Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Trong thời gian qua, cùng với chủ trƣơng lớn đƣợc nêu trong các văn kiện của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của QH, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH đã đƣợc các nhà khoa học, các vị ĐBQH, các chuyên gia quan tâm đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chủ đề Luận án theo các nhóm cơ bản sau đây: a) Luận án tiến sỹ Thứ nhất, Luận án tiến sỹ luật học: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”, (1995), NCS.
Luận án nghiên cứu về hoạt động lập pháp trong xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Hoạt động lập pháp đƣợc tác giả đề cập có phạm vi rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban mà còn đề cập đến cả hoạt động của các chủ thể khác có liên quan trong quy trình lập pháp. Tác giả có những kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp, trong đó có đề cập một số giải pháp đảm bảo về mặt pháp luật, về cơ sở khoa học và cán bộ, về tổ chức và lãnh đạo nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp nói chung. Thứ hai, Luận án tiến sỹ luật học: “C¬ së lý luËn cña viÖc ®æi míi c¬ cÊu tæ chøc vµ ph-¬ng thøc ho¹t ®éng cña Quèc héi ở ViÖt Nam hiÖn nay”, (2003), NCS Lª Thanh Vân [118].
Trong Luận án, tác giả trình bày cơ sở lý luận về đổi mới cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH ở Việt Nam hiện nay, trong đó có một số khía cạnh về tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban. Tuy nhiên, do định hƣớng nghiên cứu của tác giả là tiếp cận mang tính tổng thể, toàn diện về cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH nói chung, nên các nội dung về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban không phải là vấn đề trọng tâm. Theo đó, tác giả có nêu 02 nhóm kiến nghị liên quan: (i) về cơ cấu tổ chức, cần thành lập mới và tách một số Ủy ban theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên sâu, bảo đảm để các cơ quan 7 này thực hiện tốt việc tham mƣu, giúp QH thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; (ii) về phƣơng thức hoạt động, trong lĩnh vực lập pháp, cần sớm phân công hợp lý cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra; công tác thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban cần đƣợc tổ chức theo chiều sâu; trong lĩnh vực giám sát, cần sớm ban hành Luật giám sát của QH để quy định phạm vi, nội dung, phƣơng pháp tiến hành hoạt động giám sát, trong đó có phạm vi, nội dung, cơ chế giám sát. của HĐDT, các Ủy ban.
Thứ ba, Luận án tiến sỹ luật học: “Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay”, (2004), NCS Hoàng Văn Tú [88]. Trong Luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quy trình lập pháp, đánh giá, phân tích thực trạng quy trình lập pháp, kiến nghị các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy trình lập pháp; trong đó, tác giả có đề cập một số nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của HĐDT, các Ủy ban trong quy trình lập pháp - thể hiện chủ yếu qua vai trò của HĐDT, các Ủy ban trong một giai đoạn của quy trình lập pháp là giai đoạn thẩm tra dự kiến chƣơng trình xây dựng luật, pháp lệnh, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh. Trong giai đoạn từ năm 2004 đến nay, quy trình lập pháp có những thay đổi quan trọng, trong đó có việc ban hành và tổ chức thực thi Luật BHVBQPPL 2008, việc nghiên cứu vấn đề chất lƣợng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban nếu nhìn từ khía cạnh quy trình lập pháp cũng đứng trƣớc những yêu cầu, bối cảnh thực tế mới. Thứ tư, Luận án tiến sỹ luật học: “Quyền giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân”, (2004), NCS Phạm Văn Hùng [30].
Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền giám sát của QH đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, kiến nghị các giải pháp tập trung vào việc nâng cao hiệu quả giám sát của QH đối với hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Ở góc độ hoạt động của các Ủy ban, tác giả chủ yếu gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBPL trƣớc đây (hiện nay là nhiệm vụ, quyền hạn của UBTP) trong giám sát hoạt động của TAND và VKSND. Thứ năm, Luận án tiến sỹ luật học: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, (2007), NCS Trần Hồng Nguyên [56]. Tác giả đã đề cập đến một mức độ nhất định trong Luận án về chất lƣợng hoạt động thẩm tra, thực trạng chất lƣợng hoạt động thẩm tra và đƣa ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp của QH, trong đó có việc kiến nghị đổi mới hoạt động thẩm tra của HĐDT, các Uỷ ban.
