Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Nhị (năm 2018) thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam, tập trung nghiên cứu hiện tượng dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng dự báo có nguồn gốc sâu xa từ nhận thức luận, triết học và văn hóa quan sát tự nhiên của nhân loại thời sơ khai, sau đó thẩm thấu và định hình trong văn học. Ở thời kỳ trung đại, tri thức mang đặc tính "nhồng tính" – một đầu bắt rễ từ tín ngưỡng, tâm linh nguyên thủy và một đầu gắn liền với tư duy duy lý hóa dần. Trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam, các phương thức dự báo xuất hiện với tần số lớn, thể loại phong phú nhưng đi kèm nhiều thuật ngữ chuyên ngành hẹp, tạo nên rào cản tiếp nhận đối với bạn đọc phổ thông. Phần lớn các công trình nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận yếu tố kỳ ảo như một phương tiện phản ánh hiện thực hoặc bản sắc văn hóa dân tộc một cách khái quát, thiếu vắng các công trình nghiên cứu chuyên biệt để phân loại hệ thống, giải mã nguyên lý nền tảng văn hóa, tiền đề lịch sử - văn học và các giá trị tư tưởng, thi pháp ẩn chìm của dự báo. Luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này, làm sáng tỏ "sứ mệnh kép" của dự báo: vừa tham gia kiến tạo nội dung tư tưởng, vừa là thành tố cấu thành hình thức nghệ thuật của tác phẩm.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Tìm hiểu dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam trên hai khía cạnh chính: Nội dung phản ánh và hình thức, giá trị nghệ thuật.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tìm hiểu những nền tảng cho việc hình thành dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam như văn hoá, lịch sử - xã hội, văn học.
    2. Xác lập nội hàm của dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam bao gồm những phương thức nào, từ đó hệ thống hoá, phân loại, xác định số lượng các phương thức dự báo ở 245 tác phẩm xuất hiện phương thức dự báo trên tổng số 738 tác phẩm được khảo sát.
    3. Nghiên cứu nội dung, tư tưởng của dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam như: Nội dung phản ánh đời sống xã hội, phản ánh tư tưởng, đạo đức, văn hoá thời trung đại.
    4. Nghiên cứu hình thức biểu hiện, nghệ thuật của dự báo như: Kiểu loại nhân vật (nhân vật dự báo và nhân vật được dự báo); không gian - thời gian dự báo; đặc điểm ngôn ngữ dự báo.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề cơ bản trong nội dung và phương thức thể hiện của hiện tượng dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam (xem phong thủy, Kinh Dịch, tướng số, chiêm mộng, tử vi, trạch cát, tiếp xúc với thế giới siêu nhiên...).
  • Phạm vi tư liệu: Nguồn khảo sát chính là bộ Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam (4 tập, Trần Nghĩa chủ biên), đối chiếu với Truyện truyền kì Việt Nam (2 tập, Nguyễn Huệ Chi chủ biên), Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại (3 tập, Nguyễn Đăng Na biên soạn) cùng các bộ chính sử như Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử kí tiền biên, Việt sử lược, Việt sử tiêu án, Lịch triều hiến chương loại chí.
  • Phạm vi nội dung và thời gian: Khảo sát văn xuôi tự sự thời trung đại, tập trung vào các phương thức dự báo tiêu biểu (điềm triệu, phong thủy, chiêm mộng, tướng thuật, Kinh Dịch, trạch cát) và hai diện nội dung chính: dự báo cá nhân (phúc họa, thọ yểu, tật bệnh, nhân duyên, khoa cử) và dự báo cộng đồng (thiên tai, chiến tranh, sự hưng vong của triều đại).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả điểm lại các công trình và hướng nghiên cứu trong nước cũng như quốc tế có liên quan đến hiện tượng dự báo dưới nhiều lăng kính:

  • Về phương diện văn hóa và văn bản phương thuật:

