CHƯƠNG 1: MỞ DAU 1.1 Tính cắp thiết của dé tài luận ám Sau 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 nén kinh tế Việt Nam đã thực sự thay đổi về chất, đồi sống nhân dân được cải thiện rõ rộ, tăng trường rất mạnh trong hầu hết các ngành, đặc biệt trong ngành sin xuất nông nghiệp. Nước ta từ một nền kin tế rit lạc hậu, khủng hoáng triển miễn và thiểu lương thực trim trọng trở thin một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thể gi với mức xuất khẩu ổn định trên 4 triệu tắnnăm, chỉ sau Thai Lan, đảm bảo an nĩnh lương thực. Sản xuất nông nghiệp đã thực sự là chỗ da vững chắc để chúng ta iễn hành Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước trong những năm tiếp theo “Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đỏ ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiễu yêu kém, bit cập. Trong khi giá trị sản phẩm nông nghiệp thắp nhưng, một trong những vật tư nông nghiệp quan trọng là phân bón uré - sản phẩm của ngành công nghiệp - có giá t cao.
Cho tới năm 2003, ngành sản xuất uré rong nước mới chỉ đấp ứng được khoảng 7,1% nhủ cầu của sản xuất nông nghiệp, còn li ching a phải nhập khẩu và phụ thuộc vào giá cả và cung cầu uré của th giới ring năm 2003 cả nước phải nhập khẩu hơn 1,9 triệu tấn uré. Hệ thống phân phối uré còn thiểu đồng bộ, thị trường uré nhiều khi rô loạn. Từ năm 2003, giá uré thể giới tổng mạnh và đứng ở mức cao do giá dầu lửa và khí ga tăng. Từ thắng 9/2004, Nhà may phân đạm Phú Mỹ đi vào sin xuất với sản lượng 720.000 tin uréinim, Sản lượng tr của Phú Mỹ cũng chỉ đáp ứng 30-35% nhu cầu thị trường trong nước.
Việc Nhà nước giao cho Nhà máy Phú Mỹ điều tt én định giá thị trường uré với mức giá thấp hơn giá nhập Khẩu 155% tổ ra không hiệu quả. Năm 2005, gi cả uré không kiếm soit nỗi gây tác động xắu đến tâm lý và boại động nhập khẩu trể của ác nhà nhập khẩu, Các nhà nhập khẩu ure không dám nhập vì sợ thua lỗ, thiểu cung ure trim trọng xảy ra tình trạng đu cơ phần bón xuất hiện, phân bón gi và chất lượng kém tràn lan, th rường uré trong nước bắt ổn trong thời gian dải. Căng thẳng về 2 nguồn cùng uré làm cho người nông dân đứng trước nhiều khó khăn, i dùng rể giảm sút. mạnh, năng suất cây trồng và sản lượng cây trồng do đó bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Bên cạnh đoạt động dự báo vé iêu ding uré cũ ede cơ quan quần lý Nhà nước là it khác nhau và si lệch rất nhiễu so với thực Lẻ, Việc xác định hàm sầu nhập khâu trẻ và xây dmg một môdul dự báo có tinh khoa học, khách quan về lượng cầu nhập khẩu uré cho các năm tối là hỗt sức cần thiế. Đằng thời cần cổ những giải pháp nào để có thé ổn định & phát trié thị trường uré ở VN, Vì những lý do tên tôi đã chọn dễ tải luận án: “Nae định hàm cầu nhập khâu vật tư nông nghiệp của Việt Nam. trong thời kỳ đỗi mới (ấy ví dụ phân bón URE)” 1.2, Một số vin đề liên quan đến dé tài luận ám 1.241 Tông quan về cầu NK một số vật tự NN nhập khẩu chính của VN Vật tư nông nghiệp theo nghĩa ting quit là tất cả các loi nguyên, nhiền, vật liệu, trang thiết bj được sử dung cho sản xuất nông nghiệp, Do dé vật tư nông nghiệp bao gim rất nhiều ching loại, uy nhiên tuỳ theo lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (rồng tot, chăn nuôi.) mà vật tư nông nghiệp cũng được hiểu theo nghĩa hẹp cụ thé hon, Trong nén nông nghiệp sản xuất lúa nước của VN, ông cha ta đã đúc kết lại vai trở của vật tư nông nghiệp quan trọng trong câu "Nhất nước, nhỉ phân, tam cần, tứ giống”, “Các loại vật tư nông nghiệp được nhập khẩu chính vào nước ta hiện nay là phân bin võ cơ hóa chất ảo vệ thực vật, giống la a È nhập khẩu phan v6 cơ. Trước năm 1990, sản xuất nông nghiệp nước ta chủ yếu mang tính tự cắp tự tie, lượng phân bn vô cơ nhập khẩu không đáng kể “chủ yếu là phân đạm từ.
