Tổng quan luận án
Công trình khoa học "Hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật (mã số: 62 38 01 01), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đinh Xuân Thảo, bảo vệ năm 2016 tại Hà Nội.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Quốc hội Việt Nam giữ vị trí là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thực hiện ba chức năng: lập hiến - lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao. Xuất phát từ đặc thù hoạt động không thường xuyên (mỗi năm họp hai kỳ, thời lượng trung bình khoảng một tháng mỗi kỳ) và phần lớn đại biểu Quốc hội hoạt động kiêm nhiệm, việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội phụ thuộc trực tiếp vào năng lực tham mưu, thẩm tra, giám sát của các cơ quan thường trực, trọng tâm là Hội đồng Dân tộc (HĐDT) và các Ủy ban.
Mặc dù quy mô và số lượng Ủy ban đã được kiện toàn qua các nhiệm kỳ (Quốc hội khóa XI tách và thành lập mới Ủy ban Tư pháp, Ủy ban Tài chính - Ngân sách, chính thức vận hành từ khóa XII), thực tiễn hoạt động lập pháp và giám sát vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Các quy định của Hiến pháp năm 2013 và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) đặt ra đòi hỏi phải hoàn thiện khung pháp lý và phương thức vận hành của các cơ quan này. Về mặt lý luận, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận HĐDT và các Ủy ban dưới góc độ tổ chức bộ máy tổng thể hoặc một khía cạnh lập pháp/giám sát riêng lẻ, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về bản chất hoạt động, phương thức hoạt động, nguyên tắc tổ chức và điều kiện bảo đảm của HĐDT và các Ủy ban theo chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam, từ đó đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện, kiện toàn hoạt động của các cơ quan này.
Luận án xác định 03 nhóm nhiệm vụ cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về hoạt động, phương thức hoạt động và các yêu cầu đặt ra đối với HĐDT, các Ủy ban trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ở Việt Nam.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trên cả hai bình diện: khung khổ chính sách, pháp luật hiện hành và kết quả thực hiện trong thực tiễn (trong lập pháp, giám sát, kiến nghị và các điều kiện bảo đảm).
- Đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp đồng bộ nhằm đổi mới, hoàn thiện phương thức hoạt động, thẩm quyền và bảo đảm nguồn lực cho HĐDT, các Ủy ban trong giai đoạn tiếp theo.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động của HĐDT và các Ủy ban với tư cách là các cơ quan thường trực của Quốc hội (không bao gồm các Ủy ban lâm thời).
- Phạm vi không gian và thời gian: Khảo sát khái quát tiến trình phát triển của HĐDT, các Ủy ban từ Quốc hội khóa I, tập trung nghiên cứu chuyên sâu thực tiễn hoạt động từ khi ban hành Hiến pháp năm 1992 (từ nhiệm kỳ Quốc hội khóa X) đến nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII (giai đoạn thực thi Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa và phân loại các công trình nghiên cứu liên quan theo các nhóm:
| Nhóm tài liệu |
Tác giả, công trình và năm công bố |
Nội dung chính và giới hạn tiếp cận |
| Luận án tiến sĩ trong nước |
Lê Văn Hòe (1995), Lê Thanh Vân (2003), Hoàng Văn Tú (2004), Phạm Văn Hùng (2004), Trần Hồng Nguyên (2007), Trương Thị Hồng Hà (2007), Trần Thị Tuyết Mai (2009) |
Nghiên cứu về quy trình lập pháp, chức năng giám sát của Quốc hội, giám sát đối với TAND và VKSND; chỉ đề cập đến HĐDT và các Ủy ban như một khâu trung gian, chưa nghiên cứu toàn diện phương thức hoạt động nội tại. |
