Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kế toán (mã ngành: 9340301) của nghiên cứu sinh Đồng Quang Chung, với đề tài "Ảnh hưởng của rủi ro công nghệ thông tin đến chất lượng thông tin kế toán trong các doanh nghiệp tại Việt Nam", được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Xuân Hưng và TS. Nguyễn Đình Hùng tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh năm 2022.
Vấn đề nghiên cứu xuất phát từ thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin (CNTT), đặc biệt là các công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, vào vận hành hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) tại doanh nghiệp. CNTT phát triển đem lại công cụ quản lý dữ liệu nhưng cũng đi kèm các hiểm họa an toàn thông tin. Báo cáo năm 2020 của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) xếp rủi ro CNTT vào một trong năm nhóm rủi ro hàng đầu đe dọa nền kinh tế toàn cầu, bao gồm các sự cố cơ sở hạ tầng mạng, tấn công mạng diện rộng và đánh cắp dữ liệu. Tại Việt Nam, báo cáo an ninh mạng năm 2020 của Tập đoàn Bkav ghi nhận thiệt hại do virus máy tính gây ra vượt mức 1 tỷ USD (khoảng 23,9 ngàn tỷ đồng), cùng hàng loạt vụ tấn công mạng nhắm vào hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp trong bối cảnh chuyển dịch làm việc trực tuyến do dịch Covid-19.
Mặc dù vai trò của HTTTKT trong việc cung cấp thông tin kế toán hữu ích cho quản trị đã được khẳng định (Romney và Steinbart, 2018), các nghiên cứu thực nghiệm trước đây tại Việt Nam và trên thế giới chủ yếu xem xét các nhân tố tổ chức hoặc các khía cạnh kỹ thuật riêng lẻ dưới dạng nghiên cứu định tính, mô tả, mà chưa lượng hóa đầy đủ tác động đồng thời của các nhóm rủi ro CNTT đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán (CLHTTTKT) và chất lượng thông tin kế toán (CLTTKT). Luận án giải quyết khoảng trống này bằng việc xây dựng mô hình và kiểm định thực nghiệm tác động của các rủi ro CNTT đến CLTTKT thông qua vai trò trung gian của CLHTTTKT.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu được xác định cụ thể trong văn bản:
- Mục tiêu tổng quát: Nghiên cứu ảnh hưởng của rủi ro CNTT đối với CLTTKT trong các doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể:
- Nhận diện các rủi ro CNTT ảnh hưởng đến HTTTKT.
- Đo lường mức độ ảnh hưởng của các rủi ro CNTT đến CLHTTTKT và CLTTKT.
- Đề xuất các hàm ý quản lý từ kết quả nghiên cứu cho các bên liên quan.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Các rủi ro CNTT nào ảnh hưởng đến HTTTKT?
- Câu hỏi 2: Các rủi ro CNTT được nhận diện ảnh hưởng như thế nào đến CLHTTTKT và CLTTKT?
- Câu hỏi 3: Các hàm ý quản lý nào được đưa ra cho các bên có liên quan từ kết quả của nghiên cứu?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các rủi ro CNTT ảnh hưởng đến CLTTKT trong các doanh nghiệp tại Việt Nam.
- Đối tượng khảo sát: Kế toán viên, kiểm toán viên, nhà quản lý kế toán – tài chính và các nhà quản lý doanh nghiệp đang sử dụng HTTTKT trên thực tế tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Xem xét mối quan hệ giữa rủi ro CNTT và CLTTKT trong phạm vi môi trường nội bộ doanh nghiệp, không khảo sát các yếu tố môi trường bên ngoài như quy định pháp lý và môi trường công nghệ điện toán đám mây.
- Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam, không phân biệt quy mô, loại hình sở hữu, lĩnh vực hoạt động.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát sơ cấp được thu thập từ tháng 02/2020 đến tháng 03/2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn dòng nghiên cứu chính:
Dòng thứ nhất gồm các nghiên cứu về rủi ro CNTT và an toàn thông tin liên quan đến môi trường kế toán. Davis (1997) và Korvin và cs (2004) xác định năm nhóm rủi ro đe dọa an toàn thông tin gồm rủi ro dữ liệu và con người, rủi ro phần mềm, rủi ro phần cứng, rủi ro môi trường và rủi ro ứng dụng tiến bộ CNTT. Rajeshwaran và Gunawardana (2008) phân tích các biện pháp kiểm soát an ninh HTTTKT trên máy tính. Wang và He (2011) cùng Muhrtala và Ogundeji (2013) nhấn mạnh con người là trung tâm của hệ thống kế toán máy tính nhưng cũng là nguồn đe dọa chính nếu thiếu kiểm soát. Yang và Jiang (2014) phân loại rủi ro HTTTKT qua mạng Internet thành rủi ro vật lý, rủi ro bảo mật/toàn vẹn dữ liệu và rủi ro vận hành hệ thống. Zhuang (2014) và Fang và Shu (2016) chỉ ra các lỗ hổng hệ điều hành, rủi ro vật lý và nguy cơ biến dạng dữ liệu điện tử. Abu-Musa (2006, 2007, 2009) khảo sát các hiểm họa an ninh đối với HTTTKT vi tính hóa tại các tổ chức tài chính. Các nghiên cứu của Talal H. Hayale và cs (2008), Hanini (2012), Bawaneh (2018) tại Jordan, Bansah (2018) tại Ghana, và Hossin và Ayedh (2016) tại Libya cho thấy mối đe dọa đối với HTTTKT phần lớn bắt nguồn từ hành vi bất cẩn của nhân viên, virus, lỗi nhập liệu và điểm yếu kiểm soát nội bộ.
Dòng thứ hai gồm các nghiên cứu về HTTTKT và CLHTTTKT. Các công trình tại Việt Nam tập trung vào môi trường ERP và hệ thống thông tin kế toán trên máy tính, gồm: Nguyễn Bích Liên (2012) về kiểm soát các nhân tố ảnh hưởng CLTTKT trong môi trường ERP; Nguỵ Thị Hiền và Phạm Quốc Trung (2013) về thành công dự án ERP; Phan Đức Dũng và Phạm Anh Tuấn (2015) xác định ảnh hưởng của phần cứng, phần mềm, thông tin đầu ra đến hiệu quả HTTTKT; Trịnh Viết Giang (2017) khảo sát ba cấp độ tác động của CNTT đến ghi nhận, xử lý và báo cáo kế toán; Vũ Quốc Thông (2017) và Nguyễn Phước Bảo Ấn (2018) khảo sát tính hữu ích và sự hỗ trợ của nhà quản lý; Lương Đức Thuận (2018), Trần Văn Tùng và Võ Tấn Liêm (2019) nghiên cứu về triển khai ERP tại doanh nghiệp. Các nghiên cứu quốc tế như Wongsim (2013), Carolina (2014), Wisna (2015), Napitupulu (2015), Omar và cs (2016), Darma J. và cs (2018), Meiryani và Susanto (2018), và Nguyen và Nguyen (2020) chứng minh tầm quan trọng của các nhân tố tổ chức (cam kết quản lý, văn hóa tổ chức, cơ cấu tổ chức) và hạ tầng CNTT đối với chất lượng HTTTKT.
Dòng thứ ba là các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLTTKT. Al-Hiyari và cs (2013), Rapina (2014), Meiryani (2014), Shien (2015), Fitriati và Mulyani (2015), Fitrios (2016), Mkonya và cs (2018) đã chứng minh các nhân tố cam kết quản lý cấp cao, văn hóa tổ chức, năng lực người dùng và việc triển khai HTTTKT có tác động tích cực đến các thuộc tính của CLTTKT như tính kịp thời, tính chính xác, tính đầy đủ và tính liên quan.