Liên Xô (cũ), Sau khi nén kinh tế chuyển đổi vận hành theo cơ ch thị trường, ủng với sự gia tăng của sản lượng lương thực và năng suất cây trồng, lượng phân bon nhập khẩu cũng không ngừng tăng lên; nếu như năm 1990 lượng nhập khẩu là 2,085 trigu tin phần bón các loại, trong đó uré là 786.000 tấn, thì năm 2003 có lượng nhập khẩu phân bón cao nhất là 4,135 triệu tấn, trong đồ rể 18 1926 triệu tấn. Hiện nay, trong tổng số nhu edu phản bón võ cơ cần cho sản xuất 3 nông nghiệp khoảng 7.7 triệu tin, thi lượng nhập khẩu phân bón khoảng 32-33 triệu tn rong đồ phân đạm ur 1 triệu tn, amôn sunphát (SA) khoảng 700.000 tn, phan lân phức hợp DAP khoảng 750.000 tin, phân kali 750.000 tin, và một số loi phân hỗn hợp NPK. Từ 1/4/2000, tuy Chỉnh phủ đã bai bỏ một phần rio cản thương, mại đối với phân bón nhập khẩu nhưng vẫn áp thuế NK đối với lần, đối với NPK và phụ thu chênh lệch giá đối với NPK là 4 Không áp thuế nhập khẩu và bo phụ thu chênh lệch giá đối với các loại phân nhập khẩu chủ yếu như ur, SA, DAP và kali: áp thuế VAT 5% đối với tt cả các loại phân bốn nhập khẩu. Chính sách nới lỏng hạn chế thương mại này góp phin đáng kẻ giảm bớt căng thẳng nguồn cung phân bón vô cơ cho thị trường trong nước.
Uré là loại loại phân vô co nhập, khẩu chủ yếu của VN thời gian qua, Hàng năm chúng ta phải dành tới khoảng 30 triệu USD để nhập khẩu uré. Thị trường uré quốc tế những năm gin đây có nhiều động giá rể tăng mạnh làm cho thi rường uré trong nước luôn mắt ổn định âm ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông ngt p trong nước và gây th hại cho người sản xuất nông nghiệp. New liệu về lượng nhập kh sin lượng trong nước và gid cả uré được cập nhật trong nhiều năm. Vé nhập khẩu hóa chất bản vệ thực vật.
Đây là các loại hoá chit có nguồn sốc tự nhiên hoặc tổng hợp từ sản xuất công nghiệp ding để phòng chẳng hoặc tiêu tật những sinh vật gây hại mia mảng trong nông Tim nghiệp. Căn cứ vào loại sâu bại cin digt, hóa chất BVTV có các tên gọi tương ứng: Thuốc trừ sâu, Thuốc trừ. nắm, Thuốc trừ cỏ, Thuốc trừ chuột. Hiện nay có khoảng 450 hợp chất được sử dụng làm hỏa chất bảo vệ thực vật.