| Đề tài khoa học các cấp |
GS. Trần Ngọc Đường (Chủ nhiệm, Đề tài cấp Nhà nước, 2004); TS. Trần Thị Quốc Khánh (Chủ nhiệm, Đề tài cấp Bộ, 2013); PGS.TS. Đinh Xuân Thảo (Chủ nhiệm, Đề tài cấp Bộ, 2014) |
Đề cập mô hình Quốc hội và Chính phủ, tổ chức và bộ máy giúp việc của HĐDT, các Ủy ban hoặc chuyên sâu vào hoạt động giải trình; chủ yếu khảo sát nhiệm kỳ khóa XII trở về trước và tiếp cận theo phương pháp liệt kê hoạt động. |
| Sách chuyên khảo |
GS. Đào Trí Úc - PGS. Võ Khánh Vinh (Đồng chủ biên, 2003); PGS. Nguyễn Đăng Dung (Chủ biên, 2007); PGS.TS. Phan Trung Lý (2010); TS. Đinh Xuân Thảo - Lê Như Tiến (Đồng chủ biên, 2010); PGS. Lê Minh Thông (2011) |
Tập trung vào cơ chế giám sát quyền lực nhà nước, thiết chế Quốc hội trong Nhà nước pháp quyền, tăng cường đại biểu chuyên trách; đưa ra các gợi mở về vị trí "công xưởng", "trụ cột" nhưng chưa xây dựng thành hệ thống lý luận hoàn chỉnh về hoạt động của các Ủy ban. |
| Bài báo khoa học & Kỷ yếu |
GS.TS. Trần Ngọc Đường (2005, 2009); PGS.TS. Phan Trung Lý & PGS. Hà Thị Mai Hiên (2004); PGS.TS. Phan Trung Lý (2009); Kỷ yếu Văn phòng Quốc hội (2006) |
Đánh giá lịch sử lập hiến, kiến nghị đổi mới công tác thẩm tra, cơ chế phản biện chính sách và giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát. |
| Tài liệu nước ngoài và so sánh quốc tế |
John Patterson, Kit Dawnay, Nguyễn Đức Lam, Hoàng Minh Hiếu (2012); Văn phòng Quốc hội biên dịch (2006 - Scott W. Olson, Riccardo Pelizzo...); Mark J. Oleszek & Walter J. Oleszek (2014); David C. King; I.C. Harris (2005); Hironori Yamamoto (IPU, 2007); William McKay & Charles W. Johnson (2012); UNDP (2012); World Bank (2006) |
Khảo cứu về kinh nghiệm điều trần, hệ thống Ủy ban thường trực tại Nghị viện Anh, Quốc hội Hoa Kỳ, Australia, CHLB Đức, Nhật Bản; hoạt động giám sát ngân sách và thủ tục thẩm tra tại 83 - 88 nghị viện trên thế giới. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
- Xây dựng khái niệm, làm rõ đặc điểm và phương thức hoạt động mang tính đặc thù của HĐDT, các Ủy ban dưới góc độ lý luận Nhà nước và Pháp luật.
- Luận chứng hệ thống các yêu cầu khách quan đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN tại Việt Nam.
- Đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành từ khóa X đến khóa XIII, chỉ rõ sự thiếu đồng bộ trong việc thể chế hóa nguyên tắc làm việc tập thể, quyết định theo đa số và nguyên tắc tập trung dân chủ.
- Đề xuất hệ thống giải pháp cụ thể: xác lập tổ chức Đảng cấp Ủy ban, quy trình thẩm tra chi tiết kèm bảng điều khoản, cơ chế giám sát văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) và thẩm quyền thẩm tra của Ủy ban Quốc phòng và An ninh (UBQP-AN).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ tư tưởng nền tảng: Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức quyền lực nhà nước; đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Khung phân tích thiết chế Ủy ban nghị viện: Tiếp cận hệ thống Ủy ban thường trực như những cơ cấu bên trong, là "cơ quan chuyên môn", "chỗ dựa", "trụ cột" và "công xưởng" chuẩn bị về mặt kỹ thuật, lập pháp và giám sát chuyên sâu cho Quốc hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp và hệ thống: Được áp dụng xuyên suốt để liên kết các quy định pháp luật, thực tiễn tổ chức và phương thức vận hành của HĐDT, 9 Ủy ban trong chỉnh thể thống nhất của bộ máy Quốc hội.
