Chương 1: Giới thiệu tổng quan về tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận án, các nghiên cứu về khung pháp lý về kế toán cho doanh nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng được thực hiện ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới, từ đó rút ra nhận xét về các nghiên cứu đã công bố và xác định vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu. Chương 2: Trình bày một số vấn đề chung về DNNVV và khung pháp lý về kế toán áp dụng cho DNNVV, đồng thời giới thiệu các lý thuyết nền làm cơ sở cho nghiên cứu. Cũng trong chương này, luận án giới thiệu tóm tắt nội dung chuẩn mực kế toán quốc tế áp dụng cho DNNVV và giới thiệu khung pháp lý về kế toán cho DNNVV ở một số quốc gia đại diện cho các khu vực địa lý và các trường phái kế toán khác nhau như: Mỹ, Pháp, Romania, Singapore, Trung Quốc, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Chương 3: Xây dựng khung phân tích của luận án, trình bày từng bước trong quy trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu luận án.
Chương 4: Trình bày kết quả khảo sát về công tác kế toán của DNNVV trên địa bàn TP.HCM, đánh giá của các đối tượng sử dụng thông tin về chất lượng thông tin kế toán DNNVV cung cấp cũng như các nhân tố tác động đến việc vận dụng các văn bản pháp lý vào thực tiễn công tác kế toán tại các doanh nghiệp này. Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát, chương này đưa ra một số giải pháp để định hướng xác lập khung pháp lý về kế toán dành riêng cho DNNVV ở Việt Nam và các giải pháp hỗ trợ để tăng cường tính khả thi cho các văn bản này khi áp dụng thực tiễn. Chương 5: Phần kết luận nêu ra những kết quả mà luận án đã đạt được cũng như những hạn chế của luận án và các định hướng nghiên cứu tiếp theo. Phần cuối cùng của luận án là các công trình khoa học của tác giả có liên quan đến luận án, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục đính kèm.
8 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Sự phát triển của khoa học luôn có sự kế thừa, dựa trên nền tảng của những kết quả nghiên cứu trước đó. Việc xác lập khung pháp lý về kế toán riêng biệt cho DNNVV có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với bản thân doanh nghiệp mà còn cho cả nền kinh tế. Với ý nghĩa trên, khi thực hiện luận án này tác giả đã tiến hành lược khảo các công trình nghiên cứu, các bài viết tham gia các diễn đàn, hội thảo, luận án của các tác giả trong và ngoài nước. Với cơ sở dữ liệu hiện có, tác giả đã tìm ra khá nhiều nghiên cứu có liên quan và lựa chọn để tổng hợp, trình bày trong luận án các bài nghiên cứu có giá trị, được tham chiếu và trích dẫn nhiều, nội dung liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu, là các nghiên cứu của các tác giả tiêu biểu có kinh nghiệm và nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này.
Các nghiên cứu này được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau có mối liên hệ mật thiết để qua đó có được cái nhìn toàn diện về các nghiên cứu trước, từ đó xác định khe hỗng nghiên cứu. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến khung pháp lý về kế toán cho doanh nghiệp đã công bố trên thế giới 1. Nghiên cứu liên quan đến khung pháp lý chi phối công tác kế toán ở doanh nghiệp nói chung Trước khi tổng hợp các nghiên cứu về khung pháp lý về kế toán đặc thù riêng cho DNNVV thì việc xem xét các nghiên cứu liên quan đến khung pháp lý về kế toán cho doanh nghiệp nói chung cũng không kém phần quan trọng. Theo thống kê của tác giả, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề này theo các khía cạnh khác nhau như nghiên cứu quá trình ban hành và vận dụng khung pháp lý về kế toán hay vấn đề áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế ở các quốc gia.
Như chúng ta đã biết, hoạt động kế toán tại các quốc gia trên thế giới (ngoại trừ các quốc gia mang đậm nét đặc trưng của trường phái kế toán Châu Âu lục địa như Pháp, Trung Quốc,…) thì nhìn chung đều dựa trên nền tảng pháp lý là hệ thống chuẩn mực kế toán. Do vậy nghiên cứu về khung pháp lý kế toán thực chất là 9 nghiên cứu về sự ra đời, các yếu tố tác động đến sự ra đời chuẩn mực kế toán cũng như quá trình vận dụng các chuẩn mực này vào thực tiễn. Nội dung nghiên cứu liên quan đến vấn đề này khá đa dạng, do vậy luận án sắp xếp kết quả các nghiên cứu theo từng nhóm vấn đề có liên quan như sau. Các nghiên cứu liên quan đến quá trình hình thành, soạn thảo và ban hành chuẩn mực kế toán Một trong những mảng đề tài mà các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều đó là bàn về quá trình hình thành và ban hành khung pháp lý về kế toán.
