Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý thuế nhập khẩu. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng. Chương 3: Một số biện pháp tăng cường công tác quản lý thuế nhập khẩu tại Cục Hải Quan TP.Hải Phòng. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THUẾ NHẬP KHẨU 1.
Cơ sở lý luận về quản lý thuế nhập khẩu 1. Khái niệm về thuế nhập khẩu Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một khái niệm đồng nhất về thuế XK, thuế NK. Thuế XK, thuế NK thường có tên gọi chung là thuế quan (Custom duty). Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia.
Giáo trình thuế và trị giá Hải quan của Tổng cục Hải quan định nghĩa: Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam [16, tr 104] Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Impoprt duty) là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [11, tr 439]. Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế NK cùng như các quan niệm về thuế thuế NK ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể hiểu khái niệm chung về thuế NK như sau: Thuế NK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động NK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của pháp luật thuế NK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.2 Khái niệm và nội dung của quản lý thuế nhập khẩu Quản lý thuế nhập khẩu là các biện pháp mà Nhà nước tác động nhằm mục đích huy động nguồn lực tài chính và điều tiết kinh tế trong hoạt động nhập khẩu. 5 Quản lý thuế nói chung và quản lý thuế nhập khẩu nói riêng thực chất là quản lý nguồn thu của quốc gia và quản lý tốt nguồn thu cho ngân sách, thực hiện nghiêm minh pháp luật về thuế.
Mục tiêu chung của hoạt động quản lý thu thuế nhập khẩu là bảo đảm nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và đảm bảo thực thi chính sách thuế nhập khẩu phục vụ yêu cầu quản lý của Nhà nước. Trong đó, đối tượng của hoạt động quản lý thuế nhập khẩu là người nộp thuế nộp thuế và chủ thể quản lý thuế nhập khẩu là cơ quan Hải quan, công chức hải quan và cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan. Cơ quan Hải quan giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý thuế nhập khẩu. Cơ quan Hải quan là chủ thể quản lý thuế nhập khẩu, trực tiếp liên quan đến cộng đồng Doanh nghiệp tham gia hoạt động thương mại quốc tế.
Để cho toàn bộ hệ thống quản lý thuế nhập khẩu vận hành đồng bộ, hiệu quả thì cơ quan Hải quan phải làm tốt vai trò và trách nhiệm của mình, vì chính thuế nhập khẩu có tác dụng trực tiếp, mạnh mẽ trong điều tiết hoạt động nhập khẩu. Quản lý thuế nhập khẩu của cơ quan Hải quan gồm các nội dung chủ yếu sau: 1) Quản lý thông tin về đối tượng nộp thuế Quản lý đối tượng nộp thuế là khâu đầu tiên và quan trọng nhất đối với công tác quản lý thuế nhập khẩu. Hệ thống thông tin về người nộp thuế bao gồm những thông tin, tài liệu liên quan đến nghĩa vụ thuế của người nộp thuế. Đó là cơ sở để thực hiện quản lý thuế, đánh giá mức độ chấp hành pháp luật của người nộp thuế, ngăn ngừa, phát hiện vi phạm pháp luật về thuế.
Từ ngày 01/10/2004, thủ tục cấp mã số thuế của hải quan cho cơ sở kinh doanh có hoạt động nhập khẩu đã thống nhất với việc cấp mã số thuế của cơ quan thuế. Từ đó, cơ quan hải quan xây dựng các cơ sở dữ liệu về quá trình chấp hành pháp luật, đặc điểm kinh doanh, áp dụng hình thức kiểm tra hàng 6 hoá nhập khẩu phù hợp theo qui định và tạo điều kiện thuận lợi cho việc đôn đốc thu nộp tiền thuế sau này. 2) Quản lý căn cứ tính thuế Để quản lý chặt chẽ các căn cứ tính thuế nhập khẩu trước tiên phải dựa vào thủ tục khai báo hải quan của đối tượng nộp thuế. Trong điều kiện cải cách thủ tục hành chính, đối tượng nộp thuế tự kê khai, tự tính, tự nộp thuế và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kê khai của mình.
Bên cạnh thủ tục khai báo hải quan của đối tượng nộp thuế, cơ quan hải quan phải thực hiện quá trình kiểm tra, giám sát hải quan để kiểm tra tính chính xác các nội dung tờ khai hải quan. Việc kiểm tra này được thực hiện thông qua các bước: - Kiểm tra tư cách pháp lý của người khai báo hải quan; - Kiểm tra các chứng từ thuộc hồ sơ hải quan bao gồm: tờ khai hải quan, bảng kê chi tiết hàng hoá đối với lô hàng có nhiều chủng loại, giấy phép nhập khẩu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền, hợp đồng mua bán hàng hoá, hoá đơn thương mại, bản sao vận tải đơn, giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O); - Kiểm tra thực tế hàng hoá: là quá trình cơ quan hải quan công khai kiểm tra hiện vật được xuất trình để đối chiếu thực tế hiện vật so với chứng từ khai báo đã được đăng ký thủ tục hải quan. Từ đó làm cơ sở để xác định chính xác số thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải nộp đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu. Để thực hiện việc kiểm tra thực tế hàng hoá có hiệu quả, cơ quan hải quan phải tiến hành tổ chức thu thập trao đổi thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu về: quá trình chấp hành pháp luật của chủ hàng, chính sách quản lý xuất khẩu, nhập khẩu; tính chất, chủng loại, nguồn gốc hàng hoá xuất nhập khẩu, và các thông tin khác liên quan đến hàng hoá xuất, nhập khẩu.
