mở đầu cuộc xâm lăng đất nước ta. Việc gây hấn của Pháp thực chất là do ý đồ xâm lược các nước nhược tiểu vùng Đông Dương nói riêng và vùng Đông Nam Á nói chung của các nước Châu Âu để khai thác tài nguyên, nhân vật lực tại đây cũng như dùng các vùng này làm thị trường tiêu thụ hàng hóa của chúng. Việc cấm đạo của triều đình Huế, khởi đầu từ triều Minh Mạng (vì cho rằng: đạo phương Tây là tả đạo, làm mê hoặc lòng người và hủy hoại phong tục…) chỉ là cái cớ để thực dân Pháp thực hiện mưu đồ xâm lược ấy.2 Kinh tế Nguyên nhân của những cuộc nội loạn từ triều Minh Mạng đến triều Tự Đức, ngoài những lí do đã nêu trên còn có lí do khác không kém phần quan trọng, đó là tình trạng kinh tế nghèo nàn, lạc hậu thời bấy giờ. Xã hội Việt Nam lúc này vẫn chia ra làm tứ dân: sĩ, nông, công, thương.
Trong tứ dân, giai cấp nông dân chiếm đa số nhưng do kĩ thuật canh tác còn quá lạc hậu nên năng suất thu hoạch kém. Hơn nữa chính sách quân điền của triều Nguyễn cũng không công bằng, phần lớn ruộng đất đều lọt vào tay quan lại, phú hào. Người nông dân thiếu ruộng canh tác khiến họ phải lâm vào cảnh sống thiếu thốn, cùng khổ, lại thêm thiên tai luôn đe dọa cuộc sống. Hạn hán, bão lụt, vỡ đê, sâu bệnh phá hoại mùa màng dẫn đến mất mùa.
Người nông dân đã khổ lại càng thêm lao đao. Chỉ tính triều đại Tự Đức, người ta đã ghi nhận những vụ đói kém và mất mùa do thiên tai gây nên như sau: - Năm 1848: dân Hà Tĩnh khốn đốn vì giá gạo cao - Năm 1852: đại hạn tại Thừa Thiên - Năm 1856, 1857, 1858: bão lụt khắp Bắc kì - Năm 1859: dân Quảng Nam bị nạn đói - Năm 1860: dân Quảng Bình, Quảng Trị, Bình Định bị nạn đói - Năm 1863: mất mùa toàn quốc - Năm 1864: dân Nghệ An, Quảng Bình, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi bị nạn đói - Năm 1865: đại hạn tại Bắc kì Ngoài thiên tai, người dân còn bị bệnh dịch hoành hành mà lớn nhất là nạn dịch năm 1820 lan tràn từ Hà Tiên đến Bắc thành, giết chết 206.835 người và nạn dịch năm 1826 ở Gia Định giết chết 18. Bên cạnh nền nông nghiệp lạc hậu, luôn bị thiên tai đe dọa khiến dân tình khốn khổ, nền công thương nghiệp của nước ta cũng chẳng có gì đáng kể. Về công nghiệp, chỉ có tiểu thủ công nghiệp mang tính chất gia đình, cha truyền con nối, phụ họa cùng nông nghiệp.
Về thương nghiệp, chỉ có buôn bán nhỏ ở trong nước; ngoại thương không những không được mở rộng mà còn bị các vua nhà Nguyễn theo đuổi chính sách bế quan tỏa cảng, cấm người nước ngoài vào ra buôn bán mặc dù nước ta đã có hai trung tâm thương mại lớn là Hội An và Phố Hiến từ thế kỉ XVII.3 Xã hội Xã hội Việt Nam dưới triều Nguyễn từ Gia Long đến Tự Đức cũng vẫn là một xã hội phong kiến chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo. Cũng như các triều đại trước, các triều đại nhà Nguyễn vẫn rất trọng văn học, vẫn dùng khoa cử để kén chọn nhân tài, bổ nhiệm vào các chức vụ trong bộ máy nhà nước của mình. Vua Gia Long cho mở trường Quốc Tử giám ở Kinh đô để dạy con các quan, lập Văn miếu ở các trấn, doanh để thờ đức Khổng Tử. Năm 1807, vua lại mở thêm 6 trường thi Hương, lại đặt chức Đốc học, Giáo thụ, Huấn đạo để coi việc giáo dục ở các trấn.
