chương 1 “Bản chất, đặc điểm và chiến lược hoạt động của các công ty xuyên quốc gia”; tác giả đã trình bày rất rõ việc xác định tên gọi công ty xuyên quốc gia hay công ty đa quốc gia mang ý nghĩa tương đối; gần đây không còn tồn tại sự phân biệt giữa hai khái niệm này. Cuốn sách hiện đang được sử dụng trong giảng dạy môn học Quản trị Tài chính công ty đa quốc gia tại Học viện Tài chính. Với 5 chương, tài liệu đạt được một số thành tựu nhất định trong nghiên cứu về cấu trúc, dạng thức cũng như con 4 đường hình thành các MNCs và một số vấn đề có tính chất cơ bản về tài chính công ty đa quốc gia.[26] - Cuốn “Quản trị Tài chính quốc tế” của TS. Ngô Thị Ngọc Huyền và Ths.
Nguyễn Thị Hồng Thu, Nxb Thống kê (2009). Cuốn sách là tài liệu được nhóm tác giả biên soạn công phu với 578 trang chia làm 4 phần, 16 chương. Các nội dung viết về môi trường hoạt động của công ty đa quốc gia và quản trị tài chính quốc tế; đo lường rủi ro và quy chuyển báo cáo tài chính của MNCs; quản trị vốn lưu động và tài trợ ngắn hạn của các MNCs cũng như các vấn đề về ngân sách vốn và quản trị hệ thống toàn cầu của các MNCs.[20] - Giáo trình “Quản trị Tài chính công ty đa quốc gia” (2014), Nxb Đại học quốc gia TP. HCM do tác giả Huỳnh Thị Thúy Giang (Đại học Kinh tế Luật – ĐHQG TP.HCM) chủ biên.
Giáo trình là 202 trang viết được biên soạn gồm những vấn đề lớn như: sự phát triển của các MNCs qua các thời kỳ, động cơ hình thành MNCs, mục tiêu của quản trị tài chính công ty đa quốc gia; quản trị đầu tư và quản trị rủi ro của các công ty đa quốc gia; quản trị dòng tiền và quản trị chu chuyển vốn…[15] - Cuốn sách chuyên khảo “Tài chính công ty đa quốc gia” (2015) do TS. Phan Thị Nhi Hiếu và các đồng sự biên soạn, Nxb Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Cuốn sách nghiên cứu các vấn đề chuyên sâu về công ty đa quốc gia và tài chính công ty đa quốc gia; trong đó đi vào phân tích một số vấn đề thực tế về chu chuyển hóa đơn, quản trị dòng tiền, quản trị ngoại hối, lựa chọn phương án đầu tư; lựa chọn vay vốn hay cách thức quản trị dòng tiền đầu tư ngắn hạn; trung và dài hạn.
Bài báo khoa học - Tác giả Tường Nguyên trên báo Công nghiệp (2000) số 24 với bài báo “Từ "Công ty xuyên quốc gia " thành " Công ty đa quốc gia " một xu thế mới của kinh tế thế giới” đã khái quát về sự hình thành và phát triển của loại hình công ty đa quốc gia. Tác giả đi từ khởi nguồn của công ty xuyên quốc gia – bản chất là công ty có hoạt động đầu tư sản xuất kinh doanh tại nhiều quốc gia nhưng có chủ sở hữu cùng mang 1 quốc tịch đến sự phát triển mở rộng, tính đa sở hữu, tính đại chung và toàn cầu của loại hình công ty đa quốc gia. Tác giả đưa ra kết luận rằng trong nền kinh tế 5 hiện đại ngày nay việc phân loại 2 khái niệm này chỉ mang ý nghĩa hết sức tương đối.[34] - Tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trang trên tạp chí Phát triển kinh tế (2004) số 160 với bài báo “Chính sách tài chính và tiền tệ tác động như thế nào đến các công ty đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam?”. Bài viết đã đưa ra đánh giá về các chính sách tài chính tiền tệ giai đoạn trước 2004 và tác động tới các MNCs cũng như các cách thức, hoạt động tài chính mà các MNCs sử dụng để nâng cao hiệu quả, nâng cao lợi nhuận của mình.