Dòng thứ tư là các nghiên cứu về mối quan hệ giữa rủi ro CNTT với CLHTTTKT và CLTTKT. AL-Amro và cs (2017) phân tích tác động của rủi ro HTTTKT điện tử đến chất lượng báo cáo tài chính tại ngân hàng Jordan. Al Haija (2021) xác nhận hầu hết các rủi ro bắt nguồn từ nội bộ qua sai sót và sơ suất vô ý làm suy giảm an toàn HTTTKT và ảnh hưởng CLTTKT. Các cơ sở lý luận từ Bodnar và Hopwood (2013) và Hurt (2010) cũng khẳng định mặt trái của đổi mới công nghệ là các rủi ro hệ thống đi kèm.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định:
- Phần lớn các nghiên cứu về rủi ro CNTT trong kế toán mới chỉ dừng lại ở bước định tính, thống kê mô tả hoặc nghiên cứu tình huống, chưa có nghiên cứu thực nghiệm kiểm định mô hình định lượng về mức độ tác động của các rủi ro CNTT đến CLHTTTKT và CLTTKT.
- Các nghiên cứu về CLHTTTKT và CLTTKT trước đây chủ yếu tập trung vào các nhân tố tổ chức thuận lợi (sự ủng hộ của lãnh đạo, văn hóa tổ chức, đào tạo) mà thiếu vắng việc tiếp cận dưới lăng kính tiêu cực là các rủi ro CNTT phát sinh từ cả phương diện kỹ thuật (phần cứng, phần mềm, dữ liệu, tiến bộ CNTT) lẫn phương diện quản trị - con người.
- Tại Việt Nam, chưa có công trình nào kiểm định toàn diện mô hình tích hợp giữa các khía cạnh rủi ro CNTT với CLHTTTKT và CLTTKT trên tập dữ liệu đa ngành của các doanh nghiệp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hai lý thuyết nền tảng kết hợp với các khung quản lý rủi ro và mô hình hệ thống thông tin:
- Lý thuyết cấu trúc (Structuration Theory): Giải thích sự tương tác qua lại giữa cấu trúc tổ chức (các quy tắc, quy trình KSNB, văn hóa, cam kết điều hành) và hành vi của con người khi tương tác với công nghệ.
- Lý thuyết ngẫu nhiên (Contingency Theory): Giải thích sự thích ứng của hệ thống quản lý và HTTTKT trước các điều kiện môi trường công nghệ cụ thể; không có một mô hình hệ thống duy nhất phù hợp cho mọi hoàn cảnh, hiệu quả của hệ thống phụ thuộc vào mức độ tương thích giữa công nghệ, con người và cơ cấu tổ chức.
- Mô hình hệ thống thông tin thành công của DeLone và McLean (D&M, phiên bản cập nhật 2016): Cung cấp cơ sở lý luận về mối liên hệ nhân quả giữa chất lượng hệ thống và chất lượng thông tin đầu ra.
- Khung quản trị COBIT, COSO ERM, quan điểm của Romney và Steinbart (2018): Làm cơ sở định nghĩa và xây dựng các thành phần của quản lý rủi ro HTTTKT gồm nhận diện, đánh giá và phòng ngừa rủi ro phần cứng, phần mềm, dữ liệu, ứng dụng tiến bộ CNTT, con người, quản lý và văn hóa.
