Luận án tiến sĩ kinh tế quản lý khhktqd xác định hàm cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp của việt nam trong thời kỳ đổi mới lấy ví dụ phân bón urê

Luận án tiến sĩ phân tích hàm cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp Việt Nam, tập trung vào phân bón urê thời kỳ đổi mới, đóng góp quan trọng cho nghiên cứu kinh tế nông nghiệp.

Chuyên ngành

Kinh Tế, Quản Lý & KHHKTQD (Kinh Tế Vi Mô)

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2007

163
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài luận án

1.2. Một số vấn đề liên quan đến đề tài luận án

1.3. Mục tiêu nghiên cứu của luận án

1.4. Phạm vi nghiên cứu của luận án

1.5. Những đóng góp của luận án

1.6. Kết cấu của luận án

2. CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CẦU NHẬP KHẨU URE CHO NÔNG NGHIỆP

2.1. Vai trò của urê với sản xuất nông nghiệp

2.2. Các nhân tố cơ bản tác động tới cầu nhập khẩu urê

2.3. Cung, cầu phân đạm của một số thị trường lớn trên thế giới

2.4. Mô hình cầu nhập khẩu của Leamer

2.5. Mô hình cầu nhập khẩu các nhân tố

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CUNG, CẦU URÊ Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

3.1. Thực trạng tiêu dùng urê ở Việt Nam

3.2. Thực trạng cung urê ở Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: XÁC ĐỊNH HÀM CẦU NHẬP KHẨU URE CỦA VIỆT NAM, DỰ BÁO LƯỢNG NHẬP KHẨU URE TRONG CÁC NĂM TỚI VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Phương hướng và mục tiêu phát triển nông nghiệp của Việt Nam

4.2. Khả năng phát triển sản xuất urê & phân bón có liên quan trong nước

4.3. Xác định hàm cầu nhập khẩu urê

4.4. Dự báo lượng cầu nhập khẩu urê cho các năm 2007, 2008, 2009

4.5. Đánh giá thực trạng cung cầu phân đạm của Việt Nam qua hàm cầu nhập khẩu urê

4.6. Kiến nghị một số giải pháp nhằm ổn định & phát triển thị trường urê

KIẾN NGHỊ VỀ NHỮNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài luận án

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc xác định hàm cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp, đặc biệt là phân bón urê, trong bối cảnh Việt Nam thời kỳ đổi mới. Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế Việt Nam đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, ngành nông nghiệp vẫn gặp nhiều thách thức, trong đó có việc phụ thuộc vào nhập khẩu phân bón. Năm 2003, Việt Nam phải nhập khẩu hơn 1,9 triệu tấn urê, cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu và phân tích cầu nhập khẩu để đảm bảo an ninh lương thực và phát triển bền vững. Việc xác định hàm cầu nhập khẩu không chỉ giúp cải thiện tình hình cung cầu mà còn hỗ trợ các chính sách nông nghiệp hiệu quả hơn.

II. Một số vấn đề liên quan đến đề tài luận án

Nghiên cứu về cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp, đặc biệt là phân bón urê, cần xem xét nhiều yếu tố. Trước hết, phân bón urê đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất cây trồng. Các yếu tố như giá cả, chính sách nông nghiệp, và tình hình thị trường quốc tế đều tác động đến cầu nhập khẩu. Việc phân tích các nhân tố này sẽ giúp hiểu rõ hơn về động lực của cầu nhập khẩu và từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp. Hơn nữa, việc nghiên cứu cũng cần xem xét đến các chính sách nông nghiệp hiện hành và khả năng phát triển bền vững của ngành sản xuất phân bón trong nước.