Hóa chất BVTV tuy rất cần dé không chế sâu bệnh dịch bại cho cây trồng nhưng lại đễ gây hai đổi với mỗi trường sinh thái và sức khoẻ con người, Đây là những hóa chit Nhà nước kiểm soát chặt chẽ khi sử dụng, Khi dùng phải ding đối tượng (cây, côn trùng, bệnh nắm.); đúng iều lượng: đúng nồng độ. Nồi chung chúng ta phải sử đụng hạn chế hóa chất BVTV, khuyển khích sử dung các biện pháp sinh học bảo vệ thực vật thay thể hóa chất BVTV, Tuy Nhà nước không khuyến khích nhập khẩu hoá chit BVTV, nhưng do trong nước chưa sin xuất được nên hàng năm chúng vẫn phải đành một lượng ngoại tệ đáng kế để nhập khâu một lượng thuốc trừ sâu nhất định; tỉnh riêng năm 2005, con số này là. 243 triệu USD và năm 2006 khoảng 299 triệu USD. Nguồn số liệu về giá cả rất 4 nhiễu ching loại hoa chit BVTV không được cập nhật có hệ thống, chi có ổ liệu về tổng kim ngạch nhập khẩu dành cho thuốc trở sâu (phụ lục PL-.1) Vé nhập khẩu giảng lúa la.
Đề dim bảo an ninh lương thực và git mức xuất Khẩu gạo khoảng 4 triệu tắn/năm trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, din số tiếp tục ga tăng ở mức 1,2-1,1% và diện tích trồng lúa giảm từ 4,02 triệu ha tấn (năm 2004) xuống 3,996 wigu ha (năm 2007) thì năng suất lúa bình “quân cả nước cần được năng cao thêm 1 ắn/ha. Ngoài các biện pháp về thỷ lợi phân bón, thuốc báo vệ thự vậL. thì giải pháp cơ bản để lăng năng suất là phải đưa công nghệ sản xuất lúa lai vào sản xuất. Kết quả sử dụng giống lúa lai từ 1991- 2006 cho thấy năng suất bình quân trên diện rộng tăng lên khoảng 10-15 ta/ha so với lúa thưởng và tang Ôn định trong thời gian qua, đặc, pit hợp với các tỉnh phía Bắc có trình độ thâm canh cao và tập quán cay lúa dùng ít hạt gidng, khoảng.
30 kg hạt giống ha. Cây lúa lai cho năng suất cao ở điều kiện sinh thái ving núi, nên số thé g6p phần xoá đối giảm nghèo và dim bảo lương thực tại chỗ cho nhân dân vũng núi phía Bắc, miễn Trung và Tây Nguyên; Nhưng hiện nay cây lúa la chưa phù hợp với điều kiện sản xuất lúa hing hoá ở DBSCIL. Các loại úa ta hiện nay ở Việt Nam hầu hết là giống nhập khẩu theo từng vụ từ Trung Quốc. Đó là các loi Ia li ba đồng như Bắc tu 64, Bắc ưu 903, Nhị u E38 hoặc hai đồng Bỗi tạp sơn thanh, Bồi tạp 49.
Giá lúa lai tương đổi cao thưởng trong khoảng 20,000-30.000 'VND/kg, mặt khác lại phụ thuộc vào khả năng cung từ Trung Quốc. Hiện nay Nhà. nước vẫn phải trợ gi ging lúa từ 2.000 VND/kự cho nông din để khuyển khích sản xuất. Nang suất lúa lai bình quân dat 63 tạha, trên diện tích khoảng 600.000 ha, Sản lượng thóc tăng lên do lúa lai khoảng 0,8-1,0 triệu tẳn/năm.
Tuy nhiên, sản xuất lúa lai tong nước mới đáp ứng 20% nhu edu. lại phải nhập khẩu từ Trung Quốc với số lượng khoảng rên 11.000 tắn, nhưng rt bị động về số lượng, gid cả và chủng loại. Lượng ngoại tệ đành cho nhập khẩu lúa Tat lên đến 15- triệu USDinăm, Nước ta bắt đầu nghiền cứu giống lúa lai từ những năm 1980, nhưng thực sự phát tiển từ năm 1994, khi thành lập Trang tâm lúa lạ thuộc Viện. Khoa học KTNN Việt Nam.
Trung âm đã điều phối chương trình lúa lai quốc gia cùng với sự tham gia của các viện khác như Viện di truyền NN, Đại. Học NNI, Viện cây lương thực, Viện lúa ĐBSCL, Viện bảo vệ thực vật, Viện Kinh. : TẾ NN, Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống CTTW.