Mô hình nghiên cứu dự kiến ban đầu thiết lập bảy biến độc lập đại diện cho các rủi ro CNTT tác động ngược chiều lên biến trung gian CLHTTTKT, và CLHTTTKT tác động cùng chiều lên biến phụ thuộc CLTTKT:
| Nhóm biến trong mô hình ban đầu |
Tên biến nghiên cứu |
Mã hóa |
| Biến độc lập (Rủi ro CNTT) |
Rủi ro phần cứng |
HWR |
|
Rủi ro phần mềm |
SWR |
|
Rủi ro dữ liệu |
DATR |
|
Rủi ro ứng dụng tiến bộ CNTT |
ITAR |
|
Rủi ro nguồn lực con người |
HRR |
|
Rủi ro cam kết quản lý |
MCR |
|
Rủi ro văn hóa tổ chức |
OCR |
| Biến trung gian |
Chất lượng HTTTKT |
AISQ |
| Biến phụ thuộc |
Chất lượng thông tin kế toán |
AIQ |
Phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật định tính và định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Nghiên cứu tài liệu và thực hiện phỏng vấn sâu qua điện thoại và thư điện tử với các chuyên gia được lựa chọn theo tiêu chí: có chuyên môn và kinh nghiệm quản lý doanh nghiệp, quản lý CNTT hoặc kế toán; có thâm niên công tác tối thiểu 10 năm; gồm kế toán trưởng, kiểm toán viên CNTT, quản lý IT, CFO, CEO và giảng viên đại học. Mục tiêu là hiệu chỉnh các khái niệm và xây dựng bảng hỏi sơ bộ.
- Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Khảo sát thử nghiệm để kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA), hoàn thiện bảng hỏi chính thức.
- Nghiên cứu định lượng chính thức:
- Thu thập dữ liệu thông qua bảng hỏi chi tiết gửi qua thư điện tử đến 368 đối tượng là kế toán viên, kiểm toán viên, nhà quản lý kế toán – tài chính và quản lý doanh nghiệp tại 368 doanh nghiệp ở Việt Nam.
- Đơn vị phân tích là doanh nghiệp. Thang đo sử dụng thang đo khoảng 5 mức độ Likert (1: Hoàn toàn không đồng ý đến 5: Hoàn toàn đồng ý).
- Công cụ phân tích: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20.0 và AMOS phiên bản 20 và 24 để thực hiện phân tích thống kê mô tả, kiểm định Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích nhân tố khẳng định (CFA), mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM), và kiểm định phân tích phương sai một yếu tố (One-Way ANOVA).
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1 – TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan đến bốn nhóm vấn đề: an toàn và rủi ro CNTT trong môi trường kế toán máy tính; HTTTKT và CLHTTTKT; các nhân tố chi phối CLTTKT; và mối quan hệ giữa rủi ro công nghệ với hệ thống và dữ liệu kế toán. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế của Davis (1997), Korvin và cs (2004), Abu-Musa (2006, 2007) và các nghiên cứu tại châu Á, châu Phi đã phác thảo các rủi ro phần cứng, phần mềm, dữ liệu và con người nhưng chủ yếu dùng dữ liệu thứ cấp hoặc dừng lại ở phân tích định tính. Tại Việt Nam, các nghiên cứu của Nguyễn Bích Liên (2012), Phan Đức Dũng và Phạm Anh Tuấn (2015), Trịnh Viết Giang (2017), Nguyễn Phước Bảo Ấn (2018) đã phân tích HTTTKT và ERP nhưng chưa tích hợp góc nhìn rủi ro CNTT vào việc đo lường CLTTKT. Từ đó, chương 1 xác định khoảng trống nghiên cứu và thiết lập định hướng xây dựng mô hình kiểm định thực nghiệm tại các doanh nghiệp Việt Nam.
CHƯƠNG 2 – CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT, MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 2 trình bày khung lý thuyết và định nghĩa các khái niệm nghiên cứu: HTTTKT, rủi ro phần cứng (sự cố thiết bị, môi trường, bảo trì), rủi ro phần mềm (lỗi ứng dụng, bản quyền, mã độc), rủi ro dữ liệu (mất mát, truy cập trái phép, thiếu mã hóa), rủi ro ứng dụng tiến bộ CNTT (không tương thích, công nghệ mới phức tạp), rủi ro nguồn lực con người (kỹ năng kém, ngại thay đổi), rủi ro cam kết quản lý (thiếu giám sát, thiếu tài trợ nguồn lực), và rủi ro văn hóa tổ chức (khác biệt quy trình, thiếu phối hợp đội nhóm). Vận dụng Lý thuyết cấu trúc, Lý thuyết ngẫu nhiên và mô hình D&M, chương này thiết lập mô hình nghiên cứu dự kiến ban đầu gồm 7 giả thuyết rủi ro CNTT tác động ngược chiều đến CLHTTTKT và giả thuyết về tác động cùng chiều của CLHTTTKT đến CLTTKT.