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Khảo cứu sự hình thành, phát triển của các Ủy ban qua các bản Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980, 1992 (sửa đổi 2001) và 2013 gắn với từng giai đoạn phát triển chính trị - pháp lý của đất nước.
- Phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn: Đối chiếu các quy định của Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Ban hành VBQPPL, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội với số liệu, báo cáo hoạt động thực tế nhiệm kỳ khóa XII, XIII.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Phân tích, đối chiếu mô hình tổ chức, quy trình làm việc, thẩm quyền của hệ thống Ủy ban thường trực tại Quốc hội Việt Nam với cơ quan lập pháp một số quốc gia (Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Australia, CHLB Đức, Nhật Bản...).
Nguồn dữ liệu và tư liệu
- Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, đổi mới Quốc hội.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Các bản Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội (1960, 1981, 1992, 2001, 2014), Luật Ban hành VBQPPL (1996, 2002, 2008, 2015), Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội (2003, 2015), Nội quy kỳ họp Quốc hội.
- Báo cáo thẩm tra, văn bản báo cáo công tác nhiệm kỳ của HĐDT và các Ủy ban (Pháp luật; Tư pháp; Kinh tế; Tài chính - Ngân sách; Quốc phòng và An ninh; Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng; Về các vấn đề xã hội; Khoa học, Công nghệ và Môi trường; Đối ngoại).
- Báo cáo thống kê, tài liệu hội thảo khoa học của Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp, tài liệu của IPU, UNDP và Ngân hàng Thế giới.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Chương này tập trung tổng lược các nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến thiết chế Ủy ban của cơ quan lập pháp. Tác giả phân tích các khuynh hướng tiếp cận: khuynh hướng coi Ủy ban là "công xưởng" (nhấn mạnh phương thức xử lý kỹ thuật lập pháp), khuynh hướng coi Ủy ban là "trụ cột" (nhấn mạnh vị trí chỗ dựa chuyên môn cho đại biểu Quốc hội), và quan điểm phân chia lợi ích chính trị trong nghị viện phương Tây. Chương 1 xác định rõ các câu hỏi nghiên cứu, luận giải khoảng trống khoa học về lý luận hoạt động của HĐDT, các Ủy ban tại Việt Nam và xác lập khung giả thuyết nghiên cứu của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý luận về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội
Chương 2 luận giải các vấn đề bản chất lý luận:
- Vị trí, vai trò: HĐDT, các Ủy ban là cơ cấu bên trong của Quốc hội, cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập nhằm thực hiện sự phân công lao động nội bộ. HĐDT và các Ủy ban không phải là "Quốc hội thu nhỏ", không thay thế quyền quyết định của Quốc hội hay đại biểu Quốc hội, mà đóng vai trò tham mưu, tư vấn, bảo đảm chỗ dựa kỹ thuật cho hoạt động lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề hệ trọng. Điểm đặc thù của HĐDT được quy định tại Điều 75 Hiến pháp năm 2013: Chủ tịch HĐDT được mời dự các phiên họp Chính phủ bàn về chính sách dân tộc; Chính phủ phải lấy ý kiến HĐDT khi ban hành quy định về lĩnh vực này.
- Khái niệm và đặc điểm hoạt động: Hoạt động của HĐDT, các Ủy ban là tổng thể các hành vi pháp lý, quy trình chuyên môn do tập thể và thành viên cơ quan này thực hiện theo thẩm quyền luật định, mang tính chuyên sâu, tính chuẩn bị, tính thường xuyên tương đối và phụ thuộc vào chương trình hoạt động của Quốc hội.
