Luận án tiến sĩ hôn nhân của người tày ở vùng biên giới huyện phục hòa tỉnh cao bằng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu hôn nhân của người Tày tại vùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, phân tích văn hóa và đặc điểm xã hội.

Trường đại học

Học viện Khoa học xã hội

Chuyên ngành

Nhân học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

185
5
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.2. Khái quát địa bàn nghiên cứu. Người Tày ở vùng biên giới huyện Phục Hòa

1.2. ĐẶC ĐIỂM HÔN NHÂN CỦA NGƯỜI TÀY TRUYỀN THỐNG VÀ BIẾN ĐỔI

1.2.1. Đặc điểm hôn nhân truyền thống

1.2.2. Những biến đổi trong hôn nhân

1.3. HÔN NHÂN XUYÊN BIÊN GIỚI

1.3.1. Đặc điểm vùng biên giới với hôn nhân xuyên biên giới

1.3.2. Tình hình hôn nhân xuyên biên giới ở vùng biên giới huyện Phục Hòa

1.3.3. Những đặc điểm kết hôn xuyên biên giới

1.3.4. Lễ cưới của các cặp hôn nhân xuyên biên giới

1.3.5. Mức độ liên lạc gia đình. Một số yếu tố cơ bản tác động đến hôn nhân xuyên biên giới ở vùng biên

1.4. NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI, GIÁ TRỊ HÔN NHÂN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

1.4.1. Những yếu tố tác động đến biến đổi hôn nhân

1.4.2. Giá trị của hôn nhân

1.4.3. Một số vấn đề đăt ra đối với hôn nhân vùng biên giới

1.4.4. Một số kiến nghị

DANH MỤC CÔNG TRÌNH, BÀI BÁO KHOA HỌC NGHIÊN CỨU SINH ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận án tiến sĩ này tập trung vào hôn nhân của người Tàyvùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Nghiên cứu này nhằm phân tích các đặc điểm truyền thống và biến đổi trong hôn nhân của người Tày, đặc biệt là trong bối cảnh giao lưu văn hóa và kinh tế xuyên biên giới. Vùng biên giới này có cửa khẩu quốc tế Tà Lùng, nơi đời sống kinh tế và xã hội của người Tày đang có những thay đổi nhanh chóng. Nghiên cứu này không chỉ góp phần bảo tồn văn hóa người Tày mà còn đề xuất các giải pháp phát triển bền vững cho cộng đồng này.

1.1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chính của luận án tiến sĩ là nghiên cứu và phân tích các đặc điểm truyền thống và biến đổi trong hôn nhân của người Tàyvùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Nghiên cứu này cũng nhằm làm rõ xu hướng và các vấn đề đặt ra trong hôn nhân, đặc biệt là hôn nhân xuyên biên giới, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy các giá trị văn hóa tộc người.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính là hôn nhân của người Tàyvùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các xã và thị trấn có đường biên giới quốc gia giữa Việt Nam và Trung Quốc, nơi người Tày cư trú tập trung. Nghiên cứu tập trung vào các đặc điểm, biến đổi trong hôn nhân và hôn nhân xuyên biên giới.

II. Đặc điểm hôn nhân truyền thống và biến đổi

Luận án tiến sĩ này phân tích các đặc điểm hôn nhân truyền thống của người Tày và những biến đổi trong hôn nhân do ảnh hưởng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và giao lưu văn hóa xuyên biên giới. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù các nghi lễ và tập quán hôn nhân truyền thống vẫn được duy trì, nhưng có sự thay đổi đáng kể trong cách thức và quan niệm về hôn nhân, đặc biệt là sự gia tăng của hôn nhân xuyên biên giới.

2.1. Hôn nhân truyền thống

Hôn nhân truyền thống của người Tày được đặc trưng bởi các nghi lễ phức tạp và sự tuân thủ các nguyên tắc văn hóa tộc người. Các bước trong nghi lễ hôn nhân bao gồm đám dạm, đám hỏi và đám cưới, được thực hiện theo các quy định nghiêm ngặt của cộng đồng. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, hôn nhân truyền thống của người Tày không chỉ là sự kết hợp giữa hai cá nhân mà còn là sự liên kết giữa hai gia đình và cộng đồng.

2.2. Biến đổi trong hôn nhân

Những biến đổi trong hôn nhân của người Tày được thể hiện qua sự thay đổi trong quan niệm về hôn nhân, cách thức kết hôn và các nghi lễ liên quan. Sự gia tăng của hôn nhân xuyên biên giới là một trong những biến đổi đáng chú ý, phản ánh sự giao thoa văn hóa và kinh tế giữa hai quốc gia. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các yếu tố kinh tế, xã hội và chính sách đã tác động mạnh mẽ đến sự biến đổi này.