CHƯƠNG 3 – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 chi tiết hóa thiết kế nghiên cứu hỗn hợp và quy trình triển khai:
- Giai đoạn định tính: Phỏng vấn chuyên gia có trên 10 năm kinh nghiệm để sàng lọc, hiệu chỉnh thang đo các biến quan sát từ các nghiên cứu quốc tế cho phù hợp với ngữ cảnh doanh nghiệp Việt Nam.
- Giai đoạn định lượng sơ bộ: Thực hiện khảo sát pilot, đánh giá hệ số tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích EFA sơ bộ để làm sạch các biến quan sát.
- Giai đoạn định lượng chính thức: Thu thập dữ liệu từ 368 doanh nghiệp qua bảng câu hỏi trực tuyến và thư điện tử. Thiết kế thang đo gồm 50 biến quan sát (32 biến đo lường 7 nhóm rủi ro CNTT, 9 biến đo lường CLHTTTKT và 9 biến đo lường CLTTKT). Trình bày chi tiết các tiêu chuẩn thống kê áp dụng trong kiểm định độ tin cậy, phân tích nhân tố EFA/CFA, phân tích đường dẫn SEM và kiểm định One-Way ANOVA.
CHƯƠNG 4 – KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng trên mẫu 368 quan sát:
Kiểm định Cronbach's Alpha chính thức: Thang đo SWR ban đầu gồm 6 biến có Alpha = 0,806 nhưng biến SWR6 ("Không có tài liệu hướng dẫn hoặc tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm không đầy đủ") có hệ số tương quan biến - tổng chỉ đạt 0,270 (< 0,3) nên bị loại bỏ. Sau khi loại SWR6, hệ số Cronbach's Alpha của thang đo SWR lần 2 đạt 0,833. Toàn bộ các thang đo còn lại đều đạt độ tin cậy cao:
| Thang đo khái niệm |
Số biến quan sát |
Hệ số Cronbach's Alpha |
| Rủi ro phần cứng (HWR) |
5 |
0,892 |
| Rủi ro phần mềm lần 2 (SWR) |
5 |
0,833 |
| Rủi ro dữ liệu (DATR) |
5 |
0,838 |
| Rủi ro ứng dụng tiến bộ CNTT (ITAR) |
4 |
0,801 |
| Rủi ro nguồn lực con người (HRR) |
4 |
0,834 |
| Rủi ro cam kết quản lý (MCR) |
4 |
0,847 |
| Rủi ro văn hóa tổ chức (OCR) |
5 |
0,780 |
| Chất lượng HTTTKT (AISQ) |
9 |
0,909 |
| Chất lượng thông tin kế toán (AIQ) |
9 |
0,913 |
Phân tích nhân tố khám phá (EFA):
- Nhóm biến độc lập: Trong ma trận xoay nhân tố EFA lần 1 (KMO = 0,910, kiểm định Bartlett có Chi-Square = 5536,560, df = 496, p = 0,000), toàn bộ các biến quan sát của thang đo Rủi ro phần mềm (SWR1 đến SWR5) và Rủi ro dữ liệu (DATR1 đến DATR5) đã cùng tải lên một nhân tố (Factor 1) với hệ số tải dao động từ 0,653 đến 0,752. Sau khi tinh chỉnh và phân tích lần 2 (Chi-Square = 5311,333, df = 435, p = 0,000), 6 nhân tố được trích tại Eigenvalues > 1, giải thích 64,857% tổng phương sai trích. Kết quả này dẫn đến việc sáp nhập hai thang đo thành một nhân tố mới: "Rủi ro phần mềm và dữ liệu".