III. Phân tích thực trạng cung cầu urê ở Việt Nam

Thực trạng cung cầu phân bón urê ở Việt Nam cho thấy sự mất cân đối nghiêm trọng. Mặc dù sản xuất trong nước đã có những cải thiện, nhưng vẫn chỉ đáp ứng khoảng 30-35% nhu cầu. Điều này dẫn đến việc phụ thuộc vào nhập khẩu và sự biến động của giá cả trên thị trường quốc tế. Năm 2005, giá urê tăng cao do ảnh hưởng của giá dầu và khí ga, gây khó khăn cho người nông dân. Hệ thống phân phối phân bón cũng chưa đồng bộ, dẫn đến tình trạng khan hiếm và giá cả không ổn định. Việc phân tích thực trạng này là cần thiết để đưa ra các giải pháp nhằm ổn định thị trường và đảm bảo nguồn cung cho sản xuất nông nghiệp.

IV. Xác định hàm cầu nhập khẩu urê của Việt Nam

Việc xác định hàm cầu nhập khẩu urê là một trong những mục tiêu chính của luận án. Mô hình cầu nhập khẩu sẽ được xây dựng dựa trên các yếu tố như giá cả, thu nhập và các chính sách nông nghiệp. Dự báo lượng cầu nhập khẩu urê cho các năm tới sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn rõ hơn về nhu cầu thực tế và từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Đánh giá thực trạng cung cầu phân bón cũng sẽ giúp nhận diện các vấn đề cần giải quyết, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển bền vững thị trường urê tại Việt Nam.

V. Kiến nghị và giải pháp

Dựa trên các phân tích đã thực hiện, luận án sẽ đưa ra một số kiến nghị nhằm ổn định và phát triển thị trường phân bón urê tại Việt Nam. Các giải pháp có thể bao gồm việc cải thiện hệ thống phân phối, tăng cường sản xuất trong nước, và điều chỉnh chính sách nông nghiệp để giảm thiểu sự phụ thuộc vào nhập khẩu. Hơn nữa, cần có các biện pháp hỗ trợ cho nông dân trong việc tiếp cận phân bón chất lượng với giá cả hợp lý. Những kiến nghị này không chỉ giúp ổn định thị trường mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

06/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MỞ DAU 1.1 Tính cắp thiết của dé tài luận ám Sau 20 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam kể từ Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 nén kinh tế Việt Nam đã thực sự thay đổi về chất, đồi sống nhân dân được cải thiện rõ rộ, tăng trường rất mạnh trong hầu hết các ngành, đặc biệt trong ngành sin xuất nông nghiệp. Nước ta từ một nền kin tế rit lạc hậu, khủng hoáng triển miễn và thiểu lương thực trim trọng trở thin một nước xuất khẩu gạo đứng thứ hai thể gi với mức xuất khẩu ổn định trên 4 triệu tắnnăm, chỉ sau Thai Lan, đảm bảo an nĩnh lương thực. Sản xuất nông nghiệp đã thực sự là chỗ da vững chắc để chúng ta iễn hành Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước trong những năm tiếp theo “Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn đỏ ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn còn nhiễu yêu kém, bit cập. Trong khi giá trị sản phẩm nông nghiệp thắp nhưng, một trong những vật tư nông nghiệp quan trọng là phân bón uré - sản phẩm của ngành công nghiệp - có giá t cao.

Cho tới năm 2003, ngành sản xuất uré rong nước mới chỉ đấp ứng được khoảng 7,1% nhủ cầu của sản xuất nông nghiệp, còn li ching a phải nhập khẩu và phụ thuộc vào giá cả và cung cầu uré của th giới ring năm 2003 cả nước phải nhập khẩu hơn 1,9 triệu tấn uré. Hệ thống phân phối uré còn thiểu đồng bộ, thị trường uré nhiều khi rô loạn. Từ năm 2003, giá uré thể giới tổng mạnh và đứng ở mức cao do giá dầu lửa và khí ga tăng. Từ thắng 9/2004, Nhà may phân đạm Phú Mỹ đi vào sin xuất với sản lượng 720.000 tin uréinim, Sản lượng tr của Phú Mỹ cũng chỉ đáp ứng 30-35% nhu cầu thị trường trong nước.