Bài viết đã chỉ ra rằng, các MNCs luôn rất nhanh nhạy trong việc phản ứng với sự thay đổi chính sách, luôn có dự phòng tài chính và có nhiều cách thức để tận dụng “kẽ hở” của chính sách. Bài viết là sự đánh giá của nghiên cứu sinh về hoạt động tài chính và kết cấu tài chính của công ty đa quốc gia, về sức mạnh trong sử dụng chính sách tài chính tiền tệ của loại hình công ty này.[40] - Tác giả Bùi Kim Yến trên tạp chí Phát triển kinh tế (2006) số 187 với bài viết “Chiến dịch toàn cầu hóa của các công ty đa quốc gia”. Nghiên cứu đã chỉ ra sự vận động phát triển của các công ty đa quốc gia trong bối cảnh mới. Đặc biệt, nghiên cứu đã góp phần khẳng định thêm rằng, công ty đa quốc gia đã và đang là động lực phát triển kinh tế toàn cầu; là khởi nguồn và cảm hứng cho mọi xu hướng mới của kinh tế thế giới.
Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra con đường và cách thức phát triển của các MNCs trong điều kiện mới. Nghiên cứu đã chỉ ra xu hướng hoạt động, xu hướng đầu tư quốc tế trong thế kỷ 21 là dòng chảy vốn sang châu Á, đặc biệt là khu vực châu Á Thái Bình Dương. Nghiên cứu cũng đưa ra dự báo, đây là khu vực sẽ có sự bùng nổ và gia tăng các công ty đa quốc gia. Và Việt Nam cũng sẽ không nằm ngoài xu hướng ấy, vừa là điểm đến của các công ty đa quốc gia, vừa là điểm xuất phát cho nhiều MNCs mới.
Bài viết cung cấp thông tin về sở hữu trí tuệ, sở hữu bản quyền của các MNCs hiện chiếm 90% các phát minh quan trọng của toàn nhân loại, là nơi nghiên cứu sáng tạo nổi bật về mọi lĩnh vực, từ khoa học công nghệ đến tài chính tiền tệ, tín dụng. Bài viết đặt ra vấn đề và đòi hỏi sự đổi mới, sự thích ứng của các doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh, tình hình mới.[24] - Trên tạp chí Ngoại thương (2012) số 12 – 13, tác giả Minh Quốc với nghiên cứu “Những tập đoàn đa quốc gia coi trọng các nước mới nổi” đã chỉ ra xu hướng vận động của luồng đầu tư và di chuyển công nghệ của các tập đoàn đa quốc gia với đích đến là các quốc gia mới nổi, các quốc gia có tiềm lực tăng trưởng nhanh như Việt Nam, Thái Lan… Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra những thách thức mà cả hai phía phải tiếp nhận: phía đầu tư và bên tiếp nhận đầu tư, đó là sự khác biệt về tư duy quản lý cũng như khác biệt về chính sách tài chính, thuế, kế toán, kiểm toán. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ CHUYỂN GIÁ VÀ KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIÁ 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, việc nghiên cứu về chuyển giá và kiểm soát chuyển giá đã có tại hầu hết các quốc gia, đặc biệt là ở các quốc gia phát triển – nơi khởi đầu của các MNCs.
