CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BÁO CÁO QUYẾT TOÁN NGÂN SÁCH XÃ 1. TỔNG QUAN VỀ KHU VỰC CÔNG, KẾ TOÁN KHU VỰC CÔNG 1. Định nghĩa về khu vực công Theo Hệ thống tài khoản quốc gia 2008 (SNA 2008) của Liên Hiệp Quốc, khu vực công bao gồm khu vực Chính phủ và khu vực doanh nghiệp nhà nước [15]. Theo “Cẩm nang thống kê tài chính Chính phủ (GFSM)” năm 2001 của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), khu vực công hợp thành bởi khu vực Chính phủ (bao gồm mọi đơn vị Chính phủ và mọi thể chế phi lợi nhuận, phi thị trường được các đơn vị Chính phủ kiểm soát và tài trợ phần lớn) và các doanh nghiệp công (tổng công ty tài chính công kiểm soát các đơn vị chung của Chính phủ, các tập đoàn công phi tài chính, các tổng công ty công như Ngân hàng Trung ương và các tập đoàn tài chính phi tiền tệ) [17].
Theo Chuẩn mực kế toán công quốc tế IPSAS 22, khu vực công bao gồm khu vực của Chính phủ, các tập đoàn tài chính công và các tập đoàn phi tài chính công [16]. Như vậy, qua các định nghĩa trên khu vực công được hiểu bao gồm các cơ quan Chính phủ từ Trung ương đến địa phương được thành lập theo quy trình có thẩm quyền, các tập đoàn, công ty chịu sự kiểm soát của Nhà nước do Nhà nước tài trợ hoặc chỉ đạo điều hành, kể cả hệ thống ngân hàng Trung ương. Đây là một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế, phản ánh hoạt động kinh tế chính trị, xã hội do Nhà nước quyết định, bộ phận này giúp thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước, phân phối thu nhập và cung cấp các dịch vụ công cho xã hội. Định nghĩa về kế toán khu vực công Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), kế toán khu vực công là công cụ và phương tiện quản lý tài sản, các quỹ và thực hiện các giao dịch của Chính phủ.
[17] Theo Ifezue (2006), kế toán khu vực công là một hệ thống thông tin thu được từ việc phân tích, phân loại và được giao cho các bộ phận tài chính – kinh tế trong các đơn vị khu vực công, nhằm: - Cung cấp thông tin theo yêu cầu của quản lý và điều hành cấp cao để lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát; - Việc chuẩn bị và cung cấp các Báo cáo tài chính theo Chuẩn mực kế toán và báo cáo cụ thể cho người dùng bên ngoài. [18] Tóm lại, qua các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu kế toán công như là một công cụ và phương tiện quản lý tài chính của Chính phủ, thực hiện việc ghi nhận, phân loại, kiểm soát và cung cấp thông tin về toàn bộ tình hình và sự vận động của các nguồn tài chính Nhà nước, tài sản Nhà nước bằng hệ thống các phương pháp chứng từ, tài khoản, tính giá, tổng hợp, cân đối theo những nguyên tắc, chế độ và Chuẩn mực kế toán. Thông qua đó, kiểm soát các hoạt động kinh tế - tài chính của Nhà nước, các hoạt động liên quan đến ngân sách Nhà nước, các khoản nợ, các quỹ tài chính Nhà nước và hoạt động kinh tế của các đơn vị sử dụng ngân sách, giúp Nhà nước có những giải pháp hữu hiệu trong quản lý và điều hành ngân sách. CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH VÀ KẾ TOÁN NGÂN SÁCH XÃ 1.
Khái niệm và nhiệm vụ của kế toán ngân sách và tài chính xã Theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC, kế toán ngân sách và tài chính xã là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, giám sát, phân tích và cung cấp thông tin về toàn bộ hoạt động kinh tế - tài chính của xã, gồm: Hoạt động thu, chi ngân sách và hoạt động tài chính khác của xã. Các xã, phường, thị trấn (gọi chung 9 là xã) phải tổ chức công tác kế toán theo Luật Kế toán, Nghị định 128/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kế toán trong lĩnh vực kế toán nhà nước, các văn bản pháp luật kế toán hiện hành và Chế độ kế toán ngân sách và tài chính xã. Theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC, nhiệm vụ của kế toán ngân sách và tài chính xã bao gồm: - Thu thập, xử lý, kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi ngân sách, các quỹ công chuyên dùng, các khoản thu đóng góp của dân, các hoạt động sự nghiệp, tình hình quản lý và sử dụng tài sản do xã quản lý và các hoạt động tài chính khác của xã; - Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi ngân sách xã, các quy định về tiêu chuẩn, định mức; tình hình quản lý, sử dụng các quỹ công chuyên dùng, các khoản thu đóng góp của dân; tình hình sử dụng kinh phí của các bộ phận trực thuộc và các hoạt động tài chính khác của xã; - Phân tích tình hình thực hiện dự toán thu, chi ngân sách, tình hình quản lý và sử dụng tài sản của xã, tình hình sử dụng các quỹ công chuyên dùng; cung cấp thông tin số liệu, tài liệu kế toán tham mưu, đề xuất với Ủy ban nhân dân (UBND), Hội đồng nhân dân (HĐND) xã các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội trên địa bàn xã; - Lập báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách để trình ra HĐND xã phê duyệt, phục vụ công khai tài chính trước nhân dân theo quy định của pháp luật và gửi Phòng Tài chính quận, huyện, thị xã (gọi chung là huyện) để tổng hợp vào ngân sách nhà nước. Phương phápvà yêu cầu đối với kế toán ngân sách và tài chính xã 1.