- Phương thức hoạt động: Bao gồm phiên họp toàn thể; hoạt động của Thường trực Hội đồng, Thường trực Ủy ban, các tiểu ban; hoạt động phối hợp với các cơ quan hữu quan (Ủy ban Thường vụ Quốc hội - UBTVQH, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC).
- Hệ thống 06 yêu cầu cơ bản trong Nhà nước pháp quyền XHCN:
- Bảo đảm hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp.
- Bảo đảm tính khách quan trong đánh giá, thẩm tra.
- Góp phần phản ánh trung thực ý chí, nguyện vọng của nhân dân.
- Minh định rõ và thực hiện nhất quán các nguyên tắc hoạt động (nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số và nguyên tắc tập trung dân chủ).
- Gia tăng giá trị hoạt động thông qua huy động trí tuệ chuyên gia, nhà khoa học và nhân dân.
- Bảo đảm đầy đủ hơn tính thường xuyên trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.
Chương 3: Thực trạng hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
Tác giả phân tích dữ liệu thực tiễn hoạt động của HĐDT và 9 Ủy ban từ khóa X đến khóa XIII:
- Trong lĩnh vực lập pháp (thẩm tra và chỉnh lý): Hoạt động thẩm tra đã có nhiều đổi mới, song chất lượng còn chưa đồng đều. Tình trạng cơ quan soạn thảo gửi hồ sơ dự án chậm so với quy định vẫn diễn ra phổ biến, ảnh hưởng nghiêm trọng đến thời gian nghiên cứu của thành viên Ủy ban. Báo cáo thẩm tra đôi khi còn dàn trải, chưa thể hiện rõ chính kiến đối với từng điều khoản cụ thể.
- Trong lĩnh vực giám sát: Hình thức giám sát văn bản quy phạm pháp luật còn bị động; Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội chưa đủ nguồn lực rà soát toàn diện tính hợp hiến, hợp pháp của tất cả các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền ban hành. Hoạt động yêu cầu giải trình tại phiên họp Ủy ban mới bước đầu được thể chế hóa (Điều 82 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014) và chưa triển khai đồng đều.
- Phương thức hoạt động và bảo đảm nguyên tắc: Tỷ lệ thành viên kiêm nhiệm tham gia các phiên họp toàn thể thẩm tra còn hạn chế; việc thảo luận, biểu quyết theo đa số tại một số phiên họp chưa thực chất, chủ yếu dựa vào bộ phận thường trực chuyên trách.
- Điều kiện bảo đảm: Bộ máy giúp việc (các Vụ chuyên môn thuộc Văn phòng Quốc hội) còn mỏng, kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ hành chính; nguồn kinh phí và phương tiện kỹ thuật phục vụ khảo sát thực tế, thuê chuyên gia phản biện độc lập chưa tương xứng với khối lượng nhiệm vụ được giao.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội
Chương 4 đề xuất các giải pháp dựa trên 04 quan điểm chỉ đạo: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; bảo đảm vị trí "trụ cột" của Ủy ban trong Quốc hội; quy định thẩm quyền nhất quán bằng luật; kế thừa kinh nghiệm lịch sử kết hợp tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.
Hệ thống giải pháp cụ thể gồm 05 nhóm:
- Về tổ chức bộ máy và sự lãnh đạo của Đảng: Xác lập và vận hành mô hình tổ chức Đảng cấp HĐDT, các Ủy ban tương ứng với tính chất chuyên môn để bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện.
- Tăng cường vai trò điều hòa của UBTVQH: Phân định rõ thẩm quyền, tránh chồng chéo giữa UBTVQH và HĐDT, các Ủy ban; nâng cao trách nhiệm điều hòa, phối hợp giữa các cơ quan thẩm tra chủ trì và phối hợp.
- Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật về thẩm quyền:
- Bổ sung nguyên tắc tập trung dân chủ vào văn bản luật điều chỉnh hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.
