: The new management tool”, (Naughton-Travers, Josep P, 2009) đã đưa ra hai đặc điểm cơ bản của phương pháp kế toán quản trị chi phí theo hoạt động (ABC). Tác giả cho rằng, giá thành sản phẩm tính theo phương pháp này gồm toàn bộ các chi phí phát sinh trong kỳ gồm các chi phí trự tiếp và các chi phí gián tiếp như chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp. Đây là phương pháp phân bổ chi phí phát sinh trong kỳ vào cả quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm. Do đó giá thành đơn vị sản phẩm được phản ánh chính xác hơn.
Qua nghiên cứu các công trình đã được công bố ở một số nước phát triển cho thấy sự đa dạng về cách thức tổ chức và triển khai các nội dung của kế toán Luận án tiến sĩ Kinh tế 7 quản trị chi phí. Do đó, để xây dựng và vận hành mô hình KTQTCP phù hợp và hiệu quả, cần nghiên cứu và vận dụng linh hoạt những kết quả nghiên cứu đã được công bố cho phù hợp với điều kiện của các DNXDGT Việt Nam.2 Các công trình nghiên cứu đã công bố ở trong nước Kế toán quản trị là môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin cho các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định về việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, kiểm soát và đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Kế toán quản trị đã hình thành và phát triển ở các nước tiên tiến từ những năm 1950, nhưng nó mới xuất hiện ở Việt Nam và đã là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu, các nhà quản trị doanh nghiệp quan tâm. Qua nghiên cứu tổng quan các công trình khoa học đã được công bố thì có ba nhóm đề tài sau: Một là, nhóm công trình nghiên cứu các vấn đề chung về kế toán quản trị.
Luân án nghiên cứu “Vấn đề hoàn thiện kế toán Việt Nam” (Nguyễn Việt, 1995) đã đưa ra phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống kế toán tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiêp Việt Nam. Những đề xuất về kế toán quản trị trong công trình này mang tính gợi mở của hệ thống kế toán quản trị trong bối cảnh kế toán quản trị bắt đầu được nghiên cứu tại Việt Nam. Tuy nhiên, những đề xuất của tác giả chủ yếu hướng vào việc hoàn thiện những nội dung phản ánh trên tài khoản kế toán tài chính; Nghiên cứu về “Phương hướng xây dựng nội dung và tổ chức vận dụng kế toán quản trị vào các doanh nghiệp Việt Nam” (Phan Văn Dược, 1997) đã có bước tiến trong việc nghiên cứu những nội dung cụ thể hơn và đề xuất các biện pháp ứng dụng kế toán quản trị vào thực tế của các doanh nghiệp Việt Nam. Tuy nhiên, những nội dung nghiên cứu này vẫn còn mang tính chất chung cho các loại hình doanh nghiệp, trong khi hoạt động của các doanh nghiệp lại rất đa dạng và phong phú nên rất cần sự linh hoạt của kế toán quản trị cho phù hợp; Trong nghiên cứu “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính và kế toán quản trị trong các doanh nghiệp nhà nước về xây dựng” (Nguyễn Văn Bảo, 2002) đã khái quát hóa các luận điểm khoa học về cơ chế quản lý tài chính trong các DN nhà nước về xây dựng và đề ra phương hướng vận dụng kế toán quản trị trong quản lý Luận án tiến sĩ Kinh tế 8 tài chính.
Tuy nhiên, công trình này mới chỉ là những nghiên cứu gợi mở chung cho các DN xây dựng, cần phải có những nghiên cứu sâu hơn về mặt lý luận và khả năng vận dụng vào thực tiễn.