    • Nghiên cứu của V. Alexei trong Chiêm tinh học và thuật bói toán tại Việt Nam cổ truyền phân tích sự quan tâm của giới Nho sĩ đối với sách bói toán cùng ba truyền thống ảnh hưởng của chiêm tinh học Trung Hoa tại Việt Nam là Thái ất, Kỳ môn độn giáp và Lục nhâm.
    • Công trình của Huard và Durand phác họa đại cương thuật bói toán Việt Nam qua các hình thức: địa lý phong thủy, chiêm tinh, phù thủy, xem tướng và xem chân gà.
    • Đào Duy Anh trong mục Phương thuật của Việt Nam văn hoá sử cương phân chia các loại hình dự báo: phong thủy, bốc phệ (thi bốc, mai hoa bốc, kim tiền bốc), tướng số (Hà lạc, tiền định, tử vi, tướng mạo), các phép chiêm đoán (nhâm độn, xin thẻ, phụ tiên, cầu đồng, xem chân gà, nghiệm đồng dao, sấm ký, điềm triệu, bói Kiều, bói âm dương).
    • Tạ Chí Đại Trường trong Thần, người và đất Việt khảo sát sinh hoạt đồng bóng, cầu đảo, thần đất và tác động ma thuật trong đời sống cung đình và dân gian thời trung đại.
    • Ghi chép lịch sử của Tư Mã Thiên trong Sử ký về tập tục bói gà và hệ thống đền thờ của người "Việt vu" từ năm 110 trước Công nguyên.
  • Về góc độ văn học dân gian và văn học thế giới:

    • Bảng tra cứu motif văn học dân gian của Stith Thompson (Motif-Index of Folk-Literature) tổng hợp hệ thống motif dự báo qua giấc mơ, điềm triệu, bói toán.
    • Công trình Divination: Sacred Tools for Reading the Mind of God của Paul O’Brien phân tích năm hệ thống tiên đoán kinh điển (chiêm tinh học, thuật số Kabbalic/Chaldean/Pythagorean, Kinh Dịch, Tarot, chữ Rune).
    • Ý kiến của B. Riftin về sự phát triển của văn xuôi tự sự Việt Nam từ các tập truyện ngắn mang tính thần thoại và truyện chí quái.

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Trước luận án này, các công trình chủ yếu dừng lại ở việc xem yếu tố kỳ ảo hay dự báo như một chi tiết phụ trợ trong nghệ thuật tự sự hoặc khảo sát thuần túy phong tục tôn giáo. Chưa có công trình nào tiến hành bao quát toàn diện văn bản văn xuôi tự sự chữ Hán trung đại để thống kê số lượng, xác lập hệ thống phân loại phương thức dự báo theo kỹ thuật và nội dung, đồng thời phân tích cơ chế thi pháp (tổ chức nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ) gắn liền với hệ hình tư tưởng Nho - Phật - Đạo và tín ngưỡng bản địa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên sự tích hợp giữa các lý thuyết văn học hiện đại và hệ thống triết học, phương thuật cổ phương Đông:

  • Khung lý thuyết văn học và văn hóa:

    • Nghiên cứu văn học dưới góc nhìn văn hóa học: Vận dụng quan điểm của A. Gurêvich về tư duy thời trung đại và niềm tin tôn giáo; quan điểm của Trần Nho Thìn về việc "phục nguyên không gian văn hóa" để nhận diện sự chi phối của triết học, đạo đức, chính trị lên thi pháp; quan điểm phê bình văn hóa của Đỗ Lai Thúy nhằm giải mã mối liên hệ giữa hệ thống văn hóa và tác phẩm văn học.
    • Thi pháp học: Sử dụng các định nghĩa và nguyên tắc thi pháp của V. Girmunxki, V. Vinôgrađốp và Trần Đình Sử, tiếp cận tác phẩm như một chỉnh thể nghệ thuật ngôn từ, xem xét tính lặp lại của các motif, cấu trúc nhân vật, không gian và thời gian nghệ thuật.
    • Lý thuyết diễn ngôn: Vận dụng luận điểm của Michel Foucault về diễn ngôn như một công cụ kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực, đặt hiện tượng dự báo trong mối tương tác với diễn ngôn chính trị, đạo đức và tôn giáo thời trung đại.
  • Hệ thống lý thuyết phương thuật và triết học nền tảng:

    • Thuyết Âm dương và Thuyết Ngũ hành: Giải thích nguyên lý tương sinh, tương khắc, quy luật tiêu trưởng ("vật cùng tắc biến, vật cực tắc phản", "dương cực sinh âm, âm cực sinh dương") được ứng dụng trong phong thủy, trạch cát, xem tướng, Kinh Dịch.
    • Thiên can Địa chi: Hệ thống 10 can, 12 chi và chu kỳ lục thập hoa giáp dùng để định vị thời gian và không gian trong chiêm đoán.
    • Tư tưởng Thiên nhân hợp nhất và Nhân thể tiểu vũ trụ: Quan niệm từ Đổng Trọng Thư, Lão Tử, Trang Tử, Mạnh Tử về sự cảm ứng giữa trời và người, coi thân thể con người là một tiểu vũ trụ tương ứng với cấu trúc tự nhiên để suy đoán vận mệnh.
    • Nguyên lý ma thuật vi lượng: Gồm luật tương đồng (vật giống nhau mời gọi nhau) và luật tiếp xúc (các vật từng tiếp xúc tiếp tục tác động qua lại lẫn nhau).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:

    • Phương pháp loại hình học: Tiếp cận dự báo theo từng thể loại văn xuôi tự sự (truyền kỳ, ký, tiểu thuyết chương hồi) để chỉ ra sự khác biệt về nội dung và nghệ thuật so với văn vần tự sự (truyện thơ Nôm).
    • Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn hóa học, thi pháp học, lịch sử học, xã hội học và tâm lý học.
    • Phương pháp so sánh văn học: Đối chiếu dự báo giữa văn học dân gian và văn học viết, giữa văn xuôi chữ Hán và truyện Nôm, giữa văn học Việt Nam và văn học khu vực Đông Á (Trung Quốc).
    • Các thao tác bổ trợ: Thống kê, phân loại, phân tích, tổng hợp, mô tả và hệ thống hóa văn bản.
  • Nguồn tư liệu: 738 tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam cùng hệ thống văn bản sử học và phụ lục khảo cứu so sánh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của đề tài

Chương 1 tập trung xác lập hệ thống khái niệm, lịch sử vấn đề và cơ sở lý luận của luận án:

  • Phân tích định nghĩa về "dự báo" và "phương thức dự báo" từ các từ điển chuyên ngành trong và ngoài nước (Từ điển tiếng Việt, Oxford, Merriam-Webster, Larousse, Robert, Từ điển Tôn giáo và các thể nghiệm siêu việt), từ đó xác định dự báo thời cổ trung đại là hành vi nhận biết và báo trước tương lai một cách chủ động hoặc bị động dựa trên quan sát dấu hiệu tự nhiên hoặc vận dụng phương thuật kết hợp giữa yếu tố tâm linh và tư duy phân tích.
  • Khái quát bức tranh dự báo trên thế giới qua hai nhóm: thiên khải (bị động chờ dấu hiệu từ thần linh) và nhân vi (chủ động chế định phương pháp thăm dò). Trình bày các hệ thống bói toán tiêu biểu: bói mai rùa, cỏ thi, tiêm thơ, phong thủy, trạch cát, tướng thuật, Thái ất, Kỳ môn độn giáp, Lục nhâm đại độn tại phương Đông; chiêm tinh học, thuật số, bài Tarot, chữ Rune tại phương Tây.
  • Khảo sát lịch sử dự báo tại Việt Nam qua các nguồn văn bản Hán Nôm, ghi chép của phương Tây và phong tục dân gian (Việt vu bói gà, bói lá trầu, xin keo âm dương, bói Kiều).
  • Trình bày hệ thống lý thuyết nền tảng: góc nhìn văn hóa học, thi pháp học, thuyết Âm dương - Ngũ hành, Can chi, Thiên nhân cảm ứng, Nhân thể tiểu vũ trụ và ma thuật vi lượng.

Chương 2. Các tiền đề hình thành và vấn đề nhận diện, phân loại dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Chương 2 làm rõ cội nguồn văn hóa - xã hội và xác lập hệ thống phân loại dự báo:

  • Các tiền đề hình thành:

    • Tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa: Nhà nước quân chủ chuyên chế sử dụng tư tưởng thiên mệnh và thần quyền để bảo vệ vương quyền; sự dung hợp giữa tín ngưỡng bản địa (sùng bái tự nhiên, thờ thần) với Tam giáo đồng nguyên (Nho giáo củng cố mệnh trời, Đạo giáo thần tiên và phù thủy cung cấp hệ thống bùa chú, pháp thuật, Phật giáo với luật nhân quả và thần thông).
    • Nguồn mạch văn học dân gian: Các motif mộng báo, điềm báo, sấm truyền và kiểu nhân vật phù thủy, đạo nhân từ truyện kể dân gian được tân biên vào văn học viết.
    • Ảnh hưởng từ văn học Trung Quốc: Truyền thống "bút pháp vu sử" kết hợp yếu tố dị thường để bảo vệ hoàng thất; tâm lý "chuộng kỳ" (phi kỳ bất truyền) từ truyện chí quái Lục triều và truyền kỳ Đường - Tống.
    • Yếu tố nội tại của văn học trung đại: Đội ngũ sáng tác là các nhà sư và nhà Nho (vừa dạy học, làm quan, vừa am hiểu nghề y, thuật số); tính quy phạm, sùng cổ và đặc trưng nguyên hợp của văn học trung đại.
  • Nhận diện và phân loại dự báo: Luận án thống kê được 245/738 tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán có xuất hiện phương thức dự báo (tỷ lệ 33,19%).