Phương pháp kế toán ngân sách và tài chính xã 10 Theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC, kế toán ngân sách và tài chính xã phải thực hiện phương pháp "kế toán kép”. Phương pháp “kế toán kép” sử dụng các tài khoản kế toán trên Sổ Cái hoặc Nhật ký – Sổ Cái để hạch toán từng hoạt động kinh tế tài chính nhằm bảo đảm sự cân đối giữa thu và chi, giữa kinh phí được cấp và tình hình sử dụng kinh phí, giữa vốn và nguồn vốn ở mọi thời điểm. Những xã ở vùng cao có số thu, chi ngân sách không lớn, trình độ của cán bộ kế toán còn hạn chế có thể thực hiện phương pháp "kế toán đơn” theo Quyết định của Giám đốc Sở Tài chính. Phương pháp "kế toán đơn" không sử dụng tài khoản kế toán, chỉ dùng các sổ kế toán chi tiết để theo dõi từng đối tượng kế toán cụ thể như: Thu, chi ngân sách, xuất, nhập quỹ, nợ phải thu, nợ phải trả,.
Yêu cầu đối với kế toán ngân sách và tài chính xã Theo Quyết định số 94/2005/QĐ-BTC, kế toán ngân sách và tài chính xác phải thực hiện các yêu cầu sau: - Phản ánh đầy đủ nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh vào chứng từ kế toán, sổ kế toán và báo cáo tài chính, báo cáo quyết toán ngân sách xã; - Phản ánh kịp thời, đúng thời gian quy định các khoản thu, chi ngân sách và thu, chi hoạt động tài chính khác của xã; - Phản ánh rõ ràng, dễ hiểu và chính xác thông tin, số liệu về tình hình thu, chi ngân sách và hoạt động tài chính của xã nhằm cung cấp những thông tin cho UBND và HĐND xã; - Phản ánh trung thực hiện trạng, bản chất sự việc, nội dung và giá trị của nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở xã; - Thông tin số liệu kế toán ở xã phải được phản ánh liên tục từ khi phát sinh đến khi kết thúc hoạt động kinh tế tài chính, từ khi thành lập đến khi chấm dứt hoạt động. Số liệu kế toán phản ánh kỳ này phải kế tiếp số liệu kế toán của kỳ trước; 11 - Phải phân loại sắp xếp thông tin, số liệu kế toán theo trình tự, có hệ thống và có thể so sánh được. Chỉ tiêu do kế toán thu thập, phản ánh phải thống nhất với chỉ tiêu trong dự toán ngân sách về nội dung và phương pháp tính toán. Quy trình quản lý ngân sách xã Theo Thông tư số 344/2016/TT-BTC, quy trình quản lý ngân sách xã tuân thủ theo 04 bước sau: Bước 1: Lập dự toán ngân sách xã Bước 2: Chấp hành dự toán ngân sách xã Bước 3: Kế toán và quyết toán ngân sách xã Bước 4: Kiểm tra, giám sát, công khai hoạt động ngân sách xã Bước 1: Lập dự toán ngân sách xã - Căn cứ lập dự toán ngân sách xã: Căn cứ vào nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự an toàn xã hội của xã; cơ chế phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi ngân sách xã; chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi theo quy định và số dự toán ngân sách xã do UBND cấp huyện thông báo.
- Ngân sách xã được bố trí mức dự phòng ngân sách hàng năm từ 2%-4% trên tổng dự toán chi để đảm bảo các nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa. và các nhiệm vụ cần thiết khác thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách xã nhưng chưa được dự toán. UBND xã quyết định sử dụng dự phòng ngân sách xã nhưng phải báo cáo Thường trực HĐND xã và báo cáo HĐND xã tại kỳ họp gần nhất. - Chỉ điều chỉnh dự toán ngân sách xã khi có yêu cầu của UBND cấp trên để đảm bảo phù hợp với định hướng chung hoặc có biến động lớn về nguồn thu và nhiệm vụ chi.
Bước 2: Chấp hành dự toán ngân sách xã 12 - Căn cứ vào dự toán ngân sách xã và phương án phân bổ ngân sách xã cả năm đã được HĐND xã quyết định, UBND xã quyết định phân bổ chi tiết dự toán chi ngân sách xã. - Chủ tịch UBND xã chỉ đạo bộ phận tài chính, kế toán xã có nhiệm vụ phối hợp với cơ quan thuế đảm bảo thu đúng, thu đủ và kịp thời theo quy định của pháp luật. - Khi thực hiện chi ngân sách, Chủ tịch UBND xã hoặc người được ủy quyền quyết định chi phải kiểm tra, đảm bảo khoản chi phải đúng dự toán được giao (trừ trường hợp đầu năm ngân sách chưa được cấp có thẩm quyền quyết định và các khoản chi từ nguồn tăng thu, dự phòng ngân sách, kết dư ngân sách năm trước), đảm bảo đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức quy định. Chứng từ, hồ sơ thanh toán phải hợp lệ, hợp pháp.
Chi đầu tư phát triển phải đáp ứng điều kiện quy định của pháp luật về đầu tư công và xây dựng.