Dựa vào hồ sơ hải quan và các thông tin liên quan, cơ quan hải quan sẽ quyết định hoặc thay đổi hình thức, tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá, cách xác định tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hoá đối với từng lô hàng xuất, nhập khẩu cụ thể. Việc kiểm tra thực tế hàng hóa phải xác định được các thông số quan trọng nhất là 7 tên và mã hàng, xuất xứ, số lượng hàng, bảo đảm yêu cầu xác định được giá tính thuế và thuế suất. Việc xác định mã số và thuế suất phải thực hiện theo nguyên tắc: một mặt hàng chỉ phân loại vào một mã số và chỉ có một mức thuế suất nhập khẩu duy nhất và phải được thực hiện thống nhất trên toàn quốc. - Ngoài ra với mục tiêu đơn giản hoá thủ tục hành chính, cơ quan hải quan đã giảm bớt việc kiểm tra thực tế hàng hoá mà chuyển sang quá trình kiểm tra sau thông quan.
Đối tượng kiểm tra sau thông quan là các chứng từ, sổ sách kế toán, các chứng từ khác có liên quan đến lô hàng nhập khẩu; hàng hoá nhập khẩu đã được thông quan. 3) Quản lý thu nộp tiền thuế Về mặt lý thuyết, mục đích cuối cùng của quá trình quản lý thuế và chống thất thu thuế là nhằm thu đúng, thu đủ số thuế cho Nhà nước. Còn về mặt thực tiễn toàn bộ kết quả đạt được thể hiện qua công tác thu nộp thuế. Có nhiều yếu tố quyết định đến kết quả thu nộp thuế như tình hình kinh tế, tình hình hàng hoá nhập khẩu qua cửa khẩu, các biện pháp quản lý, tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu ngân sách nhà nước, giảm thiểu thời gian và thủ tục nộp tiền cho người nộp thuế, Bộ Tài chính đã hướng dẫn quy trình tổ chức phối hợp thu ngân sách nhà nước giữa Kho bạc Nhà nước – Tổng cục Thuế - Tổng cục Hải quan và các ngân hàng thương mại. 4) Quản lý miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế Chính sách miễn, giảm, hoàn thuế nhập khẩu nhằm thực hiện các mục tiêu, chính sách ưu đãi thuế của nhà nước đối với một số đối tượng và đảm bảo thực hiện đúng các thông lệ, tập quán thương mại quốc tế. Tuy nhiên đây cũng là yếu tố để các đối tượng lợi dụng trốn thuế. Miễn thuế là một hình thức ưu đãi của Chính phủ cho các tổ chức, cá nhân có hàng hoá nhập khẩu thuộc đối tượng miễn thuế, không phải nộp thuế cho hoạt động này.
8 Các trường hợp thuộc diện hoàn thuế là: Tổ chức, cá nhân thuộc diện được hoàn thuế nhập khẩu theo quy định của Luật thuế nhập khẩu và cá nhân nộp các loại thuế khác có số tiền thuế đã nộp vào ngân sách nhà nước lớn hơn số tiền thuế phải nộp. Hoàn thuế cho doanh nghiệp nhập khẩu cũng là một hình thức thể hiện trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc tạo thuận lợi cho doanh nghiệp để tái sản xuất, kinh doanh khi họ đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và nay được hưởng quyền lợi hoàn thuế. 5) Kiểm tra thuế, thanh tra thuế và xử lý vi phạm Nguyên tắc kiểm tra thuế, thanh tra thuế là việc thực hiện trên cơ sở phân tích thông tin, việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế, xác minh và thu thập chứng cứ để xác định hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Những việc thu thập chứng cứ, phân tích và đánh giá phải tuân thủ các quy định của pháp luật.
Kiểm tra thuế có thể được kiểm tra tại trụ sở cơ quan quản lý thuế hoặc tại trụ sở của người nộp thuế. Thanh tra thuế được thực hiện đối với đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế hoặc thanh tra thuế để giải quyết khiếu nại, tố cáo hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ Tài chính. Thanh tra thuế có thể tiến hành thường xuyên hoặc đột xuất, thanh tra toàn diện hoặc có trọng điểm. Xử lý vi phạm pháp luật về thuế là xử lý các hành vi vi phạm các thủ tục thuế, chậm nộp tiền thuế, khai sai dẫn đến sai lệch số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn và hành vi trốn thuế, gian lận thuế.