- Nhóm biến phụ thuộc: Kiểm định Bartlett có Chi-Square = 3524,547, df = 153, p = 0,000; trích được 2 nhân tố đại diện cho CLHTTTKT và CLTTKT với tổng phương sai trích đạt 58,662%.
Phân tích nhân tố khẳng định (CFA): Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình đo lường cho thấy các chỉ số đều đạt chuẩn:
| Chỉ số kiểm định |
Nhóm biến độc lập (CFA) |
Nhóm biến phụ thuộc (CFA) |
Tiêu chuẩn đánh giá |
| CMIN |
481,036 |
150,228 |
- |
| Bậc tự do (DF) |
390 |
134 |
- |
| CMIN/DF |
1,233 |
1,121 |
< 2 (hoặc < 3) |
| Giá trị p |
0,001 |
0,160 |
- |
| GFI |
0,919 |
0,958 |
> 0,9 |
| AGFI |
0,903 |
0,946 |
> 0,8 |
| TLI |
0,980 |
0,995 |
> 0,9 |
| CFI |
0,982 |
0,995 |
> 0,9 |
| RMSEA |
0,025 |
0,018 |
< 0,05 |
| PCLOSE |
1,000 |
1,000 |
> 0,05 |
Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM): Khẳng định tất cả các nhóm rủi ro CNTT (nguồn lực con người, phần cứng, ứng dụng tiến bộ CNTT, văn hóa tổ chức, cam kết quản lý, phần mềm và dữ liệu) đều có ảnh hưởng ngược chiều có ý nghĩa thống kê lên CLHTTTKT; đồng thời CLHTTTKT có ảnh hưởng cùng chiều mạnh mẽ lên CLTTKT.
Kiểm định phân tích phương sai One-Way ANOVA: Kiểm định sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong đánh giá mức độ ảnh hưởng của các rủi ro CNTT đến CLHTTTKT giữa các nhóm doanh nghiệp theo: (1) loại hình doanh nghiệp, (2) quy mô doanh nghiệp, (3) lĩnh vực kinh doanh, và (4) loại phần mềm đang sử dụng (phần mềm kế toán đơn lẻ, ERP hay phần mềm khác).
CHƯƠNG 5 – KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN LÝ
Chương 5 tóm tắt các phát hiện trả lời ba câu hỏi nghiên cứu, đồng thời đề xuất các nhóm hàm ý quản lý thực tiễn:
- Hàm ý đối với doanh nghiệp: Cần đầu tư đồng bộ và duy trì bảo trì thiết bị phần cứng; kiểm soát chặt chẽ an toàn phần mềm và dữ liệu (sử dụng phần mềm bản quyền, thiết lập sao lưu, mã hóa, ngăn chặn mã độc); nâng cao năng lực và kỹ năng vận hành của nhân sự kế toán và IT; lãnh đạo doanh nghiệp cần tăng cường cam kết, giám sát định kỳ và cấp phát đủ nguồn lực; xây dựng văn hóa tổ chức khuyến khích chia sẻ thông tin, hợp tác đội nhóm và thích ứng đổi mới công nghệ.
- Hàm ý đối với các hội nghề nghiệp kế toán và kiểm toán: Cập nhật khung đào tạo chuyên môn gắn liền với kiểm toán CNTT và an toàn thông tin; ban hành các hướng dẫn quản trị rủi ro CNTT trong hệ thống kế toán doanh nghiệp.
- Nêu rõ các hạn chế nghiên cứu và đề xuất hướng mở rộng trong tương lai.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và khoa học:
- Luận án bổ sung vào hệ thống lý thuyết về HTTTKT và CLTTKT bằng việc kiểm định thực nghiệm mô hình tích hợp các nhóm rủi ro CNTT trong bối cảnh một nền kinh tế đang chuyển đổi số như Việt Nam.