Việc Nhà nước giao cho Nhà máy Phú Mỹ điều tt én định giá thị trường uré với mức giá thấp hơn giá nhập Khẩu 155% tổ ra không hiệu quả. Năm 2005, gi cả uré không kiếm soit nỗi gây tác động xắu đến tâm lý và boại động nhập khẩu trể của ác nhà nhập khẩu, Các nhà nhập khẩu ure không dám nhập vì sợ thua lỗ, thiểu cung ure trim trọng xảy ra tình trạng đu cơ phần bón xuất hiện, phân bón gi và chất lượng kém tràn lan, th rường uré trong nước bắt ổn trong thời gian dải. Căng thẳng về 2 nguồn cùng uré làm cho người nông dân đứng trước nhiều khó khăn, i dùng rể giảm sút. mạnh, năng suất cây trồng và sản lượng cây trồng do đó bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Bên cạnh đoạt động dự báo vé iêu ding uré cũ ede cơ quan quần lý Nhà nước là it khác nhau và si lệch rất nhiễu so với thực Lẻ, Việc xác định hàm sầu nhập khâu trẻ và xây dmg một môdul dự báo có tinh khoa học, khách quan về lượng cầu nhập khẩu uré cho các năm tối là hỗt sức cần thiế. Đằng thời cần cổ những giải pháp nào để có thé ổn định & phát trié thị trường uré ở VN, Vì những lý do tên tôi đã chọn dễ tải luận án: “Nae định hàm cầu nhập khâu vật tư nông nghiệp của Việt Nam. trong thời kỳ đỗi mới (ấy ví dụ phân bón URE)” 1.2, Một số vin đề liên quan đến dé tài luận ám 1.241 Tông quan về cầu NK một số vật tự NN nhập khẩu chính của VN Vật tư nông nghiệp theo nghĩa ting quit là tất cả các loi nguyên, nhiền, vật liệu, trang thiết bj được sử dung cho sản xuất nông nghiệp, Do dé vật tư nông nghiệp bao gim rất nhiều ching loại, uy nhiên tuỳ theo lĩnh vực sản xuất nông nghiệp (rồng tot, chăn nuôi.) mà vật tư nông nghiệp cũng được hiểu theo nghĩa hẹp cụ thé hon, Trong nén nông nghiệp sản xuất lúa nước của VN, ông cha ta đã đúc kết lại vai trở của vật tư nông nghiệp quan trọng trong câu "Nhất nước, nhỉ phân, tam cần, tứ giống”, “Các loại vật tư nông nghiệp được nhập khẩu chính vào nước ta hiện nay là phân bin võ cơ hóa chất ảo vệ thực vật, giống la a È nhập khẩu phan v6 cơ. Trước năm 1990, sản xuất nông nghiệp nước ta chủ yếu mang tính tự cắp tự tie, lượng phân bn vô cơ nhập khẩu không đáng kể “chủ yếu là phân đạm từ.

Liên Xô (cũ), Sau khi nén kinh tế chuyển đổi vận hành theo cơ ch thị trường, ủng với sự gia tăng của sản lượng lương thực và năng suất cây trồng, lượng phân bon nhập khẩu cũng không ngừng tăng lên; nếu như năm 1990 lượng nhập khẩu là 2,085 trigu tin phần bón các loại, trong đó uré là 786.000 tấn, thì năm 2003 có lượng nhập khẩu phân bón cao nhất là 4,135 triệu tấn, trong đồ rể 18 1926 triệu tấn. Hiện nay, trong tổng số nhu edu phản bón võ cơ cần cho sản xuất 3 nông nghiệp khoảng 7.7 triệu tin, thi lượng nhập khẩu phân bón khoảng 32-33 triệu tn rong đồ phân đạm ur 1 triệu tn, amôn sunphát (SA) khoảng 700.000 tn, phan lân phức hợp DAP khoảng 750.000 tin, phân kali 750.000 tin, và một số loi phân hỗn hợp NPK. Từ 1/4/2000, tuy Chỉnh phủ đã bai bỏ một phần rio cản thương, mại đối với phân bón nhập khẩu nhưng vẫn áp thuế NK đối với lần, đối với NPK và phụ thu chênh lệch giá đối với NPK là 4 Không áp thuế nhập khẩu và bo phụ thu chênh lệch giá đối với các loại phân nhập khẩu chủ yếu như ur, SA, DAP và kali: áp thuế VAT 5% đối với tt cả các loại phân bốn nhập khẩu. Chính sách nới lỏng hạn chế thương mại này góp phin đáng kẻ giảm bớt căng thẳng nguồn cung phân bón vô cơ cho thị trường trong nước.