Bảng tổng hợp phân loại phương thức dự báo theo khảo sát của luận án:

Tiêu chí phân loại Nhóm / Phương thức dự báo Biểu hiện cụ thể và tần số tiêu biểu trong văn bản
Theo hình thức, kĩ thuật dự báo 1. Tiên tri Xuất hiện 83 lần / 66 tác phẩm. Gồm sấm ký của thiền sư (Thiền uyển tập anh: Định Không, La Quý An, Vạn Hạnh...), sấm ngữ, đồng dao dân gian.
2. Tiếp xúc thế giới siêu nhiên Xuất hiện 76 lần / 68 tác phẩm. Gồm lên đồng (chủ động), ốp đồng (bị động), giáng bút, nghe lén cõi âm.
3. Điềm triệu Quan sát các hiện tượng dị thường trong tự nhiên, động vật, thực vật.
4. Chiêm mộng Nằm mơ thấy thần linh, điềm báo tương lai, trao bảo vật.
5. Thuật số & phương thuật Xem Kinh Dịch, tử vi, trạch cát, phong thủy, Thái ất, Lục nhâm, Kỳ môn độn giáp.
6. Tướng mạo Quan sát diện mạo, nhân thể đối ứng âm dương ngũ hành để đoán mệnh.
Theo nội dung, chủ đề dự báo 1. Dự báo cho cá nhân Dự đoán phúc họa, thọ yểu, bệnh tật, khoa cử thi đỗ, nhân duyên, quan trường.
2. Dự báo cho cộng đồng, quốc gia Dự báo thiên tai, vận nước hưng suy, chiến tranh, sự chuyển giao ngôi vua và triều đại.

Chương 3. Giá trị nội dung tƣ tƣởng, văn hoá của dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Chương 3 phân tích chiều sâu tư tưởng và sắc thái văn hóa phản ánh qua hiện tượng dự báo:

  • Dự báo phản ánh hiện thực xã hội thời trung đại: Thể hiện đời sống người dân, tâm lý lo âu trước các biến cố; phản ánh thực trạng học hành thi cử và con đường hoạn lộ của giới Nho sĩ (các điềm báo đỗ đạt qua phong thủy mồ mả, mộng báo); thể hiện mối quan hệ phức tạp giữa thần quyền và vương quyền, trong đó thần quyền được huy động để xác lập tính chính danh cho quyền lực chính trị.
  • Dự báo phản ánh tư tưởng, đạo đức thời trung đại: Làm sáng tỏ quan niệm về Đức - Phúc, luật nhân quả báo ứng và tư tưởng thiên mệnh. Các dự báo mang lại kết quả tốt lành thường gắn liền với đạo đức, nhân nghĩa của nhân vật, ngược lại điềm hung hiểm là lời cảnh báo đối với hành vi phi đạo đức.
  • Màu sắc văn hóa bản địa: Hệ thống biểu tượng dự báo gắn liền với môi trường sinh thái và văn hóa Việt Nam:
    • Hệ thống thực vật bản địa: Cây tre, trầu cau, mía, sen, cây gạo, cây đa...
    • Hệ thống động vật bản địa: Con trâu, rùa, thạch sùng, cá chép, gà (bói chân gà)...

