CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước Cho đến nay các công trình nghiên cứu có liên quan về kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình ở Việt Nam chưa có nhiều. Mỗi công trình có một cách nghiên cứu dựa trên các góc độ khác nhau tùy thuộc vào từng lĩnh vực, ngành cụ thể. Liên quan đến kiểm soát chi phí có thể chia ra các nhóm nghiên cứu như sau: 1.1 Nhóm nghiên cứu về quản lý chi phí và quản lý dự án Luận án “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý chi phí trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam” năm 2001 của tác giả Trần Hồng Mai [39]. Nội dung chính của luận án gồm lý luận chung về quản lý giá xây dựng.
Tình hình quản lý chi phí đầu tư xây dựng ở Việt Nam và của một số nước trong khu vực và trên thế giới. Nghiên cứu nâng cao chất lượng quản lý giá xây dựng ở Việt Nam. Trong đó tập trung phân tích đối với công tác quản lý giá nói chung và giá xây dựng nói riêng cả trên phương diện lý luận và thực tiễn xây dựng về phát triển kinh tế thị trường và đã khẳng định vai trò của Nhà nước đối với quản lý giá xây dựng trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta. Đối với vai trò của chủ đầu tư, luận án đã tổng kết được những đặc trưng chung nhất của bất cứ chủ đầu tư nào đối với công tác quản lý giá xây dựng, đồng thời làm rõ sự khác biệt về mức giá xây dựng giữa người xác định giá xây dựng của nhà thầu và của tư vấn giúp chủ đầu tư.
Nội dung này góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa chủ đầu tư, nhà thầu, nhà tư vấn đầu tư xây dựng. Ngoài ra Luận án cũng đề cập đến sự hình thành các đặc điểm riêng của giá xây dựng (mang đặc trưng đơn chiếc, lặp đi lặp lại nhiều lần có thứ bậc và được tính tổ hợp từ từng bộ phận kết cấu hình thành) trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của sản phẩm xây dựng, đặc điểm của giá cả hàng hoá nói chung, là tiền đề giúp các nhà chuyên môn, các nhà quản lý nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý giá xây dựng ở Việt Nam. Luận án đã rút ra những vấn đề còn bất cập, còn khiếm khuyết, xác định các sai sót, nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng đến nội dung, phương pháp hình thành giá xây dựng hiện nay, là những đóng góp thực tiễn và khoa học cho việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng quản lý giá xây dựng. Tuy nhiên, nội dung luận án mới chỉ đề cập đến nội dung quản lý chi phí đầu tư xây dựng mà chưa đề cập đến lĩnh vực kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng cũng như mối quan hệ giữa kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng và 6 quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Luận án “Nghiên cứu hoàn thiện một số vấn đề về định giá trong xây dựng ở các công trình sử dụng vốn nhà nước” năm 2002 của tác giả Nguyễn Công Khối [36] có nêu: Thực trạng quản lý và phát triển định giá xây dựng ở Việt Nam; hoàn thiện một số vấn đề về quản lý và phương pháp định giá trong xây dựng ở Việt Nam; một số vấn đề về định giá trong xây dựng theo thông lệ quốc tế; đóng góp việc xác định chính xác chi phí xây dựng trên cơ sở xác định tổng mức đầu tư, tổng dự toán, dự toán hạng mục công trình đảm bảo chất lượng xây dựng, tiết kiệm vốn đầu tư, đủ chi phí và có lãi cho người thực hiện, phù hợp với thị trường Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiếp theo, luận án đã đề cập được những nguyên tắc và nội dung cơ bản của nghiệp vụ tư vấn tính tiên lượng, lập dự toán và quản lý chi phí xây dựng các dự án đầu tư (QS) theo thông lệ quốc tế. Trên cơ sở so sánh đối chiếu với thực trạng ở Việt Nam, từ đó rút ra sự giống và khác nhau giữa hai hệ thống. Ngoài việc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến xác định và quản lý chi phí thì nội dung luận án mới chỉ đề cập đến vai trò của tư vấn QS trong việc lập chi phí đầu tư xây dựng công trình mà chưa nêu rõ vai trò của họ trong việc kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình.
Luận án “Đổi mới cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước” năm 2002 của tác giả Trần Văn Hồng [31] đã nêu được những lý luận cơ bản về vốn đầu tư xây dựng cơ bản và cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản nhà nước. Phân tích đánh giá thực trạng cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản. Luận án đã khái quát, hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận về đầu tư xây dựng cơ bản và cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản của Nhà nước. Phân tích khái niệm cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, những đặc điểm của vốn đầu tư xây dựng cơ bản nói chung, vốn đầu tư xây dựng cơ bản của nhà nước nói riêng.