Liên quan đến vấn đề này, Katherine Schipper (1994) cho rằng, các nhà nghiên cứu kế toán có đóng góp đáng kể trong quá trình hình thành các chuẩn mực kế toán. Theo tác giả, các nghiên cứu về kết quả thông tin kế toán được sử dụng như thế nào, chi phí để tạo ra thông tin, nghiên cứu về sự lựa chọn chính sách kế toán,…có ý nghĩa hết sức quan trọng và tác động tích cực đến quá trình hình thành chuẩn mực. Vì thế, các nhà lập quy ở các quốc gia cần quan tâm đến vấn đề này trong quá trình ban hành các văn bản pháp lý về kế toán. Một yếu tố cũng không kém phần quan trọng đó là những ảnh hưởng chính trị trong quá trình ban hành chuẩn mực.
Roland Konigsgruber (2010) chỉ rõ những ảnh hưởng chính trị trong quá trình ban hành chuẩn mực ở Mỹ và cộng đồng Châu Âu (EU) đại diện cho hai trường phái kế toán là Anglo-Saxon và Châu Âu lục địa thông qua việc so sánh quy trình ban hành chuẩn mực kế toán ở Mỹ và EU, phân tích thủ tục làm việc qua từng khâu, vai trò của các bộ phận và sự can thiệp của các cơ quan có liên quan. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ở các nước EU tác động của chính trị và khu vực công lên quy định kế toán mạnh hơn ở Mỹ thể hiện qua nhiều cách thức chi phối khác nhau. Điều này xuất phát từ cơ chế ban hành chuẩn mực, tính độc lập của tổ chức lập quy và đặc điểm văn hóa của các quốc gia thuộc hai trường phái kế toán này. Bên cạnh đó, các quốc gia, tổ chức đều nhận thức được vai trò của chuẩn mực kế toán trong nền kinh tế vì các quyết định đầu tư, phân bổ nguồn lực chủ yếu dựa trên tính đáng tin cậy, đầy đủ và dễ hiểu của thông tin kế toán tài chính, vì vậy quá trình ban hành chuẩn mực cần tham khảo ý kiến của nhiều bên liên quan (như ủy ban chứng khoán, các hội nghề nghiệp, ngân hàng, các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp.) để 10 đảm bảo nhu cầu và quyền lợi của họ được xem xét đến (Douglas P.
Do đó, khi nghiên cứu về quy trình ban hành chuẩn mực kế toán của Mỹ, Douglas P. Letsch (2010) đã tập trung vào khâu thu thập ý kiến các bên có liên quan. Theo tác giả, Thư lấy ý kiến (comment letters) là một công cụ quan trọng được Ủy ban chuẩn mực kế toán Mỹ (FASB) sử dụng trong việc phát triển hệ thống chuẩn mực kế toán, vì vậy cần cải tiến quy trình lấy ý kiến, mở rộng đối tượng thu thập ý kiến,.để từ đó nhiều nhóm đối tượng chủ động tham gia vào quá trình phát triển các chuẩn mực kế toán. Ban hành các văn bản pháp quy đầy đủ, phù hợp không có nghĩa là quá trình vận dụng vào thực tiễn hoàn toàn thuận lợi mà muốn các văn bản này phát huy tác dụng thì cần sự hợp tác từ phía người làm công tác kế toán.
Muốn đạt được điều này, trước hết cần tăng cường mối liên hệ giữa công tác kế toán với việc ban hành chuẩn mực và việc giám sát tuân thủ chuẩn mực. Những người làm kế toán sẽ tích cực tham gia đóng góp phản hồi cho các bản dự thảo nếu ý kiến của họ có tác động đến việc chỉnh sửa và nội dung chuẩn mực ban hành chính thức. Tiếp đó là phương thức lấy ý kiến đóng vai trò quan trọng trong việc tham gia ý kiến của những người làm thực tế. Những người này phải thực sự cảm thấy họ có cơ hội tác động đến nội dung các chuẩn mực kế toán và thực sự ý kiến của họ được lắng nghe chứ không phải là một chiêu trò hình thức.
Mặc dù tổ chức ban hành chuẩn mực khó có thể tiếp thu hết các đóng góp này do chúng có thể mâu thuẫn với nhau nhưng ít ra họ sẽ xem xét và giải thích tại sao các ý kiến này không được đưa vào chuẩn mực (Sylvain Durocher & Anne Fortin, 2011) và điều này hết sức có ý nghĩa trong việc đảm bảo các chuẩn mực được ban hành mang tính khả thi cao khi áp dụng vào thực tiễn. Các nghiên cứu liên quan đến vấn đề vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế vào từng quốc gia. Bên cạnh chủ đề về quá trình nghiên cứu, soạn thảo và ban hành chuẩn mực, trong những thập niên gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế và xu hướng hội tụ kế toán quốc tế, chuẩn mực kế toán quốc tế đang ngày càng được áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia thuộc nhiều khu vực trên thế giới. Vì thế rất nhiều công trình đã công bố liên quan đến mảng đề tài này nghiên cứu vấn đề áp dụng 11 chuẩn mực kế toán quốc tế vào các quốc gia.