Chương 1 TỔNG QUAN 1. HEMIASTERLIN Hemiasterlin là nhóm các tripeptit thiên nhiên mạch thẳng được phân lập từ loài hải miên Hemiasterella minor. Phân tử hemiasterlin được cấu tạo từ ba đơn vị amino axit bất thường. Do có độc tính mạnh với nhiều dòng tế bào ung thư nên được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu.
Hiện nay, một số hemiasterlin đang được thử nghiệm điều trị ung thư ở giai đoạn hai. Phân lập hemiasterlin Năm 1994, lần đầu tiên nhóm nghiên cứu của Kashman đã phát hiện và phân lập được hemiasterlin (1) từ loài hải miên Hemiasterella minor ở vịnh Dodwana với hàm lượng rất thấp 0,01% so với khối lượng mẫu khô [1]. Cấu trúc phức tạp của hemiasterlin đã được Kashman chứng minh bằng nhiều phương pháp phổ như phổ khối lượng phân giải cao bắn phá nhanh ghép nối khối phổ (HRFABMS), phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D và phổ IR đã khẳng định cấu trúc mạch thẳng của hemiasterlin gồm ba amino axit bất thường sắp xếp lần lượt theo thứ tự A,B,C, nhưng không giải thích được cấu hình không gian của các nhóm thế trên ba amino axit. Tiếp theo, nhóm nghiên cứu của Raymond J.
Andersen đã phân lập được hai dẫn xuất khác của hemiasterlin là hemiasterlin A (5), hemiasterlin 4 B (6) từ loài hải tiêu Auletta và Cymbastella [2]. Do cấu trúc phức tạp của hemiasterlin và hàm lượng hemiasterlin trong các mẫu hải tiêu rất thấp nên đến năm 1996 cấu trúc không gian của hemiasterlin mới được khẳng định nhờ phổ nhiễu xạ tia X [3], sau này được các nhà khoa học chứng minh bằng nhiều phương pháp hiện đại [20]. Năm 1999, nhóm nghiên cứu của Chandra K. Boyd và các cộng sự đã phân lập được bốn dẫn xuất hemiasterlin (1), hemiasterlin A, B và C (5-7) từ hai loài hải miên Auletta sp.
và Siphonochalina spp., đây là lần đầu tiên hemiasterlin C (7) được phân lập chứng minh cấu trúc [5]. Như vậy, việc phân lập được hemiasterlin từ các loài hải miên với cấu trúc độc đáo đã cuốn hút được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu phân lập nhằm tìm kiếm các hợp chất mới có trúc lý thú từ sinh vật biển. Hoạt tính sinh học của hemiasterlin Kết quả sàng lọc hoạt tính ban đầu của Kashman đã khẳng định khả năng gây độc tế bào ung thư P388 leukaemia của hemiasterlin (1) ở nồng độ IC50 = 19 nM [1]. Năm 1995, Andersen đã thử nghiệm lại độc tính tế bào của hemiasterlin trên dòng P388 leukaemia với nồng độ ức chế IC50 = 8,7 nM [2].
So sánh hai kết quả nghiên cứu, nhóm Andersen đã giải thích do mẫu hemiasterlin của họ có độ sạch cao hơn, điều này phù hợp với sự khẳng định của nhóm Kashman năm 1994 là mẫu hemiasterlin cho nghiên cứu hoạt tính có độ sạch chưa cao [1,2]. Cũng trong công trình này, Andersen đã khẳng định độc tính của hemiasterlin với nhiều dòng tế bào khác như: ung thư vú MCF7 (ED50 = 0,089 µg/ml), ung thư glioblastoma/astrocytoma U373 (ED50 = 0,012 µg/ml), ung thư ovarian carcinoma HEY (ED50 = 0,0014 µg/ml), các dẫn chất hemiasterlin A, B có hoạt tính gây độc tế bào mạnh hơn hemiasterlin (1) [2]. 5 Năm 1997, nhóm nghiên cứu của Andersen đã phát hiện cơ chế chống ung thư của hemiasterlin. Hoạt tính độc tế bào của hemiasterlin là do làm ngưng trệ sự phân bào ở giai đoạn metaphase của động học tế bào nhờ ức chế quá trình polyme hóa tubulin bởi sự gắn kết của hemiasterlin lên vị trí Vinca peptit của tubulin.