Chương 4. Hình thức thể hiện và giá trị nghệ thuật của dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam

Chương 4 khảo sát các phương diện thi pháp và kỹ thuật tự sự:

  • Nghệ thuật khắc họa nhân vật:
    • Phân chia kiểu loại nhân vật: Nhóm nhân vật mang chức năng dự báo (bốc sư, đạo sĩ, thầy địa lý, thiền sư, thần linh, trích tiên) và nhóm nhân vật được dự báo (vua chúa, danh tướng, sĩ tử, người bình dân).
    • Kỹ thuật xây dựng nhân vật: Ảo hóa xuất thân, hành trạng và cái chết của nhân vật; vận dụng thuật xem tướng để tạo tác chân dung ngoại hình; xác tín hóa lai lịch và sứ mệnh của nhân vật lịch sử.
  • Xây dựng không gian và thời gian nghệ thuật:
    • Không gian đặc trưng: Không gian gắn với cõi thiêng như đền miếu, chùa chiền, am điện, không gian sông nước, lăng mộ phong thủy.
    • Thời gian đặc trưng: Thời gian ban đêm, thời điểm chuyển giao giữa các mùa, thời khắc bất thường.
    • Bút pháp nghệ thuật: Kết hợp ảo hóa và thực hóa không gian; lặp lại và kéo dài thời gian; nới rộng, dịch chuyển không gian nghệ thuật; phóng chiếu tương lai và quy hồi quá khứ qua kỹ thuật phục bút.
  • Nghệ thuật thể hiện qua ngôn ngữ dự báo:
    • Công thức ngôn ngữ: Thiết lập các công thức ngôn ngữ dự báo mang kết quả cát tường (dựa trên âm dương hòa hợp, ngũ hành tương sinh) và hung họa (dựa trên xung khắc, suy thoái).
    • Giá trị nghệ thuật: Việc sử dụng lớp thuật ngữ chuyên ngành (thuật số, can chi, Dịch học) làm phong phú vốn ngôn ngữ văn xuôi trung đại; kỹ thuật mã hóa ngôn ngữ (chiết tự, sấm ngữ, câu đố đồng dao) tạo nên tính chất ẩn mật, mơ hồ và huyền bí cho văn bản tự sự.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học và thực tiễn:

  • Về mặt lý luận và khái niệm: Đề xuất định nghĩa và xác lập nội hàm khái niệm dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam; làm rõ nguyên lý vận hành của các phương thức dự báo từ nền tảng triết học Đông phương (Âm dương, Ngũ hành, Can chi, Thiên nhân cảm ứng).
  • Về mặt tư liệu và khảo sát thực chứng: Khảo sát hệ thống 738 tác phẩm trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, nhận diện và phân loại chi tiết 245 tác phẩm có chứa phương thức dự báo theo hai hệ thống: hình thức/kỹ thuật và nội dung/chủ đề.
  • Về nội dung tư tưởng: Phân tích toàn diện hệ giá trị văn hóa, tư tưởng đạo đức (Đức - Phúc, Thiên mệnh, Nhân quả) và mối quan hệ giữa thần quyền - vương quyền phản ánh qua dự báo, chỉ ra các dấu ấn bản địa hóa trong biểu tượng động - thực vật.
  • Về phương diện thi pháp nghệ thuật: Làm sáng tỏ vai trò cấu trúc của dự báo trong nghệ thuật xây dựng nhân vật, tổ chức không gian - thời gian nghệ thuật và phân tích đặc trưng thi pháp của ngôn ngữ dự báo (mã hóa, chiết tự, thuật ngữ chuyên ngành).
  • Về hệ thống phụ lục: Cung cấp 10 phụ lục chuyên sâu với các bảng thống kê motif văn học dân gian thế giới và Việt Nam, khảo sát truyện Nôm, các bài nghiên cứu về lên đồng, nhân vật Cao Biền dưới góc nhìn phong thủy, ma thuật bùa chú, tướng thuật và bản dịch văn bản Cảnh tinh phú.