Vua còn mở thêm các kì thi Hội và thi Đình để lấy Tiến sĩ, Phó bảng… Đến đời vua Tự Đức, vì vốn là vị vua hay chữ nên việc học lại càng được mở mang thêm. Vua đặt ra Nhã sĩ khoa và Cát sĩ khoa để chọn người đỗ đạt ra làm quan, lại đặt thêm Tập hiền viện và Khai kinh diên để các quan luận bàn về văn học và chính trị. Tuy nhiên, chế độ giáo dục trọng khoa bảng, trọng cử nghiệp “càng lâu càng sinh tệ: các sĩ phu chỉ biết tầm chương trích cú, đẽo gọt câu thơ, câu văn, thành ra cái thói chuộng hư văn một ngày một tệ thêm”[12,471]. Các triều đại phong kiến nước ta từ trước cho đến triều đình nhà Nguyễn cũng chỉ biết có nền văn hóa, văn minh của Trung Quốc ngoài ra chẳng biết mở mắt nhìn xa trông rộng đến các nước khác, nhất là nền văn minh của các nước phương Tây nên chẳng biết chút gì về khoa học thực dụng, về cơ khí, kĩ nghệ… Trong khi đó, trên thế giới, đến thế kỉ XIX, đã có rất nhiều đổi thay, khoa học đã tiến một bước dài, vượt xa nền văn minh Trung Quốc thì nhà cầm quyền và sĩ phu nước ta vẫn còn ngủ say trong tháp ngà của tư tưởng Nho giáo, lấy văn minh Trung Quốc làm mẫu mực để tổ chức công việc trị nước từ hành chính đến thương mại, giáo dục… Tất cả đều nhất nhất theo khuôn phép cũ mà làm.
Bàn về tình hình văn hóa – xã hội của nước ta thời kì này, sử gia Trần Trọng Kim đã đưa ra nhận định: “Những người giữ cái trách nhiệm chính trị nước mình chỉ chăm việc văn chương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốc sự thì phi Nghiêu, Thuấn lại Hạ, Thương, Chu, việc mấy nghìn năm trước cứ đem ra làm gương cho thời hiện tại rồi cứ nghễu nghện tự xưng mình là hơn người, cho thiên hạ là dã man…”[12,474]. Chính do kiến văn hạn hẹp, tri thức nông cạn, khiếm khuyết mà nhà cầm quyền nước ta thời ấy đã có những quyết định thiếu khôn khéo, cực đoan, sai lầm về nội trị cũng như ngoại giao nhất là trong việc ngoại giao với các nước phương Tây nên đã tạo ra cái cớ thuận lợi cho mưu đồ xâm lược của thực dân Pháp để chúng đặt ách đô hộ lên dân tộc ta suốt gần thế kỉ. Nhìn chung, cùng với tình hình chính trị từ nội trị đến ngoại giao như đã nói trên, nền kinh tế nghèo nàn lạc hậu đã làm cho xã hội Việt Nam trở nên rối ren, loạn lạc, dân tình khốn khổ hơn bao giờ hết.2 Cuộc đời Tùng Thiện Vương sinh ngày 24 tháng 8 năm Kỷ Mão, giờ Dậu, năm Gia Long thứ 18 tức ngày 11.1819 tại điện Thanh Hòa, cung Thái tử. Lúc sơ sinh, vua Gia Long đặt là Nghiện (có nghĩa là sắc mặt trời lúc mới mọc, nhưng vì kiêng húy nên đọc là Ngợn).
Đến năm thứ tư triều Minh Mạng nhà vua ngự chế “Đế hệ thi”, Vương được đổi tên thành Nguyễn Phước Miên Thẩm (Thẩm nghĩa là xét đoán rõ ràng). Vương là hoàng tử thứ mười của vua Minh Mạng tức đức Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế. Thân mẫu của Vương là bà Thục Tần Nguyễn Thị Bảo người làng Tân Khánh, huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định, con gái quan Tư Không Nguyễn Khắc Thiệu và phu nhân Nguyễn Thị Phú. Từ lúc sinh ra, Vương thường khóc đêm, các ngự y cho là mắc chứng “dạ đề”, các quan coi việc Khâm Thiên chấm số tử vi lại đoán là “có hung tinh chiếu mạng” tâu xin cúng sao Thái Bạch và cho đổi chỗ ở.
