HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Tìm hiểu về hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam. Phân tích vai trò, chức năng và nhiệm vụ trong hệ thống chính trị.

Trường đại học

Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2016

230
4
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

1.1.3. Tóm lược các kết quả nghiên cứu từ cách tiếp cận của Luận án

1.1.4. Những vấn đề Luận án cần tiếp tục giải quyết

1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu

1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu

1.2.3. Các giả thuyết nghiên cứu

1.3. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

2.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

2.1.1. Vị trí, vai trò của HĐDT, các Ủy ban

2.1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

2.2. PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN

2.2.1. Phiên họp toàn thể

2.2.2. Hoạt động của các cơ cấu bên trong HĐDT, các Ủy ban

2.2.3. Hoạt động của HĐDT, các Ủy ban đặt trong mối quan hệ với hoạt động của các cơ quan, tổ chức hữu quan

2.3. YÊU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN

2.3.1. Bảo đảm hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp

2.3.2. Bảo đảm tính khách quan. Góp phần phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Minh định rõ các nguyên tắc hoạt động của HĐDT, các Ủy ban và bảo đảm thực hiện đầy đủ các nguyên tắc này trong xác lập nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trong thực tiễn hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.

2.3.3. Gia tăng giá trị hoạt động của HĐDT, các Ủy ban thông qua việc phát huy vai trò, trí tuệ, sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân

2.3.4. Tính thường xuyên phải được bảo đảm đầy đủ hơn trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

2.4. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

3.1. HOẠT ĐỘNG CỦA HĐDT, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI QUA CÁC GIAI ĐOẠN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HĐDT, CÁC ỦY BAN

3.2. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA HĐDT, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI HIỆN NAY

3.2.1. Thực tiễn hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong lĩnh vực lập pháp

3.2.2. Thực tiễn hoạt động giám sát của HĐDT, các Ủy ban

3.2.3. Thực tiễn hoạt động kiến nghị của HĐDT, các Ủy ban

3.2.4. Phương thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

3.2.5. Về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, về sự chỉ đạo, điều hòa phối hợp hoạt động của UBTVQH đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

3.3. THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM VỀ BỘ MÁY GIÚP VIỆC, VỀ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH

3.3.1. Về bộ máy giúp việc

3.3.2. Nguồn lực tài chính dành cho hoạt động của HĐDT, các Ủy ban chưa tương xứng

3.4. Kết luận Chương 3

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

4.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

4.1.1. Tăng cường và tiếp tục đổi mới một bước phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.1.2. Bảo đảm vị trí, vai trò mang tính chất “trụ cột” của HĐDT, các Ủy ban trong hoạt động của Quốc hội

4.1.3. Hoạt động của HĐDT, các Ủy ban phải được quy định bằng pháp luật một cách nhất quán, đầy đủ, cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tế

4.1.4. Kế thừa những kinh nghiệm quý báu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội nước ta; đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm hoạt động của hệ thống Ủy ban Quốc hội các nước

4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

4.2.1. Xác lập và vận hành tổ chức Đảng ở cấp độ HĐDT, các Ủy ban

4.2.2. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của UBTVQH trong chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.2.3. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.2.4. Về phương thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.2.5. Đáp ứng nhu cầu thực tế về các điều kiện bảo đảm hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.3. Kết luận Chương 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC BẢNG VÀ PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu Luận Án Hội Đồng Dân Tộc và Quốc Hội 55 ký tự

Với vai trò là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội (QH) đảm nhiệm ba chức năng then chốt: lập hiến, lập pháp; quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; và giám sát tối cao hoạt động của Nhà nước. Luận án này tập trung nghiên cứu Hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội trong bối cảnh đó. Do QH hoạt động không thường xuyên và đa số đại biểu hoạt động kiêm nhiệm, vai trò của các cơ quan thường trực của QH, đặc biệt là Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban, trở nên vô cùng quan trọng. Theo tài liệu nghiên cứu, QH Việt Nam đang trong quá trình kiện toàn tổ chức và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Sự ra đời của Ủy ban Tư phápỦy ban Tài chính - Ngân sách là minh chứng cho điều này.

1.1. Vị trí và vai trò của Hội đồng Dân tộc trong hệ thống Quốc hội

Trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc đóng vai trò then chốt trong việc bảo đảm quyền bình đẳng và sự phát triển của các dân tộc thiểu số. Nghiên cứu cho thấy, vị trí của Hội đồng Dân tộc không chỉ là một cơ quan tham mưu mà còn là một cầu nối quan trọng giữa Quốc hội và cộng đồng các dân tộc thiểu số trên cả nước.