- Chứng minh được vai trò truyền dẫn trung gian của biến CLHTTTKT: rủi ro CNTT không chỉ gây gián đoạn kỹ thuật thuần túy mà trực tiếp làm suy giảm chất lượng vận hành của hệ thống, từ đó làm giảm chất lượng của thông tin kế toán đầu ra.
- Phát hiện nhân tố mới qua phân tích dữ liệu thực nghiệm: hai nhân tố độc lập giả định ban đầu là "Rủi ro phần mềm" và "Rủi ro dữ liệu" đã hội tụ thành một nhân tố thống nhất là "Rủi ro phần mềm và dữ liệu". Điều này phản ánh thực tế vận hành tại doanh nghiệp: phần mềm và cơ sở dữ liệu kế toán gắn liền chặt chẽ, lỗi phần mềm thường dẫn trực tiếp đến nguy cơ sai lệch hoặc mất an toàn dữ liệu.
- Kiểm định và xác nhận độ tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của bộ thang đo rủi ro CNTT, CLHTTTKT và CLTTKT trong môi trường doanh nghiệp Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn:
- Cung cấp bằng chứng định lượng giúp các nhà quản trị doanh nghiệp nhận diện rõ 6 nhóm rủi ro CNTT trọng yếu đe dọa HTTTKT.
- Đưa ra các định hướng giúp doanh nghiệp thiết lập chính sách kiểm soát nội bộ, tối ưu hóa chi phí đầu tư CNTT và nâng cao độ tin cậy của báo cáo tài chính.
- Cung cấp cơ sở thực chứng về sự khác biệt trong nhận thức rủi ro giữa các nhóm doanh nghiệp theo quy mô, loại hình và mức độ ứng dụng phần mềm (kế toán độc lập so với ERP).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát chỉ giới hạn trong môi trường nội bộ doanh nghiệp, chưa đo lường tác động của các nhân tố bên ngoài như khung pháp lý, quy định an ninh mạng của nhà nước hay môi trường điện toán đám mây công cộng.
- Dữ liệu khảo sát sơ cấp thu thập trong khoảng thời gian nhất định (tháng 02/2020 đến tháng 03/2020) với kích thước mẫu 368 doanh nghiệp, chưa bao quát toàn bộ các biến động dài hạn của môi trường kinh doanh và công nghệ sau đại dịch.
Hướng nghiên cứu tiếp tục:
- Mở rộng mô hình nghiên cứu để tích hợp các biến môi trường bên ngoài như chính sách pháp lý, các tiêu chuẩn an ninh thông tin quốc tế và việc ứng dụng dịch vụ đám mây (Cloud Computing).
- Xem xét sâu hơn tác động của các công nghệ mới nổi thuộc cách mạng 4.0 như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain) đến quy trình xử lý dữ liệu kế toán khi các công nghệ này được ứng dụng phổ biến hơn tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Kế toán, Kiểm toán, Hệ thống thông tin: Tham khảo quy trình thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật EFA, CFA, phân tích mô hình cấu trúc SEM trên phần mềm AMOS, và bộ bảng hỏi khảo sát chi tiết.
- Giảng viên đại học: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy và nghiên cứu chuyên đề về Hệ thống thông tin kế toán, Kiểm toán công nghệ thông tin và Quản trị rủi ro doanh nghiệp.
- Nhà quản trị doanh nghiệp, Giám đốc tài chính (CFO), Kế toán trưởng và Trưởng bộ phận CNTT: Ứng dụng khung bảng hỏi để tự đánh giá mức độ rủi ro hệ thống tại đơn vị; làm căn cứ hoạch định chính sách phân bổ nguồn lực và thiết lập thủ tục KSNB trong môi trường tin học hóa.
- Các tổ chức nghề nghiệp kế toán - kiểm toán: Căn cứ xây dựng chương trình cập nhật kiến thức chuyên môn về kiểm soát an toàn dữ liệu và hệ thống thông tin.
