CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Tính cấp thiết của đề tài Về lý luận Mỗi doanh nghiệp (DN) trong quá trình hoạt động luôn phát sinh nhiều vấn đề, nhà quản trị (NQT) cần xác định các phương án giải quyết và ra quyết định (RQĐ) lựa chọn phương án tối ưu nhất. Để có cơ sở ra quyết định, NQT phải căn cứ vào thông tin được thu thập từ nhiều nguồn, bằng nhiều cách với sự hỗ trợ của các công cụ quản trị, trong đó nguồn thông tin quan trọng, chiếm tỷ lệ lớn là kế toán quản trị (KTQT). Chất lượng thông tin KTQT cung cấp có ảnh hưởng lớn đến chất lượng quyết định (QĐ) trong quản trị DN.
Nếu được cung cấp những thông tin kịp thời và đáng tin cậy, NQT sẽ tập trung vào những vấn đề chính cần giải quyết để đưa ra những QĐ kinh doanh hiệu quả. Ngược lại, nếu thiếu thông tin hoặc có quá nhiều thông tin và thông tin lại không đủ độ tin cậy, không thích hợp sẽ dẫn đến tình trạng nhiễu thông tin, gây khó khăn cho việc RQĐ, thậm chí dẫn đến QĐ sai. Kế toán quản trị hình thành và phát triển từ đầu thế kỷ 20 xuất phát từ yêu cầu các DN cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Trong những năm qua, sự kế thừa, hoàn thiện và phát triển phong phú cả về nội dung và phương pháp là những minh chứng khẳng định vai trò của KTQT không chỉ đối với nghề nghiệp kế toán mà còn đối với sự phát triển của các tổ chức.
KTQT đã trở thành một trong những công cụ quản trị có tính hữu dụng rất cao và ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình quản lý nhằm thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả tất cả các mục tiêu của DN. Tại Việt Nam, trong hai thập kỷ vừa qua, KTQT là chủ đề được giới nghiên cứu về khoa học kế toán quan tâm với nhiều cách tiếp cận khác nhau, có thể là theo từng phần hành của KTQT, theo chức năng thông tin, hoặc dưới góc độ tổ chức vận dụng các kỹ thuật KTQT. Các vấn đề nghiên cứu thường chuyên sâu vào một số nội dung cụ thể như: KTQT các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh (tiền, hàng tồn kho, tài sản cố định (TSCĐ), các khoản công nợ,…), KTQT doanh thu, chi phí, giá thành, kết quả hoạt động… Một cách gián tiếp, các nghiên cứu này đã hướng đến mục tiêu của KTQT là cung cấp thông tin, số liệu về các hoạt động, các quá trình, các đơn vị kinh doanh, các loại sản phẩm, dịch vụ, khách hàng… của DN để hỗ trợ các nhà quản trị ra những quyết định tốt hơn. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào trực tiếp đề cập đến nội dung KTQT với việc ra quyết định.
Việc nghiên cứu chuyên sâu, một cách có hệ thống về KTQT với việc ra quyết định sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, qua đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN. Về thực tiễn Sản xuất cơ khí là một ngành công nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam. Nhiều năm qua, 2 Chính phủ đã có những chính sách hỗ trợ DN để phát triển ngành cơ khí nhanh, mạnh và bền vững. Trong giai đoạn 2015 - 2020, với tỷ trọng đóng góp vào GDP duy trì ổn định từ 31% - 35%, sản xuất cơ khí đã trở thành ngành đóng góp nhiều nhất cho Ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, do ảnh hưởng từ nền kinh tế thế giới suy thoái cùng với tác động của đại dịch Covid-19, các ngành công nghiệp nói chung và sản xuất cơ khí nói riêng đang phải đối diện với nhiều khó khăn. Trong khi giá nguyên vật liệu (NVL) đầu vào luôn biến động, các hiệp định thương mại đã ký kết có hiệu lực, năng lực cạnh tranh của nhiều DNSX cơ khí trong nước còn yếu do thiếu vốn đầu tư, công nghệ sản xuất, máy móc thiết bị và sự hạn chế về trình độ nhân lực. Nhiều DN chưa có chiến lược kinh doanh cụ thể, khâu đổi mới còn yếu kém, chưa sẵn sàng tiếp cận công nghệ mới để có thể đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao về sản phẩm công nghệ có chất lượng quốc tế trong môi trường toàn cầu hoá. Để hỗ trợ quá trình điều hành DN, các DNSX cơ khí Việt Nam đang ngày càng quan tâm đến KTQT nói chung và KTQT với việc RQĐ ngắn hạn nói riêng.
Về mặt pháp lý, KTQT đã được công nhận chính thức trong Luật kế toán Việt Nam (2003, 2015). Nhưng cho đến nay, ngoài Thông tư 53/2006/TT- BTC, chưa có thêm văn bản nào hướng dẫn cụ thể việc áp dụng KTQT cho các DN. Các DNSX cơ khí có những đặc điểm riêng biệt về công nghệ, trình độ tổ chức sản xuất, quản lý. Những đặc điểm này chi phối rất nhiều đến áp dụng KTQT nói chung và KTQT với việc RQĐ ngắn hạn nói riêng.