1.2. Chức năng và nhiệm vụ chính của các Ủy ban của Quốc hội

Các Ủy ban của Quốc hội có chức năng tham gia vào quá trình lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Từng Ủy ban có những nhiệm vụ cụ thể, ví dụ như Ủy ban Pháp luật chịu trách nhiệm thẩm tra tính hợp hiến và hợp pháp của các văn bản quy phạm pháp luật.

II. Thách thức hoạt động Hội Đồng Dân Tộc và Ủy Ban 57 ký tự

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định. Một trong những thách thức lớn nhất là sự bất cập giữa khuôn khổ pháp lý và thực tiễn hoạt động. Nhiều vấn đề vướng mắc, hạn chế cả về khuôn khổ pháp lý cũng như từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan này đã bộc lộ, đòi hỏi phải được giải quyết một cách đồng bộ. Thêm vào đó, những đòi hỏi mới từ Hiến pháp năm 2013 cũng đặt ra yêu cầu cần có cách tiếp cận sâu sắc hơn trong hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban.

2.1. Bất cập pháp lý ảnh hưởng tới Hiệu quả hoạt động

Khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa thực sự đầy đủ và đồng bộ để điều chỉnh hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban. Nhiều quy định còn chung chung, thiếu cụ thể, gây khó khăn cho việc triển khai thực hiện. Việc này ảnh hưởng trực tiếp đến Hiệu quả hoạt động.

2.2. Thiếu nguồn lực tài chính cho Hội đồng Dân tộc và Quốc hội

Nguồn lực tài chính dành cho hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban chưa tương xứng với vai trò và trách nhiệm của các cơ quan này. Điều này hạn chế khả năng thực hiện các hoạt động nghiên cứu, khảo sát, và giám sát, ảnh hưởng đến chất lượng công việc.

2.3. Cơ chế phối hợp giữa Hội đồng Dân tộc và các Ủy Ban

Sự phối hợp giữa Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban trong Quốc hội còn nhiều hạn chế, chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp. Thông tin trao đổi chậm chạp, thủ tục rườm rà, gây mất thời gian và ảnh hưởng đến chất lượng công việc.

III. Phương pháp hoàn thiện hoạt động của Hội Đồng 52 ký tự

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội, cần có những giải pháp đồng bộ và toàn diện. Các giải pháp này phải dựa trên cơ sở lý luận vững chắc, đồng thời phải phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Quan điểm xuyên suốt là tăng cường vai trò và trách nhiệm của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban trong quá trình lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban. Điều này bao gồm việc xác lập và vận hành tổ chức Đảng ở cấp độ Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban.

3.1. Tăng cường Vai trò của UBTVQH trong điều phối Hội đồng Dân tộc

UBTVQH cần tăng cường vai trò trong việc chỉ đạo, điều hòa và phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban. Điều này giúp đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong hoạt động của Quốc hội.

3.2. Hoàn thiện Luật về hoạt động của Hội đồng và Quốc hội

Cần hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban, đảm bảo tính nhất quán, đầy đủ và cụ thể. Các quy định cần phải phù hợp với yêu cầu thực tế và đáp ứng được những đòi hỏi mới của tình hình.

IV. Ứng dụng nghiên cứu Hoạt động Hội Đồng Dân Tộc hiệu quả 58 ký tự

Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được ứng dụng vào thực tiễn hoạt động của Quốc hội. Các đề xuất và giải pháp trong luận án có thể được sử dụng để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban. Quan trọng hơn, những phát hiện này sẽ hỗ trợ việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Hội Đồng Dân Tộc và các ủy ban trong Quốc Hội.

4.1. Ứng dụng vào Quy trình Lập pháp tại Quốc hội

Các phát hiện của luận án giúp cải thiện quy trình lập pháp bằng cách cung cấp những phân tích sâu sắc về vai trò của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban trong việc thẩm định và đánh giá các dự luật. Nghiên cứu sẽ giúp đảm bảo tính hợp pháp và phù hợp của các luật được ban hành.

4.2. Nâng cao Chất lượng giám sát của Quốc hội thông qua HDDT

Luận án cung cấp những gợi ý để tăng cường hiệu quả giám sát của Quốc hội, thông qua đó sẽ cải thiện các cơ chế giám sát và đảm bảo các cơ quan nhà nước thực thi đúng pháp luật và chính sách. Từ đó, nâng cao năng lực của Hội đồng Dân tộc để kiểm soát việc thực thi pháp luật.