III. Hôn nhân xuyên biên giới và tác động xã hội

Hôn nhân xuyên biên giới là một trong những vấn đề nổi bật được đề cập trong luận án tiến sĩ này. Nghiên cứu chỉ ra rằng, hôn nhân xuyên biên giới giữa người Tày và các tộc người khác ở bên kia biên giới đã gia tăng đáng kể trong những năm gần đây. Điều này không chỉ phản ánh sự giao thoa văn hóa mà còn đặt ra nhiều thách thức về an ninh xã hội và bảo tồn văn hóa người Tày.

3.1. Đặc điểm hôn nhân xuyên biên giới

Hôn nhân xuyên biên giới được đặc trưng bởi sự kết hợp giữa các tộc người khác nhau, thường là giữa người Tày và người Choang (Trung Quốc). Nghiên cứu chỉ ra rằng, các cuộc hôn nhân này thường được thúc đẩy bởi các yếu tố kinh tế và xã hội, như sự giao thương qua lại và mối quan hệ tộc người hai bên biên giới. Các nghi lễ hôn nhân trong trường hợp này cũng có sự kết hợp giữa các yếu tố văn hóa của cả hai tộc người.

3.2. Tác động xã hội

Hôn nhân xuyên biên giới đã tạo ra nhiều tác động xã hội đáng kể, bao gồm sự thay đổi trong cấu trúc gia đình và cộng đồng, cũng như các vấn đề liên quan đến an ninh xã hội. Nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng, hôn nhân xuyên biên giới có thể dẫn đến sự pha trộn văn hóa, nhưng cũng đặt ra thách thức trong việc bảo tồn văn hóa người Tày truyền thống.

IV. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Luận án tiến sĩ này không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về hôn nhân của người Tàyvùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người. Nghiên cứu cũng góp phần giải quyết các thách thức về an ninh xã hội và phát triển bền vững cho cộng đồng này.

4.1. Giá trị học thuật

Luận án tiến sĩ này là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện về hôn nhân của người Tàyvùng biên giới huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng. Nghiên cứu này không chỉ làm phong phú thêm kiến thức về văn hóa người Tày mà còn cung cấp cơ sở lý luận cho các nghiên cứu tiếp theo về hôn nhân và văn hóa tộc người.

4.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn lớn trong việc đề xuất các chính sách nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tộc người, cũng như giải quyết các vấn đề xã hội phát sinh từ hôn nhân xuyên biên giới. Các kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng các chính sách phát triển bền vững cho cộng đồng người Tàyvùng biên giới.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hôn nhân của người tày ở vùng biên giới huyện phục hòa tỉnh cao bằng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, KHÁI QUÁT VỀ TỘC NGƯỜI VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Người Tày có dân số đông nhất trong 53 tộc người thiểu số ở Việt Nam, có lịch sử và truyền thống văn hóa lâu đời nên thu hút được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu. Nghiên cứu về người Tày 1. Nghiên cứu của các học giả ngoài nước về người Tày Vào những năm đầu của thế kỉ 20, một số học giả người Pháp đã quan tâm và nghiên cứu về người Tày.

Trước hết kể đến các công trình của học giả nổi tiếng A. Bonifacy, như: Những nghi lễ trong tang ma của người Thổ (1904) [8], Sưu tập truyện cổ tích Thổ trên hai bờ sông Lô (1905) [9], Khởi nghĩa của người Tày năm 1983: ghi chép tác chiến quân đội vì sự đàn áp (1907) [10], Tết Hồ Bồ của người Tày (1915) [11], Lòng kiên nhẫn vô biên: truyện cổ tích Thổ (1915) [12]. Qua các bài viết, ông đưa ra một số nhận định có giá trị tham khảo như tang lễ của người Thổ không khác gì với tang lễ của người Việt vì người Thổ và người Việt đều tiếp thu nền văn minh Trung Quốc; tết Hồ Bồ của người Tày gắn với nghi lễ nông nghiệp, không có kiêng kỵ, cũng như cầu khấn Phật. Bên cạnh đó, còn có công trình của A.Biddet bàn về sự giống nhau giữa người Thổ ở Lạng Sơn, Cao Bằng với người Choang ở Quảng Tây (Trung Quốc) và người Kinh, người Nùng, người Thái, người Mường (Việt Nam) trên các phương diện: tộc tính, ngôn ngữ… 11 Trong nhiều năm trở lại đây, nghiên cứu của các học giả ngoài nước về người Tày có lẽ ngày càng phong phú nhưng dù cố gắng NCS chưa tiếp cận được do thiếu thông tin tìm nguồn tư liệu và rào cản về ngôn ngữ, đặc biệt là nghiên cứu của các học giả Trung Quốc được viết bằng tiếng Trung.