Về kiến nghị và giải pháp: Luận án đề xuất việc giải mã các yếu tố dự báo cần được xem như một phương pháp tiếp cận văn hóa học cần thiết để nâng cao hiệu quả giảng dạy và tiếp nhận văn xuôi tự sự trung đại ở bậc phổ thông và đại học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn phạm vi đề tài, luận án tập trung khảo sát chính trên nguồn tư liệu văn xuôi tự sự chữ Hán (chủ yếu là bộ Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam), chưa khảo sát toàn diện văn vần tự sự (truyện thơ Nôm - chỉ khảo sát bước đầu ở phụ lục) và chưa so sánh liên văn bản đầy đủ với toàn bộ văn học các nước trong khu vực đồng văn Đông Á.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục mở rộng khảo sát hiện tượng dự báo trong các thể loại truyện thơ Nôm, thơ ca trữ tình trung đại; đi sâu nghiên cứu các hiện tượng đặc thù như sấm ký, đồng dao dân gian; mở rộng nghiên cứu so sánh khu vực về hiện tượng dự báo giữa văn học Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Văn học Việt Nam, Văn học trung đại, Văn học so sánh và Hán Nôm: Tham khảo khung lý thuyết liên ngành (văn hóa học, thi pháp học, diễn ngôn) và hệ thống phân loại phương thức dự báo.
  • Người nghiên cứu Văn hóa học và Tôn giáo học: Khai thác các phân tích về sự tương tác giữa tín ngưỡng bản địa, Đạo giáo phù thủy, Phật giáo và Nho giáo thời trung đại.
  • Giáo viên Ngữ văn bậc phổ thông và sinh viên sư phạm: Sử dụng để giải mã các chi tiết kỳ ảo, mộng triệu, sấm vĩ trong các tác phẩm văn xuôi tự sự chữ Hán giảng dạy trong chương trình (Truyền kỳ mạn lục, Thiền uyển tập anh, Hoàng Lê nhất thống chí).
  • Giá trị tư liệu đặc biệt: Hệ thống 10 phụ lục thống kê motif và các chuyên đề nghiên cứu sâu về phong thủy, tướng thuật, ma thuật bùa chú.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ xuất hiện của các phương thức dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam theo khảo sát của luận án là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát trên bộ Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, có 245 tác phẩm xuất hiện phương thức dự báo trên tổng số 738 tác phẩm được khảo sát, chiếm tỷ lệ 33,19%.

2. Hai hệ thống phân loại dự báo chính được luận án xây dựng là gì? Luận án phân loại dự báo theo hai tiêu chí: (1) Theo hình thức, kỹ thuật dự báo (tiên tri, tiếp xúc thế giới siêu nhiên, điềm triệu, chiêm mộng, tướng mạo, Kinh Dịch, tử vi, phong thủy, trạch cát, Thái ất, Lục nhâm, Độn giáp) và (2) Theo nội dung, chủ đề dự báo (dự báo cho cá nhân và dự báo cho cộng đồng, quốc gia).

3. Phương thức dự báo bằng "Tiên tri" và "Tiếp xúc thế giới siêu nhiên" xuất hiện với tần số bao nhiêu trong văn bản? Phương thức dự báo tiên tri xuất hiện 83 lần trong 66 tác phẩm (tiêu biểu là sấm ký của các thiền sư trong Thiền uyển tập anh). Phương thức dự báo qua tiếp xúc với thế giới siêu nhiên xuất hiện 76 lần trong 68 tác phẩm (gồm lên đồng, ốp đồng, giáng bút).

4. Yếu tố dự báo đóng vai trò gì trong tổ chức không gian và thời gian nghệ thuật của tác phẩm? Dự báo tham gia kiến tạo các không gian thiêng (đền chùa, sông nước, lăng mộ) và thời gian chuyển giao bất thường (ban đêm); vận dụng bút pháp ảo hóa - thực hóa, lặp lại - kéo dài thời gian, nới rộng không gian và phục bút nhằm phóng chiếu tương lai hoặc quy hồi quá khứ.

5. Những phương thức dự báo bản địa nào của người Việt được đề cập trong công trình? Bên cạnh các phương thức tiếp thu từ văn hóa Trung Hoa, luận án chỉ ra các hình thức dự báo đặc thù của người Việt như bói Kiều (dùng tác phẩm Truyện Kiều), tục bói gà (Việt vu), bói lá trầu và xin keo âm dương.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Trần Thị Thanh Nhị là công trình nghiên cứu chuyên biệt và có hệ thống về hiện tượng dự báo trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam. Bằng việc kết hợp phương pháp liên ngành giữa thi pháp học, văn hóa học và lý thuyết diễn ngôn, công trình đã phân loại và giải mã 245 tác phẩm chứa yếu tố dự báo trên nguồn ngữ liệu chữ Hán. Luận án làm sáng tỏ "sứ mệnh kép" của dự báo trong việc phản ánh hiện thực, đạo đức, mối quan hệ thần quyền - vương quyền, đồng thời chỉ ra vai trò tổ chức thi pháp nhân vật, không gian, thời gian và ngôn ngữ nghệ thuật. Đây là nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho nghiên cứu và giảng dạy văn học trung đại Việt Nam.