- Hoàn thiện quy trình thẩm tra chi tiết: ban hành mẫu Báo cáo thẩm tra có phụ lục tổng hợp ý kiến thành viên đối với từng điều, khoản cụ thể (theo mô hình Bảng 4 của luận án).
- Quy định trách nhiệm bắt buộc của Ủy ban Quốc phòng và An ninh trong việc tham gia thẩm tra mọi dự án luật, pháp lệnh nhằm bảo đảm yêu cầu bảo vệ Tổ quốc và lợi ích quốc gia.
- Hoàn thiện cơ chế giám sát văn bản quy phạm pháp luật và quy trình chất vấn/giải trình tại Ủy ban.
- Đổi mới phương thức hoạt động: Quy định chặt chẽ chế độ tham gia phiên họp toàn thể của thành viên kiêm nhiệm; áp dụng quy trình thảo luận, biểu quyết thực chất; mở rộng hình thức điều trần công khai.
- Bảo đảm các điều kiện thực hiện: Tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách tại các Ủy ban; nâng cao tính chuyên nghiệp của bộ máy giúp việc; bố trí nguồn kinh phí độc lập phục vụ thuê khoán chuyên gia phản biện xã hội và khảo sát thực tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Xây dựng và luận giải khái niệm, chỉ rõ các đặc điểm cơ bản và phân định rõ 03 phương thức hoạt động chủ yếu của HĐDT, các Ủy ban (phiên họp toàn thể; hoạt động của cơ cấu bên trong; hoạt động phối hợp liên cơ quan).
- Khẳng định tính tất yếu của việc bổ sung nguyên tắc tập trung dân chủ bên cạnh nguyên tắc làm việc tập thể và quyết định theo đa số trong tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.
- Xác lập hệ thống 06 yêu cầu mang tính tiêu chí nhằm định hướng đổi mới hoạt động của các cơ quan chuyên môn của Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và giải pháp đề xuất
- Đánh giá có hệ thống thực trạng hoạt động của HĐDT và 9 Ủy ban từ khóa X đến khóa XIII, chỉ rõ khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tế thi hành, đặc biệt là sự hạn chế về nguồn lực trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm tính hợp hiến của hệ thống pháp luật.
- Đề xuất giải pháp xác lập tổ chức Đảng ở cấp độ HĐDT, các Ủy ban nhằm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan chuyên môn của Quốc hội.
- Kiến nghị quy trình kỹ thuật lập pháp mới: chuẩn hóa việc lập phụ lục phản ánh chi tiết ý kiến thành viên Ủy ban đối với từng điều khoản dự thảo; xác lập trách nhiệm tham gia thẩm tra về mặt quốc phòng - an ninh của UBQP-AN đối với các dự án luật.
- Đề xuất cơ chế tăng cường tính thường xuyên, nâng cao chất lượng phiên họp toàn thể và chuyên nghiệp hóa bộ máy tham mưu giúp việc.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Luận án chỉ giới hạn nghiên cứu đối với HĐDT và các Ủy ban thường trực, không đi sâu phân tích mô hình các Ủy ban lâm thời của Quốc hội.
- Do nguồn tài liệu lưu trữ nội bộ có giới hạn, việc đánh giá thực trạng hoạt động của từng tiểu ban thuộc các Ủy ban chưa được tách bạch thành các chỉ số định lượng chi tiết cho toàn bộ 9 Ủy ban.
- Các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014 ở thời điểm nghiên cứu (2016) mới bắt đầu được triển khai trên thực tế, cần thêm thời gian kiểm chứng qua nhiều nhiệm kỳ tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Nghiên cứu cơ chế vận hành chi tiết của hoạt động giải trình (điều trần) tại phiên họp HĐDT, các Ủy ban theo quy định của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015.
- Nghiên cứu mô hình tổ chức và cơ chế phối hợp giữa Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp với các Vụ chuyên môn giúp việc cho từng Ủy ban theo hướng chuyên nghiệp hóa.