Vào năm 2015, tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam có 02 luận văn thạc sĩ ngành Việt Nam học bảo vệ thành công của các học viên người Trung Quốc tên là Cai Li Chao (Thái Lập Siêu) [17] và Qin Yu Qiao (Đàm Vũ Tiếu) [94] nghiên cứu về tín ngưỡng và tục cưới hỏi của người Tày ở khu vực biên giới tỉnh Cao Bằng so sánh với người Choang ở khu vực biên giới phía Nam Quảng Tây (Trung Quốc). Các nghiên cứu đã chỉ ra nhiều điểm tương đồng trong tín ngưỡng và tục cưới xin của người Tày và người Choang, góp phần khẳng định mối liên hệ xuyên suốt lịch sử của hai tộc người này, cũng như cơ sở xem xét các nhân tố tạo dựng các cuộc hôn nhân xuyên biên giới. Nhìn chung, mặc dù NCS chưa tiếp cận được nhiều các nghiên của các học giả ngoài nước về người Tày, đặc biệt ở hôn nhân nhưng những gì đã có cơ bản giúp NCS có được thêm những góc nhìn, đánh giá quan trọng hoàn thiện nội dung luận án. Nghiên cứu của học giả trong nước về người Tày và hôn nhân người Tày Có thể khẳng định người Tày là một trong số ít tộc người được nhiều học giả trong nước quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh lịch sử, văn hóa, xã hội khác nhau, phần nào phù hợp với vai trò, vị thế và đóng góp của họ trong lịch sử hình thành, phát triển, đấu tranh và xây dựng đất nước.

Ở phần viết này, NCS điểm nhấn một số nghiên cứu về người Tày, đặc biệt hơn với nghiên cứu về hôn nhân. Từ triều đại nhà Lê, nhà Nguyễn, người Tày đã được đề cập trong các cuốn sách nổi tiếng như Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (1726-1784) [36] 12 và Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú (1782-1840) [24]… Mặc dù tư liệu ở mức độ khái lược nhưng giúp thế hệ sau phần nào hiểu được sinh hoạt văn hóa dân gian của người Tày ở Việt Nam trong các thế kỷ trước. Sau khi đất nước thống nhất 1975, nhất là những năm gần đây, ngày càng có nhiều học giả nghiên cứu về người Tày. Dự tính đến thời điểm hiện tại có trên 120 đầu mục tài liệu gồm sách và tạp chí viết về người Tày, ở đó đề cập đa dạng các vấn đề từ nguồn gốc tộc người, văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, tôn giáo và văn học nghệ thuật.

Chủ đề hôn nhân, gia đình, đặc biệt phong tục cưới xin là một trong những khía cạnh đời sống thu hút quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Một trong cuốn sách đầu tiên nghiên cứu về văn hóa Tày sau năm 1975 kể đến là ấn phẩm Văn hóa Tày Nùng của các tác giả Hà Văn Thư và Lã Văn Lô (1982) [121]. Cuốn sách đề cập đến nhiều khía cạnh văn hóa của người Tày, Nùng như tín ngưỡng tôn giáo, sinh đẻ, ma chay, tiếng nói, chữ viết. và một phần nhỏ về hôn nhân.

Các đặc điểm hôn nhân như tuổi kết hôn, nguyên tắc trong quan hệ hôn nhân, các bước tiến hành hôn nhân được diễn giải cơ bản, có thể xem như khởi đầu, đề dẫn cho các nghiên cứu hôn nhân sau này. Giả dụ như nhận định: “hôn nhân ở vùng Tày, Nùng có tính chất mua bán. 42] được nhiều nghiên cứu tiếp nối đề cập. Cuốn sách Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam của Viện Dân tộc học xuất bản năm 1992 [135] góp phần đầy đủ hơn cho nghiên cứu tổng quan về người Tày.

Ở phần viết về hôn nhân, mặc dù các tác giả chỉ dành hơn 20 trang sách trong tổng số 332 trang sách nhưng cho thấy rõ nét đặc điểm hôn nhân của người Tày từ các nguyên tắc kết hôn, việc tìm hiểu, cư trú sau hôn nhân, nghi lễ đám cưới. Các vấn đề được đề cập trong sách góp phần định hình cho các nghiên cứu hôn nhân sau này nói chung và người Tày nói riêng. 13 Vào năm 1994, nghiên cứu của tác giả Đỗ Thúy Bình [6] về Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng và Thái ở Việt Nam có thể xem là nghiên cứu đầu tiên tập trung ở khía cạnh hôn nhân và gia đình dù tập hợp 3 tộc người cùng ngữ hệ. Ở phần nghiên cứu về hôn nhân, tác giả tìm hiểu nhiều về Luật hôn nhân gia đình, những đánh giá đặc điểm hôn nhân được minh chứng bằng các số liệu điều tra xã hội học.