Tác động này tương tự như một số tác nhân chống ung thư khác gắn kết lên tubulin đã được ứng dụng trong hóa trị liệu ung thư paclitaxel hoặc vinblastin, ở khoảng liều ED50 từ 0,5 nM đến 28 nM [4,22,50]. Như vậy, nhóm chất hemiasterlin được phân lập từ loài hải miên không chỉ có cấu trúc hóa học độc đáo mà chúng còn có hoạt tính gây độc tế bào mạnh với nhiều dòng tế bào ung thư. Kết quả này đã mở ra hướng nghiên cứu tìm các hợp chất chống ung thư mới có nguồn gốc sinh vật biển [23]. TỔNG HỢP TOÀN PHẦN HEMIASTERLIN THEO ANDERSEN Hemiasterlin có hoạt tính gây độc tế bào ung thư rất cao nên được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhằm tìm kiếm các thuốc mới cho điều trị ung thư có nguồn gốc thiên.
Tuy nhiên, hàm lượng của hemiasterlin trong tự nhiên rất thấp (0,01%) và quá trình thu thập mẫu hải miên gặp nhiều khó khăn nên quá trình phân lập hemiasterlin thường không đủ cho nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính và cấu trúc [1]. Đặc biệt hemiasterlin có cấu trúc rất độc đáo gồm ba đơn vị axit amin bất thường nên được nhiều nhà tổng hợp hữu cơ nghiên cứu tổng hợp toàn phần. Từ các ý tưởng trên Andersen và cộng sự đã đưa ra phương pháp tổng hợp toàn phần hemiasterlin lần đầu tiên năm 1997 [6,7]. Để tổng hợp toàn phần hemiasterlin, người ta phân tích tổng hợp ngược từ các block1, block 2 và block 3 sau đó tổng hợp từng block và ghép nối các block tạo thành hemiasterlin.
Cấu trúc các block của hemiasterlin Bước khó nhất của qui trình tổng hợp hemiasterlin là block 1 là phải điều khiển cấu hình bất đối của nhóm NH-metyl. Tổng hợp block 1 được tóm tắt như sơ đồ 1. CO2H CO2Me CO2Me CO2Me CH2N2, Et2O KHMDS, KHMDS N N MeI, THF N MeI, THF N H Me Me 9 11 Me 8 10 DIBAL-H, THF, -78 tíi 0 oC CH=CHOMe CHO CH2OH Ph3PCH2OMeCl, TPAP, NMO, CH2Cl2 N Me KOt-Bu, THF N N Me Me 14 13 TsOH, 12 dioxan, H2O CH2CHO CH2CO2H NaClO2, NaH2PO4, N t-BuOH, H2O Me N Me 15 16 Sơ đồ 1. Đầu tiên, nguyên liệu indol-3-ylaxetic axit (8) được chuyển hóa thành dẫn xuất metyl este 9 nhờ phản ứng với diazometan trong dung môi dietyl ete, tiếp theo hợp chất 9 được metyl hóa liên tiếp hai lần trong sự có mặt của bazơ mạnh KHMDS với tác nhân metyl hóa MeI trong dung môi THF, tạo thành sản phẩm dimetyl hóa 11.
Sau đó, khử hóa chọn lọc chất 11 bằng tác nhân DIBAL-H trong THF ở nhiệt độ thấp tạo thành ancol bậc một 12. Tiếp theo ancol 12 được oxy hóa chọn lọc bằng MNO trong sự có mặt của TPAP trong dung môi diclometan tạo thành andehit 13. Tăng mạch cacbon của chất 13 nhờ phản ứng Wittig với Ph3PCH2OMeCl, xúc tác t- 7 BuOK trong dung môi THF tạo thành chất 14, thủy phân chất 14 bằng TsOH trong dioxan tạo thành andehyt 15, sau đó chất 15 được oxy hóa bằng tác nhân natri clorit trong môi trường kiềm yếu tạo thành axit 16 (sơ đồ 1. Chất 16 được gắn với tác nhân Evan tạo thành chất 17, tiếp theo hợp chất 17 được azit hóa chọn lọc bằng tác nhân trisyl azit tạo thành chất 18 có độ chọn lọc lập thể cao nhờ định hướng của tác nhân Evan.
Sau đó, azit 18 được khử hóa bằng hydro có xúc tác Pd(C) tạo thành amin 19. Nhóm amin của chất 19 được bảo vệ bằng Boc nhờ phản ứng với Boc2O trong dung môi etyl axetat tạo thành chất 20. Hợp chất 20 được loại bỏ tác nhân Evan nhờ phản ứng oxy hóa bằng H2O2 trong môi trường kiềm LiOH tạo thành axit 21, sau đó metyl hóa chất 21 bằng MeI có mặt của tác nhân kiềm NaH trong dung môi DMF tạo thành chất 22. Thủy phân hợp chất 22 bằng LiOH trong dung môi MeOH/H2O tạo thành axit 23 (block 1) (sơ đồ 1.