Trên thực tế, nhiều DN còn lúng túng trong quá trình triển khai áp dụng KTQT, một số nội dung KTQT đang được thực hiện ở mức độ rất đơn giản, chưa hiệu quả, thông tin KTQT cung cấp chưa đáp ứng được yêu cầu của các nhà quản trị DN. Vì vậy, KTQT với việc ra quyết định tại các DNSX cơ khí Việt Nam cần được hoàn thiện để phù hợp với yêu cầu quản trị DN trong bối cảnh hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Trên cả góc độ lý luận và thực tiễn đều khẳng định vai trò của KTQT nói chung, trong đó có KTQT với việc RQĐ ngắn hạn. Việc nghiên cứu, hoàn thiện nội dung và phương pháp để KTQT thực sự là một công cụ quản trị hữu ích đối với quản trị DN, hỗ trợ NQT ra quyết định trong quá trình thực hiện các chức năng quản lý là một yêu cầu lớn đặt ra cho các nhà nghiên cứu và cũng là vấn đề được các DNSX cơ khí rất quan tâm trong chiến lược phát triển.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu “Kế toán quản trị với việc ra quyết định ngắn hạn tại các doanh nghiệp sản xuất cơ khí Việt Nam” cho đề tài Luận án của mình. Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến đề tài và khoảng trống nghiên cứu 1. Cách tiếp cận nghiên cứu kế toán quản trị Trên thế giới, cách tiếp cận phổ biến về KTQT là nghiên cứu việc vận dụng các kỹ thuật KTQT để xử lý, phân tích thông tin hỗ trợ nhà quản trị đưa ra các QĐ trong quá trình điều hành, quản lý DN. 3 Tại Việt Nam, KTQT được đề cập một cách hệ thống trong khoảng 2 thập niên trở lại đây với 3 hướng tiếp cận phổ biến nhất là: theo các phần hành kế toán, theo chức năng thông tin và trong mối quan hệ với các chức năng của nhà quản trị DN.
Các nghiên cứu tiếp cận nội dung kế toán quản trị theo các phần hành kế toán Ở góc độ này, KTQT được nghiên cứu với những chủ đề rất đa dạng: KTQT chi phí, KTQT chi phí và giá thành, KTQT doanh thu và kết quả hoạt động kinh doanh trong các loại hình DN thuộc các ngành nghề SXKD như: DN khai thác than (Trần Văn Hợi, 2007), DN dịch vụ vận chuyển hành khách, vận tải đường biển, đường bộ (Nguyễn Thị Ngọc Lan, 2012; Đỗ Thị Mai Thơm, 2012; Lê Thanh Bằng, 2020), DN sản xuất giống cây trồng (Nguyễn Quốc Thắng, 2011), DNSX bánh kẹo (Nguyễn Hoản, 2012; Nguyễn Hải Hà, 2016), DNSX ô tô (Nguyễn Thị Ngọc Thạch, 2013), DNSX xi măng, DNSX mía đường, DN xây dựng, DN sản xuất gốm sứ (Đỗ Thị Thu Hằng, 2016; Lê Thế Anh, 2017; Phạm Quang Thịnh, 2018; Đặng Nguyên Mạnh, 2019; Nguyễn Thị Nhinh, 2021.), DN kinh doanh xuất nhập khẩu (Ngô Văn Lượng, 2019), DN sản xuất giấy (Tô Minh Thu, 2019), DN may (Đào Thị Hương, 2019.)… Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu về KTQT các yếu tố của quá trình SXKD như: tiền, hàng tồn kho, TSCĐ, lao động và tiền lương, các khoản công nợ, các khoản đầu tư tài chính và các hoạt động khác của DN. Trong mỗi nội dung này các tác giả lại có những cách tiếp cận khác nhau nhưng phổ biến nhất là cách tiếp cận theo quá trình thu thập, xử lý, truyền đạt và sử dụng thông tin. Những nghiên cứu này mặc dù không trực tiếp hướng đến chủ đề KTQT với việc RQĐ, nhưng ở một góc độ nhất định cũng gián tiếp hướng đến vai trò của KTQT là cung cấp thông tin hỗ trợ NQT đưa ra các QĐ kinh doanh thông qua việc quản lý chuyên sâu 1 đối tượng kế toán cụ thể. Các nghiên cứu tiếp cận nội dung kế toán quản trị theo chức năng thông tin tư vấn cho quá trình ra quyết định của doanh nghiệp Ở góc độ này, các nghiên cứu đã làm sáng tỏ nội dung KTQT theo tiến trình thông tin để có thông tin hữu ích cung cấp cho NQT các cấp trong DN.
Từ năm 2002, với đề tài NCKH cấp Bộ “Tổ chức thông tin KTQT tư vấn cho các tình huống quyết định ngắn hạn trong DN”, Đoàn Xuân Tiên và nhóm nghiên cứu đã phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến QĐ ngắn hạn và mối quan hệ giữa thông tin KTQT với các tình huống RQĐ ngắn hạn trong DN. Cũng trong nghiên cứu này, các tác giả đã xây dựng quy trình thu thập, xử lý và phân tích thông tin, lập báo cáo quản trị (BCQT) cung cấp thông tin tư vấn cho NQT ra quyết định trong một số tình huống điển hình. Đây có thể coi là nghiên cứu đầu tiên đơn thuần, chuyên sâu về KTQT với việc RQĐ ngắn hạn trong DN. Mặc dù có những đóng góp nhất định cho nghiên cứu lý luận và thực tiễn áp dụng KTQT trong giai đoạn đầu nhưng đề tài chưa nghiên cứu, khảo sát và làm rõ thực trạng 4 KTQT với việc RQĐ ngắn hạn trong một loại hình DN cụ thể mà chỉ dừng lại ở việc đề xuất mô hình nghiên cứu về mặt lý thuyết với các tình huống giả định.
Những nghiên cứu sau này của các tác giả: Phạm Ngọc Toàn (2010), Hoàng Văn Tưởng (2010), Nguyễn Thị Thanh Loan (2014), Phạm Thị Tuyết Minh (2015), Chu Thị Bích Hạnh (2016),.