Uré là loại loại phân vô co nhập, khẩu chủ yếu của VN thời gian qua, Hàng năm chúng ta phải dành tới khoảng 30 triệu USD để nhập khẩu uré. Thị trường uré quốc tế những năm gin đây có nhiều động giá rể tăng mạnh làm cho thi rường uré trong nước luôn mắt ổn định âm ảnh hưởng xấu tới sản xuất nông ngt p trong nước và gây th hại cho người sản xuất nông nghiệp. New liệu về lượng nhập kh sin lượng trong nước và gid cả uré được cập nhật trong nhiều năm. Vé nhập khẩu hóa chất bản vệ thực vật.

Đây là các loại hoá chit có nguồn sốc tự nhiên hoặc tổng hợp từ sản xuất công nghiệp ding để phòng chẳng hoặc tiêu tật những sinh vật gây hại mia mảng trong nông Tim nghiệp. Căn cứ vào loại sâu bại cin digt, hóa chất BVTV có các tên gọi tương ứng: Thuốc trừ sâu, Thuốc trừ. nắm, Thuốc trừ cỏ, Thuốc trừ chuột. Hiện nay có khoảng 450 hợp chất được sử dụng làm hỏa chất bảo vệ thực vật.

Hóa chất BVTV tuy rất cần dé không chế sâu bệnh dịch bại cho cây trồng nhưng lại đễ gây hai đổi với mỗi trường sinh thái và sức khoẻ con người, Đây là những hóa chit Nhà nước kiểm soát chặt chẽ khi sử dụng, Khi dùng phải ding đối tượng (cây, côn trùng, bệnh nắm.); đúng iều lượng: đúng nồng độ. Nồi chung chúng ta phải sử đụng hạn chế hóa chất BVTV, khuyển khích sử dung các biện pháp sinh học bảo vệ thực vật thay thể hóa chất BVTV, Tuy Nhà nước không khuyến khích nhập khẩu hoá chit BVTV, nhưng do trong nước chưa sin xuất được nên hàng năm chúng vẫn phải đành một lượng ngoại tệ đáng kế để nhập khâu một lượng thuốc trừ sâu nhất định; tỉnh riêng năm 2005, con số này là. 243 triệu USD và năm 2006 khoảng 299 triệu USD. Nguồn số liệu về giá cả rất 4 nhiễu ching loại hoa chit BVTV không được cập nhật có hệ thống, chi có ổ liệu về tổng kim ngạch nhập khẩu dành cho thuốc trở sâu (phụ lục PL-.1) Vé nhập khẩu giảng lúa la.

Đề dim bảo an ninh lương thực và git mức xuất Khẩu gạo khoảng 4 triệu tắn/năm trong điều kiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, din số tiếp tục ga tăng ở mức 1,2-1,1% và diện tích trồng lúa giảm từ 4,02 triệu ha tấn (năm 2004) xuống 3,996 wigu ha (năm 2007) thì năng suất lúa bình “quân cả nước cần được năng cao thêm 1 ắn/ha. Ngoài các biện pháp về thỷ lợi phân bón, thuốc báo vệ thự vậL. thì giải pháp cơ bản để lăng năng suất là phải đưa công nghệ sản xuất lúa lai vào sản xuất. Kết quả sử dụng giống lúa lai từ 1991- 2006 cho thấy năng suất bình quân trên diện rộng tăng lên khoảng 10-15 ta/ha so với lúa thưởng và tang Ôn định trong thời gian qua, đặc, pit hợp với các tỉnh phía Bắc có trình độ thâm canh cao và tập quán cay lúa dùng ít hạt gidng, khoảng.