Từ định hƣớng nghiên cứu của tác giả là về chất lƣợng hoạt động lập pháp của QH, vấn đề hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban chỉ đƣợc tiếp cận ở phạm vi nhất định; mặt khác, 8 sau thời điểm thực hiện công trình nghiên cứu (2007), hoạt động lập pháp của QH nói chung đã có những bƣớc đổi mới lớn theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, nhiều vấn đề liên quan đến khuôn khổ pháp lý và thực tiễn và qua đó là hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban hiện nay đã có những bƣớc thay đổi rất sâu sắc. Thứ sáu, Luận án tiến sỹ luật học: “Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của QH nước CHXHCN Việt Nam”, (2007), NCS Trƣơng Thị Hồng Hà [26]. Trong Luận án, tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH, đánh giá thực trạng vận hành của cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH và kiến nghị các phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH. Thứ bảy, Luận án tiến sỹ luật học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam”, (2009), NCS Trần Thị Tuyết Mai [46].
Một số nội dung về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban đã đƣợc tác giả đề cập trong Luận án, song tiếp cận ở khía cạnh nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của QH. Theo đó, một số nội dung về hoạt động của HĐDT trong lĩnh vực giám sát cũng đã đƣợc tác giả phân tích, song chủ yếu tiếp cận ở khía cạnh mang tính chất “trung gian” khi phân tích về hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH, tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH và phƣơng hƣớng, giải pháp. b) Đề tài nghiên cứu khoa học Thứ nhất, Đề tài cấp nhà nƣớc: “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta”, (2004), GS. Trần Ngọc Đƣờng làm Chủ nhiệm [19].
Trong công trình này, về phía QH, các tác giả tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH, của Chính phủ trong Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở nƣớc ta. Do đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài là rất rộng, hoạt động của HĐDT, các Ủy ban không phải là trọng tâm nghiên cứu, nên các nội dung về hoạt động của hệ thống Ủy ban đƣợc các tác giả đề cập ở một số nét rất khái quát và mang tính gợi mở lớn trên các khía cạnh về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, vị trí vai trò.của các cơ quan này trong tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của QH trong xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Thứ hai, Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội”, (2013), TS. Trần Thị Quốc 9 Khánh là Chủ nhiệm [34].
Đây là công trình nghiên cứu về HĐDT, các Ủy ban trên cả hai phƣơng diện là tổ chức và hoạt động. Theo đó, về lý luận, các tác giả đã tập trung vào một số vấn đề nhƣ khái niệm, vai trò, tính chất của các Ủy ban QH các nƣớc trên thế giới; tính chất-tổ chức, cơ cấu của Ủy ban; bộ máy giúp việc của QH các nƣớc; một số kinh nghiệm từ QH các nƣớc mà Việt Nam có thể tham khảo; tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH ở Việt Nam và bộ máy giúp việc của các cơ quan này. Về thực trạng tổ chức và hoạt động, công trình nghiên cứu đã khái quát quá trình phát triển và thực trạng tổ chức của HĐDT, các Ủy ban; thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; quá trình phát triển và thực trạng bộ máy giúp việc của các cơ quan này. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các yêu cầu, quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.
Thứ ba, Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội ở nước ta hiện nay”, (2014), do PGS.TS Đinh Xuân Thảo làm Chủ nhiệm [75]. Công trình này đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của việc quy định thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình của HĐDT, các Ủy ban; đánh giá, phân tích về hệ thống các quy định pháp luật về thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình tại Hội đồng, Ủy ban; thực tiễn thực hiện hoạt động yêu cầu báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của QH nƣớc ta trong những năm gần đây.