Thuận Thiên Hoàng hậu bèn đem cháu từ viện Đoan Trang sang cung Thọ Nguyên để mong cháu đỡ bệnh nhưng tình hình vẫn không thay đổi. Thấy vậy, bà Thục Tần không yên lòng nên tâu xin đưa con trở lại viện Đoan Trang để tự mình chăm sóc. Được mẹ ngày đêm tận tình chăm sóc, chạy chữa thuốc thang, sức khỏe ngày một khá lên. Biết đi, biết nói, ngày càng tíu tít bên mẹ.
Chiều nào mẹ cũng dẫn Vương đi dọc theo dãy hành lang từ viện này sang cung nọ, trước để chầu Thuận Thiên hoàng hậu sau để tập cho Vương dạn nắng, dạn gió. Từ bé, Vương đã tỏ ra thông minh, đĩnh ngộ hơn người. Năm bốn tuổi, Vương bắt đầu theo học Hiếu kinh với bà Học phi dạy trong nội cung. Lên năm tuổi học Tam tự kinh, Thiên tự văn.
Đến bảy tuổi bắt đầu học qua kinh, sử, truyện. Nhân Dưỡng Chánh đường vừa mới xây xong, bà tâu xin vua cho con qua Dưỡng Chánh đường ở cùng với các anh em (gồm bảy hoàng tử: Miên Thần, Miên Phú, Miên Thủ, Miên Trinh, Miên Bửu, Miên Trữ) để theo học với hai vị đại khoa là Trương Đăng Quế và Thân Văn Quyền. Trong thời gian học ở Dưỡng Chánh đường, một hôm vào chầu bà Thục Tần, Vương thấy trên cái quạt giấy để trên bàn có bài thơ Đường trong đó có nhiều chữ Vương không rõ. Vốn ham hiểu biết, Vương cố nài xin mẹ cho được.
Hôm sau Vương đem quạt giấy đến hỏi thầy Thân Văn Quyền rồi xin được học phép làm thơ. Thầy nghiêm khắc, không dạy phép làm thơ cũng không cho đọc thơ. Ngay cả bà Thị Phụng, vị nữ quan chuyên lo chăm giữ Vương, cũng kiềm chế. Những sách gì không có trong chương trình học cũng không cho đọc.
Thầy không dạy phép làm thơ, trò lại càng mong chóng biết. Vì vậy, trò càng cố công tìm hiểu. Đọc Đường thi, trò phải lén đọc và phải đọc thầm một mình trong những lúc đi dạo. May mà có em, ngài Mười Một (Tuy Lý Vương) tính cũng thích thơ nên hai anh em thường lén tìm hiểu phép tắc làm thơ rồi học làm thơ và thường ngâm vịnh riêng với nhau, khi thì thơ chữ Hán, khi thì thơ chữ Nôm, mật thiết như hai người ở trong một hội kín.
Năm Minh Mạng thứ tám (1827) Vương được vua cho đến ở tại Minh Thiện đường trước Dưỡng Chánh đường cùng với hai em là Miên Trinh (Tuy Lý Vương) và Miên Bửu (Tương An Quận Vương). Lễ tế đàn Nam Giao mùa xuân năm ấy, Vương được theo hầu vua và Vương có làm bài “Nam Giao thi”, rất được tán thưởng. Khi ấy Vương vừa tròn 9 tuổi. Năm mười bảy tuổi (Minh Mạng thứ 16 – 1835), được theo hầu Vua lên đàn Nam Giao, Vương có làm bài thơ Trai cung tùng thụ (Thông ở Trai cung) rồi lại được hộ giá Vua lên núi Ngự Bình để ứng chế thi phú.
Các bài thơ phú ứng chế có nhiều câu hay được mọi người tán thưởng, Vua ban khen, phong tước Tùng Quốc Công. Phủ của Vương ở ngang với phủ của Tuy Lý tại phường Liêm Năng trong Kinh thành, phía đông Lục bộ. Ở đây, hai ông hoàng thường hay qua lại liên ngâm, xướng họa thơ ca. Vì hai anh em xuất khẩu thành thơ nên sĩ phu đương thời gọi hai ngài là “nhị Tô” (ví hai ngài như hai anh em Tô Thức, Tô Triệt đời nhà Tống).
Cũng năm ấy, vua sắc cho ba hoàng tử được cưới thiếp.