Câu hỏi thường gặp
1. Kích thước mẫu và đối tượng khảo sát chính thức của luận án là gì?
Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng chính thức gồm 368 người được khảo sát đại diện cho 368 doanh nghiệp tại Việt Nam. Đối tượng tham gia khảo sát bao gồm: kế toán viên, kiểm toán viên, nhà quản lý kế toán – tài chính và các nhà quản lý điều hành doanh nghiệp (CEO, CFO) đang trực tiếp vận hành hoặc sử dụng HTTTKT.
2. Biến quan sát nào đã bị loại bỏ trong quá trình kiểm định độ tin cậy thang đo ở giai đoạn nghiên cứu chính thức?
Trong phân tích Cronbach's Alpha lần 1 cho thang đo Rủi ro phần mềm (SWR), biến quan sát SWR6 ("Không có tài liệu hướng dẫn hoặc tài liệu hướng dẫn sử dụng phần mềm không đầy đủ") bị loại bỏ do có hệ số tương quan biến - tổng chỉ đạt 0,270 (< 0,3). Sau khi loại SWR6, hệ số Cronbach's Alpha của thang đo SWR tăng từ 0,806 lên 0,833.
3. Phân tích nhân tố khám phá (EFA) đã phát hiện điểm khác biệt gì so với mô hình nghiên cứu dự kiến ban đầu?
Mô hình nghiên cứu ban đầu tách biệt hai nhân tố "Rủi ro phần mềm" (SWR) và "Rủi ro dữ liệu" (DATR). Tuy nhiên, kết quả phân tích EFA cho thấy toàn bộ các biến quan sát của hai thang đo này đều tải chung lên Factor 1 với hệ số tải từ 0,653 đến 0,752, dẫn đến việc sáp nhập thành một nhân tố mới là "Rủi ro phần mềm và dữ liệu".
4. Các chỉ số đo lường độ phù hợp mô hình (Goodness-of-Fit) trong phân tích CFA của luận án đạt kết quả như thế nào?
Ở nhóm biến độc lập, các chỉ số đạt: CMIN/DF = 1,233; GFI = 0,919; AGFI = 0,903; TLI = 0,980; CFI = 0,982; RMSEA = 0,025; PCLOSE = 1,000. Ở nhóm biến phụ thuộc, các chỉ số đạt: CMIN/DF = 1,121; GFI = 0,958; AGFI = 0,946; TLI = 0,995; CFI = 0,995; RMSEA = 0,018; PCLOSE = 1,000. Tất cả các chỉ số đều đạt mức tương thích theo tiêu chuẩn thống kê.
5. Luận án đã kiểm định sự khác biệt trong đánh giá rủi ro CNTT theo những tiêu chí phân loại doanh nghiệp nào?
Luận án sử dụng kiểm định One-Way ANOVA để đánh giá sự khác biệt có ý nghĩa thống kê theo bốn tiêu chí: (1) loại hình doanh nghiệp, (2) quy mô doanh nghiệp (nhỏ, vừa, lớn), (3) lĩnh vực kinh doanh, và (4) loại phần mềm đang sử dụng (phần mềm kế toán, phần mềm ERP, phần mềm khác).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Đồng Quang Chung đã hoàn thành việc nhận diện và đo lường thực nghiệm ảnh hưởng của các rủi ro CNTT đến CLHTTTKT và CLTTKT tại 368 doanh nghiệp ở Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật phân tích SEM và CFA, công trình chứng minh sáu nhóm rủi ro CNTT (nguồn lực con người, phần cứng, ứng dụng tiến bộ CNTT, văn hóa tổ chức, cam kết quản lý, phần mềm và dữ liệu) có tác động ngược chiều lên CLHTTTKT, qua đó gián tiếp làm suy giảm CLTTKT. Các kết quả và hệ thống thang đo được kiểm định cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn cho việc quản trị rủi ro an toàn thông tin kế toán trong doanh nghiệp.