- Khảo sát sâu cơ chế giám sát văn bản quy phạm pháp luật dưới luật của HĐDT, các Ủy ban trong bối cảnh đẩy mạnh kiểm soát quyền lực nhà nước.
Giá trị tham khảo
- Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, Luật Hiến pháp và Luật Hành chính; cung cấp khung lý thuyết về thiết chế Ủy ban nghị viện và tiến trình lập hiến Việt Nam.
- Đối với hoạt động lập pháp và quyết sách: Các phân tích thực trạng và kiến nghị về quy trình thẩm tra, mẫu phụ lục điều khoản (Bảng 4), cơ chế phối hợp thẩm tra an ninh - quốc phòng có giá trị ứng dụng trực tiếp cho đại biểu Quốc hội, Thường trực HĐDT, Thường trực các Ủy ban và cơ quan soạn thảo luật.
- Đối với cơ quan tham mưu, giúp việc: Cung cấp luận cứ thực tiễn cho Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu lập pháp trong việc cải tiến quy trình phục vụ phiên họp Ủy ban, tổ chức hoạt động khảo sát thực tế và huy động mạng lưới chuyên gia tư vấn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định vị trí, bản chất pháp lý của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội là gì?
HĐDT và các Ủy ban là các cơ cấu bên trong, là cơ quan chuyên môn do Quốc hội thành lập để thực hiện sự phân công lao động nội bộ. Các cơ quan này giữ vai trò là "chỗ dựa", "trụ cột" và cơ quan tham mưu, tư vấn chuyên môn cho Quốc hội; không phải là "Quốc hội thu nhỏ" và không quyết định thay cho Quốc hội hay thay cho đại biểu Quốc hội.
2. Điểm đặc thù về vị trí pháp lý của Hội đồng Dân tộc so với các Ủy ban khác được thể hiện như thế nào?
Theo Hiến pháp năm 2013 (Điều 75), trong khi các Ủy ban phụ trách theo từng nhóm ngành/lĩnh vực, HĐDT xử lý vấn đề chính sách dân tộc mang tính bao trùm. Chủ tịch HĐDT có quyền tham dự các phiên họp Chính phủ bàn về việc thực hiện chính sách dân tộc và Chính phủ bắt buộc phải lấy ý kiến của HĐDT khi ban hành quy định thực hiện chính sách này.
3. Nguyên tắc hoạt động nào được luận án đề xuất bổ sung vào khung pháp lý của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban?
Bên cạnh nguyên tắc làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số, luận án luận chứng và khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ cần được bổ sung, ghi nhận rõ ràng trong pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.
4. Luận án đề xuất giải pháp kỹ thuật cụ thể nào để nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra dự án luật?
Luận án đề xuất quy trình thẩm tra chi tiết bắt buộc phải xây dựng Báo cáo thẩm tra kèm theo phụ lục phản ánh cụ thể ý kiến của từng thành viên HĐDT, Ủy ban đối với từng điều, khoản của dự thảo văn bản (thay vì chỉ nêu ý kiến chung chung), giúp đại biểu Quốc hội có đầy đủ căn cứ tranh luận tại kỳ họp.
Kết luận
Luận án "Hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" là công trình khoa học chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật nghiên cứu toàn diện về thiết chế cơ quan chuyên môn của Quốc hội. Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận, xác định rõ bản chất, đặc điểm, phương thức và 06 yêu cầu đối với hoạt động của HĐDT và các Ủy ban trong Nhà nước pháp quyền XHCN. Dựa trên việc phân tích thực trạng lập pháp, giám sát và các điều kiện bảo đảm từ khóa X đến khóa XIII, luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm kiện toàn tổ chức Đảng, chuẩn hóa quy trình thẩm tra, phân định thẩm quyền và nâng cao tính chuyên nghiệp, thường xuyên trong hoạt động của các cơ quan này.