Việc nghiên cứu chuyển giá và kiểm soát chuyển giá được đứng ở trên cả hai góc độ: 1) là một chiến lược kinh doanh của các MNCs dựa vào “những gì pháp luật không cấm” và 2) là hoạt động làm sai lệch thị trường, gây cạnh tranh bất bình đẳng và cần thiết phải kiểm soát chặt chẽ hơn. Giáo trình, sách chuyên khảo, hướng dẫn của các cơ quan, tổ chức - Nghiên cứu đầu tiên và sớm nhất phải kể đến là Bộ luật Thuế vụ Hoa Kỳ IRC – Internal Revenue Code năm 1930. Ngay tại thời điểm đó, các nhà hoạch định chính sách ở Hoa Kỳ đã thấy sự bất thường trong vấn đề khai báo doanh thu, chi phí và lợi nhuận cũng như việc đặt các chi nhánh và quyết toán thuế tại các địa điểm (các bang) khác nhau của nước Mỹ cũng như quyết toán thuế ở nước ngoài (bang Hawai hay Alaska) làm giảm bớt chi phí thuế. Theo thời gian, việc nghiên cứu này 7 càng được định hình rõ hơn, và Luật chống chyển giá được Hoa Kỳ chính thức ban hành ngày 01/7/1994; trở thành bộ luật đầu tiên quy định về kiểm soát chuyển giá.
[86] - Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD cũng sớm đưa ra “Báo cáo về việc xác định giá chuyển nhượng và các công ty đa quốc gia” năm 1979. Báo cáo này đã chỉ ra cách thức mà các công ty đa quốc gia thay đổi chi phí thuế tại các chi nhánh, gây ảnh hưởng tới tổng nghĩa vụ thuế phải nộp của toàn tập đoàn. Báo cáo chỉ rõ, các công ty đa quốc gia có lợi thế, đủ khả năng và tiềm lực để thực hiện việc chu chuyển hóa đơn, định lại giá chuyển giao theo ý muốn không chỉ trong nội bộ tập đoàn mà còn là giữa các tập đoàn. Chính báo cáo này sau đó đã được OECD phát triển và xây dựng thành Bộ Nguyên tắc xác định giá chuyển nhượng của các quốc gia thành viên OECD – bộ nguyên tắc mà sau này được nhiều quốc gia áp dụng trên nguyên tắc nền tảng.
Đây chính là hai tài liệu hướng dẫn chi tiết và đầy đủ 5 phương pháp về định giá chuyển giao, là cơ sở để nhiều quốc gia thiết lập các công cụ kiểm soát hoạt động chuyển giá qua định giá chuyển giao. Đặc biệt, tài liệu của OECD còn là sự hướng dẫn cho các công ty đa quốc gia, cơ quan quản lý thuế của các nước về cách thức thỏa thuận giá giao dịch quốc tế để hạn chế tối thiểu việc tránh thuế gây thiệt hại cho nước nhận đầu tư FDI; nhưng đồng thời cũng tránh đánh thuế 2 lần làm tổn tại đến hoạt động của các công ty đa quốc gia. Tài liệu hướng dẫn năm 2017 được xem là bản đầy đủ, hoàn chỉnh, bản thân tài liệu này đã thay đổi nhiều điều khoản mới so với ấn phẩm cùng tên năm 2009.[100] - Một trong những nghiên cứu nổi bật và có giá trị thực tiễn cao trong thời gian gần đây là “Chương trình hành động BEPS về chống xói mòn cơ sở tính thuế và chuyển dịch lợi nhuận (Base Erosion and Profit Shifting)” được các Bộ trưởng G20 và thành viên Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) thông qua vào ngày 5/10/2015. Hiện nay BEPS đang trở thành chủ đề trọng tâm, ưu tiên trong cải 8 cách chính sách và quản lý thuế quốc tế nói chung, trong hợp tác về thuế quốc tế nói riêng trên các diễn đàn toàn cầu và khu vực.
Theo đó, BEPS đặc biệt thiết thực với các nền kinh tế đang phát triển giúp bảo vệ nguồn thu và duy trì, mở rộng cơ sở tính thuế. [102] - Nghiên cứu của tác giả King, Elizabeth (1993) về “Transfer Pricing and Valuation in Corporate Taxation. Federal Legislation vs. Administrative Practice”, Nxb Kluwer Academic Publishers.