Pivaloyl clorid, THF N O OH OLi N N , THF, -78oC 16 2. N Me 17 Me O 24 KHMDS, trisylN3, THF, -78oC O O O O O O Boc2O, EtOAc N H2/Pd(C) N N O O O NH NH2 N3 N Boc N N Me Me Me 20 19 18 LiOH, H2O2, MeOH O O O OH NaH, MeI, DMF OCH LiOH, MeOH, H2O 3 OH HN HN HN N Boc N Me N Me Me Me Me 21 22 23 Block 1 Sơ đồ 1. Như trình bày ở trên Andersen tổng hợp các block riêng lẻ sau đó tổng hợp hemiasterlin nhờ ghép nối từng block với nhau theo nguyên tắc 8 dipeptit block 2-3 ghép nối với block 1. Cho nên sau khi tổng hợp block 1 Andersen tổng hợp block 3 nhờ sử dụng nguyên liệu đầu cho tổng hợp block 3 là L-Boc-valin.
Cấu hình E-olefin trên block 3 được tổng hợp chọn lọc nhờ phản ứng Wittig, sơ đồ tổng hợp block 3 được Andersen đưa ra như sau: Sơ đồ 1. Tổng hợp block 3 của hemiasterlin Nguyên liệu (S)-N-Boc-metylvalin 25 phản ứng với [H2N(OMe)Me]Cl trong sự có mặt của DCC và i-Pr2NEt, trong dung môi axetonitrin tạo thành Weinreb amit 26. Tiếp theo, khử hóa chất 26 với tác nhân khử LiAlH4 trong THF ở -78oC tạo thành andehit 27 với hiệu suất 55%. Phản ứng của chất 27 với tác nhân Wittig Ph3P=C(Me)CO2Et trong dung môi CH2Cl2 tạo thành sản phẩm chọn lọc lập thể E-olefin 28.
Sau đó loại bỏ nhóm bảo vệ Boc của chất 28 bằng axit trifloaxetic tạo thành chất 29 (block 3) với hiệu suất 95%. Andersen tổng hợp dipeptit block 2,3 (32) nhờ phản ứng ghép nối của block 3 (29) với block 2 là L-Boc-leuxin (30) trong sự có mặt của các tác nhân hoạt hóa PyBroP và DMAP, trong dung môi diclometan tạo thành chất 31. Sau đó loại nhóm bảo vệ Boc nhờ phản ứng TFA tạo thành muối 32, tiếp theo muối 32 phản ứng với chất 23 (block 1) tạo thành dẫn xuất etyl este 33 có nhóm bảo vệ Boc ở block 1. Nhóm Boc của este 33 được loại bỏ nhờ phản ứng với TFA tạo thành chất 34, cuối cùng thủy phân chất 9 34 để loại bỏ nhóm etyl của đầu este bằng tác nhân tủy phân chọn lọc là LiOH trong hỗn hợp dung môi metanol: nước ở nhiệt độ phòng trong thời gian 15h tạo thành hemiasterlin (1) với hiệu suất 83% [2] (sơ đồ 1.
Hiệu suất tổng mà Andersen tổng hợp hemiasterlin từ nguyên liệu đầu là 0,6%. Tổng hợp mạch nhánh của hemiasterlin Như vậy, lần đầu tiên Andersen đã tổng hợp toàn phần hemiasterlin với hiệu suất cao nhờ tổng hợp riêng biệt các block 1,2 và 3 sau đó ghép nối block 2 với block 3 tạo thành dipeptit block 2-3, cuối cùng ghép nối với block 1 tạo thành hemiasterlin. Đây là kết quả rất lý thú được nhiều nhà khoa học quan tâm và cũng là phương pháp để chúng tôi áp dụng cho tổng hợp các hemiasterlin mới nhằm tìm kiếm các hợp chất mới có cấu trúc lý thú và hoạt tính sinh học cao. TỔNG HỢP DẪN XUẤT HEMIASTERLIN HTI-286 Từ thành công của phản ứng tổng hợp toàn phần hemiasterlin Andersen đã nghiên cứu tổng hợp nhiều dẫn chất khác của hemiasterlin nhờ thay từng block 1, block 2 và block 3 trên phân tử nguyên gốc bằng những nhóm thế mới và khảo sát hoạt tính chống ung thư của chúng [7,22,49].
Kết 10 quả đã nhận được một số dẫn xuất mới của hemiasterlin với cấu trúc độc đáo và hoạt tính rất lý thú.