Nội dung luận án chỉ đề cập đến hoàn thiện cơ chế quản lý sử dụng vốn đầu tư có thể chống thất thoát, lãng phí vốn đầu tư của nhà nước, thúc đẩy tiến độ và mang tính khái quát chung chưa nêu rõ cụ thể phải thực hiện như thế nào. Luận án “Nghiên cứu phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ trong điều kiện Việt Nam” năm 2014 của tác giả Phan Mạnh Cường [23]. Luận án đã góp phần hoàn thiện và làm phong phú thêm hệ thống lý luận về sự hình thành giá xây dựng trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước. Làm sáng tỏ một số vấn đề về giá xây dựng công trình (đã đề cập tới khái 7 niệm, vai trò của giá xây dựng tổng hợp.), phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp công trình đường bộ ở Việt Nam cũng như bài học kinh nghiệm xây dựng đơn giá của một số nước trên thế giới.
Luận án cũng đã phân tích đánh giá thực trạng việc lập và quản lý chi phí trong xây dựng công trình giao thông đường bộ, chỉ ra những thuận lợi, khó khăn trong xây dựng đơn giá. Qua đó, thấy được một số vấn đề mà ngành giao thông cần có giải pháp hoàn thiện. Đó là hệ thống định mức trong ngành giao thông (do Bộ Xây dựng công bố) thiếu nhiều hạng mục công tác cần được xây dựng mới, bổ sung sửa đổi, cần có giá xây dựng tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ phù hợp với điều kiện thực tế của ngành. Bổ sung một số vấn đề khắc phục những tồn tại của phương pháp chung xác lập giá xây dựng tổng hợp do Bộ Xây dựng ban hành nhằm hoàn thiện phương pháp xác lập giá xây dựng tổng hợp, tác giả luận án bổ sung một số công việc quan trọng trong trình tự lập đơn giả tổng hợp xây dựng công trình giao thông đường bộ.
Thực tế cho thấy việc thiết lập bộ đơn giá xây dựng chuyên ngành về giao thông đường bộ để quản lý chi phí áp dụng cho cho các tỉnh thành phố chưa áp dụng được vào thực tế do chưa xét đến đặc thù của xây dựng công trình giao thông đường bộ (cự ly mỏ vật liệu, cước vận chuyển và chi phí nhân công, máy thi công theo khu vực. Luận án “Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách trong ngành giao thông vận tải Việt nam” năm 2012 của tác giả Nguyễn Thị Bình [3] có nêu: Nghiên cứu vấn đề cơ bản về quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trong điều kiện kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ vốn ngân sách nhà nước trong ngành giao thông vận tải; đề xuất phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước trong ngành giao thông vận tải ở Việt Nam những năm tới. Về mặt lý thuyết có nhiều cách tiếp cận phân tích quản lý nhà nước đối với đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách trong ngành giao thông vận tải theo năm khâu của quá trình đầu tư xây dựng cơ bản là xây dựng quy hoạch, kế hoạch, lập thẩm định phê duyệt dự án, triển khai dự án, nghiệm thu thẩm định chất lượng, bàn giao công trình và thanh quyết toán vốn được nghiên cứu dưới sự tác động của các yếu tố môi trường luật pháp, cơ chế chính sách, tổ chức quản lý, năng lực bộ máy thanh tra, kiểm tra giám sát đầu tư xây dựng cơ bản từ nguồn vốn ngân sách nhà nước trong ngành giao thông vận tải. Đối với vai trò quản lý nhà nước về kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng sử dụng 8 nguồn vốn ngân sách nhà nước chưa được đề cập.
Luận án “Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước” năm 2012 của tác giả Nguyễn Minh Đức [26] có nêu: Nghiên cứu tổng quan về chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước; thực trạng giải pháp nâng cao chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước. Luận án đã đề xuất được hai nhóm giải pháp khoa học và khả thi nhằm nâng cao năng lực quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước. Thứ nhất là của chủ đầu tư dự án như lập kế hoạch quản lý thực hiện dự án làm cơ sở lập kế hoạch đấu thầu của dự án và quản lý tiến độ của dự án. Nâng cao năng lực sử dụng các công cụ quản lý dự án trong việc theo dõi, giám sát quá trình thực hiện dự án.
Thứ hai là nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế quản lý dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn nhà nước. Nội dung luận án mới chỉ dừng lại ở việc hoàn thiện nội dung và phương pháp xác định một số chi phí trong tổng mức đầu tư dự án đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn nhà nước.