Có lẽ đây là phương cách ít người làm với thể loại chủ đề này tại thời điểm đầu những năm 1990 nhưng có giá trị thiết thực với những ai tiếp nối nghiên cứu về hôn nhân của người Tày trong so sánh với người Nùng, Thái sau này. Cùng trong năm 1994, các tác giả Hoàng Quyết, Tiến Dũng [101] xuất bản ấn phẩm Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc. Việt Bắc là địa danh phổ biến trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, bao trùm nhiều tỉnh ở miền núi phía Bắc và nay gồm 6 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên. Với tựa đề về phong tục tập quán, các tác giả đã dành toàn bộ Chương II để viết Phong tục tập quán về lễ cưới và Lễ cưới.

Ở phần này, các tác giả miêu tả rõ ràng các bước chuẩn bị cho lễ cưới như tiền bạc, lợn, tham gia phường họ bạn, giúp người khác về vật chất, tìm ướm chọn con dâu tương lai, đưa con trai ra xã hội. Mỗi vấn đề là một câu chuyện được kể về cách thức chuẩn bị đi cùng quan điểm xã hội đặt ra với nó. Sự phân định rành mạch như vậy giúp người đọc dễ hiểu, dễ nắm bắt nội dung nghi lễ cưới của người Tày. Dựa trên nghiên cứu đã có, năm 1995 tác giả Triều Ân hợp tác cùng Hoàng Quyết [2] xuất bản cuốn sách riêng về Tục cưới xin của người Tày.

Sách gồm hai phần nội dung chính: Tục cưới xin và lễ cưới và Thơ quan làng, pả mẻ. Ở phần Tục cưới xin và lễ cưới phần nhiều được các tác giả tiếp nối và bổ sung từ cuốn sách Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc (1994) bởi vậy không có nhiều điểm mới trong nghiên cứu. Nhưng phần hai về Thơ quan 14 làng, pả mẻ là tư liệu rất có giá trị tham khảo trong nghiên cứu hôn nhân người Tày. Thơ được dùng trong các tình huống đối đáp giữa ông quan làng, bà pả mẻ là những người đại diện nhà trai và nhà gái trong ngày cưới, được các tác giả sưu tầm tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Thái (Bắc Kạn, Thái Nguyên), Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang.

Năm 1997, tác giả Nguyễn Thanh Nga [88] có bài viết về Phong tục cưới xin cổ truyền của người Tày ở Cao Bằng, được đăng tải tại phần Tư liệu dân tộc học trên Tạp chí Dân tộc học nên lượng thông tin, phân tích, đánh giá khoa học không cao. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu đầu tiên về hôn nhân của người Tày tại Cao Bằng, có thể dùng để so sánh thấy điểm tương đồng và khác biệt với hôn nhân của người Tày ở nhiều địa phương khác trước đó. Đến năm 2001, có một cuốn sách riêng về hôn nhân của người Tày ở tỉnh Cao Bằng của các tác giả Hoàng Tuấn Nam và Bế Thanh Tuyền với tiêu đề Việc dựng vợ gả chồng của người Tày ở Cao Bằng [86]. Các tác giả đều là người Tày, như Hoàng Tuấn Nam (chủ biên) là người Tày ở huyện Hòa An, tỉnh Cao Bằng nên nguồn tư liệu có tính chính xác cao khi trực tiếp viết về tộc người và địa phương của họ.

Tuy nhiên, tư liệu đơn thuần mô tả, ít phân tích, đánh giá. Phần một quyển sách tập trung diễn giải các bước tiến hành hôn nhân, phần hai là các bài thơ quan làng, pả mẻ sưu tập được. Vào năm 2010, tác giả La Công Ý [140] sau 30 năm gắn bó với sự nghiệp nghiên cứu dân tộc học đã xuất bản cuốn sách trên 400 trang về tộc người của ông với tiêu đề Đến với người Tày và văn hóa Tày. Đây là công trình dày dặn đề cập nhiều lĩnh vực từ nguồn gốc lịch sử tộc người, ngôn ngữ, sinh kế truyền thống, đời sống vật chất, quan hệ hệ xã hội, văn hóa phi vật thể và những thành tựu hiện nay.

Nguồn tư liệu được đúc kết từ các nghiên cứu có trước, quá trình nhiều năm thực tế trải nghiệm với lối viết chắc chắn đã tạo nên tổng quan tương đối hoàn chỉnh về người Tày. Phần nghiên cứu về hôn 15 nhân và gia đình trong chỉnh thế đó được miêu tả, diễn giải chi tiết, có sự so sánh khác biệt hôn nhân của người Tày ở các vùng khác nhau.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