30 kg hạt giống ha. Cây lúa lai cho năng suất cao ở điều kiện sinh thái ving núi, nên số thé g6p phần xoá đối giảm nghèo và dim bảo lương thực tại chỗ cho nhân dân vũng núi phía Bắc, miễn Trung và Tây Nguyên; Nhưng hiện nay cây lúa la chưa phù hợp với điều kiện sản xuất lúa hing hoá ở DBSCIL. Các loại úa ta hiện nay ở Việt Nam hầu hết là giống nhập khẩu theo từng vụ từ Trung Quốc. Đó là các loi Ia li ba đồng như Bắc tu 64, Bắc ưu 903, Nhị u E38 hoặc hai đồng Bỗi tạp sơn thanh, Bồi tạp 49.

Giá lúa lai tương đổi cao thưởng trong khoảng 20,000-30.000 'VND/kg, mặt khác lại phụ thuộc vào khả năng cung từ Trung Quốc. Hiện nay Nhà. nước vẫn phải trợ gi ging lúa từ 2.000 VND/kự cho nông din để khuyển khích sản xuất. Nang suất lúa lai bình quân dat 63 tạha, trên diện tích khoảng 600.000 ha, Sản lượng thóc tăng lên do lúa lai khoảng 0,8-1,0 triệu tẳn/năm.

Tuy nhiên, sản xuất lúa lai tong nước mới đáp ứng 20% nhu edu. lại phải nhập khẩu từ Trung Quốc với số lượng khoảng rên 11.000 tắn, nhưng rt bị động về số lượng, gid cả và chủng loại. Lượng ngoại tệ đành cho nhập khẩu lúa Tat lên đến 15- triệu USDinăm, Nước ta bắt đầu nghiền cứu giống lúa lai từ những năm 1980, nhưng thực sự phát tiển từ năm 1994, khi thành lập Trang tâm lúa lạ thuộc Viện. Khoa học KTNN Việt Nam.

Trung âm đã điều phối chương trình lúa lai quốc gia cùng với sự tham gia của các viện khác như Viện di truyền NN, Đại. Học NNI, Viện cây lương thực, Viện lúa ĐBSCL, Viện bảo vệ thực vật, Viện Kinh. : TẾ NN, Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống CTTW.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ: Hàm cầu nhập khẩu vật tư nông nghiệp Việt Nam thời kỳ đổi mới - Phân tích ví dụ phân bón urê" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển của ngành nông nghiệp Việt Nam trong bối cảnh đổi mới, đặc biệt là trong việc nhập khẩu vật tư nông nghiệp như phân bón urê. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cầu nhập khẩu, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm tối ưu hóa quy trình và nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về thị trường vật tư nông nghiệp mà còn mở ra hướng đi mới cho các nhà quản lý và doanh nghiệp trong việc phát triển bền vững.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các khía cạnh khác của nông nghiệp Việt Nam, hãy tham khảo Luận án tiến sĩ kinh tế nông nghiệp thành phố hồ chí minh trong 30 năm đổi mới 1986 đến 2015, nơi bạn sẽ thấy sự chuyển mình của nền kinh tế nông nghiệp qua các giai đoạn. Ngoài ra, Luận án năng lực cạnh tranh của ngành lúa gạo việt nam sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về khả năng cạnh tranh của một trong những sản phẩm nông nghiệp chủ lực của Việt Nam. Cuối cùng, bạn có thể khám phá Luận văn thạc sĩ năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của việt nam sang liên minh châu âu eu giai đoạn 2009 2012 để hiểu rõ hơn về thị trường xuất khẩu nông sản và những thách thức mà ngành nông nghiệp Việt Nam đang đối mặt. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về ngành nông nghiệp trong thời kỳ đổi mới.