4.3. Cải tiến Phương pháp Thẩm tra và báo cáo

Nghiên cứu chỉ ra những điểm cần cải thiện trong phương pháp thẩm tra của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban, bao gồm cách thức thu thập và phân tích thông tin, cũng như việc trình bày báo cáo một cách rõ ràng và thuyết phục.

V. Kết luận Tương lai hoạt động Hội Đồng Dân Tộc 52 ký tự

Luận án đã trình bày một cách toàn diện về hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội. Qua đó, luận án không chỉ làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn mà còn đề xuất những giải pháp thiết thực để kiện toàn hoạt động của các cơ quan này. Hy vọng rằng, những đóng góp của luận án sẽ góp phần nâng cao vai trò và hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước. Quan trọng hơn, luận án là tiền đề để các nhà nghiên cứu tiếp tục xem xét vai trò của các cơ quan dân cử trong việc đại diện cho nguyện vọng của người dân.

5.1. Tóm tắt những đóng góp chính của luận án

Luận án đã làm rõ khái niệm, đặc điểm hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban; đánh giá thực trạng hoạt động và đề xuất giải pháp hoàn thiện. Nghiên cứu đã nhấn mạnh vai trò của tập thể và sự thường xuyên trong hoạt động.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo về Quốc hội Việt Nam

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc đánh giá tác động của các giải pháp được đề xuất trong luận án, cũng như tìm kiếm những phương pháp mới để nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội trong bối cảnh mới.

16/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Trong thời gian qua, cùng với chủ trƣơng lớn đƣợc nêu trong các văn kiện của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của QH, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH đã đƣợc các nhà khoa học, các vị ĐBQH, các chuyên gia quan tâm đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chủ đề Luận án theo các nhóm cơ bản sau đây: a) Luận án tiến sỹ Thứ nhất, Luận án tiến sỹ luật học: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”, (1995), NCS.

Luận án nghiên cứu về hoạt động lập pháp trong xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Hoạt động lập pháp đƣợc tác giả đề cập có phạm vi rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban mà còn đề cập đến cả hoạt động của các chủ thể khác có liên quan trong quy trình lập pháp. Tác giả có những kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp, trong đó có đề cập một số giải pháp đảm bảo về mặt pháp luật, về cơ sở khoa học và cán bộ, về tổ chức và lãnh đạo nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp nói chung. Thứ hai, Luận án tiến sỹ luật học: “C¬ së lý luËn cña viÖc ®æi míi c¬ cÊu tæ chøc vµ ph-¬ng thøc ho¹t ®éng cña Quèc héi ở ViÖt Nam hiÖn nay”, (2003), NCS Lª Thanh Vân [118].

Trong Luận án, tác giả trình bày cơ sở lý luận về đổi mới cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH ở Việt Nam hiện nay, trong đó có một số khía cạnh về tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban. Tuy nhiên, do định hƣớng nghiên cứu của tác giả là tiếp cận mang tính tổng thể, toàn diện về cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH nói chung, nên các nội dung về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban không phải là vấn đề trọng tâm. Theo đó, tác giả có nêu 02 nhóm kiến nghị liên quan: (i) về cơ cấu tổ chức, cần thành lập mới và tách một số Ủy ban theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên sâu, bảo đảm để các cơ quan 7 này thực hiện tốt việc tham mƣu, giúp QH thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; (ii) về phƣơng thức hoạt động, trong lĩnh vực lập pháp, cần sớm phân công hợp lý cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra; công tác thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban cần đƣợc tổ chức theo chiều sâu; trong lĩnh vực giám sát, cần sớm ban hành Luật giám sát của QH để quy định phạm vi, nội dung, phƣơng pháp tiến hành hoạt động giám sát, trong đó có phạm vi, nội dung, cơ chế giám sát. của HĐDT, các Ủy ban.

Thứ ba, Luận án tiến sỹ luật học: “Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay”, (2004), NCS Hoàng Văn Tú [88]. Trong Luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quy trình lập pháp, đánh giá, phân tích thực trạng quy trình lập pháp, kiến nghị các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy trình lập pháp; trong đó, tác giả có đề cập một số nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của HĐDT, các Ủy ban trong quy trình lập pháp - thể hiện chủ yếu qua vai trò của HĐDT, các Ủy ban trong một giai đoạn của quy trình lập pháp là giai đoạn thẩm tra dự kiến chƣơng trình xây dựng luật, pháp lệnh, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh. Trong giai đoạn từ năm 2004 đến nay, quy trình lập pháp có những thay đổi quan trọng, trong đó có việc ban hành và tổ chức thực thi Luật BHVBQPPL 2008, việc nghiên cứu vấn đề chất lƣợng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban nếu nhìn từ khía cạnh quy trình lập pháp cũng đứng trƣớc những yêu cầu, bối cảnh thực tế mới. Thứ tư, Luận án tiến sỹ luật học: “Quyền giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân”, (2004), NCS Phạm Văn Hùng [30].

Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền giám sát của QH đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, kiến nghị các giải pháp tập trung vào việc nâng cao hiệu quả giám sát của QH đối với hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Ở góc độ hoạt động của các Ủy ban, tác giả chủ yếu gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBPL trƣớc đây (hiện nay là nhiệm vụ, quyền hạn của UBTP) trong giám sát hoạt động của TAND và VKSND. Thứ năm, Luận án tiến sỹ luật học: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, (2007), NCS Trần Hồng Nguyên [56]. Tác giả đã đề cập đến một mức độ nhất định trong Luận án về chất lƣợng hoạt động thẩm tra, thực trạng chất lƣợng hoạt động thẩm tra và đƣa ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp của QH, trong đó có việc kiến nghị đổi mới hoạt động thẩm tra của HĐDT, các Uỷ ban.

Từ định hƣớng nghiên cứu của tác giả là về chất lƣợng hoạt động lập pháp của QH, vấn đề hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban chỉ đƣợc tiếp cận ở phạm vi nhất định; mặt khác, 8 sau thời điểm thực hiện công trình nghiên cứu (2007), hoạt động lập pháp của QH nói chung đã có những bƣớc đổi mới lớn theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, nhiều vấn đề liên quan đến khuôn khổ pháp lý và thực tiễn và qua đó là hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban hiện nay đã có những bƣớc thay đổi rất sâu sắc. Thứ sáu, Luận án tiến sỹ luật học: “Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của QH nước CHXHCN Việt Nam”, (2007), NCS Trƣơng Thị Hồng Hà [26]. Trong Luận án, tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH, đánh giá thực trạng vận hành của cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH và kiến nghị các phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH. Thứ bảy, Luận án tiến sỹ luật học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam”, (2009), NCS Trần Thị Tuyết Mai [46].

Một số nội dung về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban đã đƣợc tác giả đề cập trong Luận án, song tiếp cận ở khía cạnh nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của QH. Theo đó, một số nội dung về hoạt động của HĐDT trong lĩnh vực giám sát cũng đã đƣợc tác giả phân tích, song chủ yếu tiếp cận ở khía cạnh mang tính chất “trung gian” khi phân tích về hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH, tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH và phƣơng hƣớng, giải pháp. b) Đề tài nghiên cứu khoa học Thứ nhất, Đề tài cấp nhà nƣớc: “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta”, (2004), GS. Trần Ngọc Đƣờng làm Chủ nhiệm [19].

Trong công trình này, về phía QH, các tác giả tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH, của Chính phủ trong Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở nƣớc ta. Do đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài là rất rộng, hoạt động của HĐDT, các Ủy ban không phải là trọng tâm nghiên cứu, nên các nội dung về hoạt động của hệ thống Ủy ban đƣợc các tác giả đề cập ở một số nét rất khái quát và mang tính gợi mở lớn trên các khía cạnh về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, vị trí vai trò.của các cơ quan này trong tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của QH trong xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Thứ hai, Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội”, (2013), TS. Trần Thị Quốc 9 Khánh là Chủ nhiệm [34].

Đây là công trình nghiên cứu về HĐDT, các Ủy ban trên cả hai phƣơng diện là tổ chức và hoạt động. Theo đó, về lý luận, các tác giả đã tập trung vào một số vấn đề nhƣ khái niệm, vai trò, tính chất của các Ủy ban QH các nƣớc trên thế giới; tính chất-tổ chức, cơ cấu của Ủy ban; bộ máy giúp việc của QH các nƣớc; một số kinh nghiệm từ QH các nƣớc mà Việt Nam có thể tham khảo; tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH ở Việt Nam và bộ máy giúp việc của các cơ quan này. Về thực trạng tổ chức và hoạt động, công trình nghiên cứu đã khái quát quá trình phát triển và thực trạng tổ chức của HĐDT, các Ủy ban; thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; quá trình phát triển và thực trạng bộ máy giúp việc của các cơ quan này. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các yêu cầu, quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.

Thứ ba, Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội ở nước ta hiện nay”, (2014), do PGS.TS Đinh Xuân Thảo làm Chủ nhiệm [75]. Công trình này đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của việc quy định thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình của HĐDT, các Ủy ban; đánh giá, phân tích về hệ thống các quy định pháp luật về thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình tại Hội đồng, Ủy ban; thực tiễn thực hiện hoạt động yêu cầu báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của QH nƣớc ta trong những năm gần đây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