Luận án TS. Nguyễn Xuân Sơn: Đổi mới HH ngành hàng đẩy mạnh xuất khẩu nông sản hội nhập

Luận án phân tích vai trò của hiệp hội ngành hàng trong việc đổi mới hoạt động để đẩy mạnh xuất khẩu nông sản Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Trường đại học

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Chuyên ngành

Kinh doanh Thương mại

Tác giả

Nguyễn Xuân Sơn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

166
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò hiệp hội ngành hàng trong xuất khẩu nông sản

Hiệp hội ngành hàng (HHNH) là tổ chức đại diện cho lợi ích hợp pháp của các doanh nghiệp trong cùng lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, HHNH đóng vai trò cầu nối giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Các hiệp hội thực hiện ba chức năng cốt lõi: chức năng đại diện, chức năng phản biện và giám sát xã hội, chức năng cung cấp dịch vụ. Đối với hoạt động xuất khẩu nông sản, HHNH hỗ trợ doanh nghiệp nắm bắt quy định pháp lý, tập quán thương mại quốc tế. Các hiệp hội giúp doanh nghiệp hiểu rõ quy tắc xuất xứ, truy xuất nguồn gốc, chứng nhận bảo vệ môi trường và an toàn vệ sinh thực phẩm theo yêu cầu của các hiệp định thương mại tự do (FTA). Qua đó, HHNH thúc đẩy xuất khẩu nông sản, xây dựng thương hiệu ngành hàng trên thị trường quốc tế. Nghiên cứu về đổi mới hoạt động HHNH nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ xuất khẩu nông sản là nhiệm vụ cấp thiết trong giai đoạn hiện nay.

1.1. Khái niệm và bản chất hiệp hội ngành hàng

Hiệp hội ngành hàng là tổ chức phi lợi nhuận tự nguyện, tập hợp các doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành sản xuất hoặc kinh doanh. Bản chất của HHNH là đại diện cho tiếng nói chung của cộng đồng doanh nghiệp thành viên. Các hiệp hội hoạt động dựa trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng và cùng có lợi. Tại Việt Nam, HHNH chịu sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp và các quy định pháp luật liên quan. Hiệp hội ngành hàng nông sản bao gồm các hiệp hội lúa gạo, cà phê, điều, hồ tiêu, thủy sản và nhiều nhóm hàng nông sản khác.

1.2. Bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và nông sản Việt Nam

Việt Nam đã tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, RCEP. Các FTA này mở ra cơ hội tiếp cận thị trường lớn nhưng cũng đặt ra thách thức về tiêu chuẩn chất lượng, quy tắc xuất xứ. Nông sản Việt Nam đứng trước áp lực cạnh tranh gay gắt từ Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ. Các rào cản kỹ thuật, quy định truy xuất nguồn gốc ngày càng nghiêm ngặt đòi hỏi doanh nghiệp phải nâng cao năng lực. HHNH đóng vai trò then chốt trong việc hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các rào cản thương mại này.

II. Phân tích thực trạng hoạt động hiệp hội ngành hàng nông sản

Thực tế hoạt động của các HHNH nông sản tại Việt Nam bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục. Thứ nhất, năng lực tài chính của nhiều hiệp hội còn yếu, phụ thuộc chủ yếu vào phí hội viên. Nguồn thu từ cung cấp dịch vụ chưa được khai thác hiệu quả. Thứ hai, đội ngũ nhân sự thường trực thiếu chuyên nghiệp, chưa đáp ứng yêu cầu tư vấn và hỗ trợ doanh nghiệp về thị trường quốc tế. Thứ ba, nhiều hiệp hội chưa phát huy đầy đủ vai trò đại diện trong việc phản ánh ý kiến doanh nghiệp với cơ quan quản lý nhà nước. Công tác thông tin thị trường, cảnh báo rào cản thương mại còn chậm trễ. Thứ tư, mối liên kết giữa các hiệp hội trong chuỗi giá trị nông sản còn lỏng lẻo. Sự phối hợp giữa HHNH với các cơ quan xúc tiến thương mại chưa đồng bộ. Tình trạng doanh nghiệp xuất khẩu nhỏ lẻ, thiếu liên kết dẫn đến cạnh tranh không lành mạnh, giảm sức đàm phán trên thị trường quốc tế.

2.1. Hạn chế về năng lực tổ chức và quản trị hiệp hội

Nhiều HHNH nông sản hoạt động theo mô hình truyền thống, thiếu chiến lược phát triển dài hạn. Ban lãnh đạo hiệp hội thường là doanh nghiệp lớn, chưa đại diện đầy đủ cho lợi ích của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cơ chế quản trị thiếu minh bạch, quy trình ra quyết định chưa khoa học. Nguồn nhân lực chuyên trách còn mỏng, thiếu chuyên gia am hiểu thị trường quốc tế. Hệ thống thông tin nội bộ chưa được đầu tư đúng mức. Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động hiệp hội chưa rõ ràng, thiếu cơ chế giám sát chất lượng dịch vụ cung cấp cho hội viên.

2.2. Thách thức từ yêu cầu thị trường quốc tế

Thị trường nhập khẩu nông sản ngày càng đặt ra tiêu chuẩn khắt khe hơn về chất lượng, an toàn thực phẩm và trách nhiệm môi trường. Quy định truy xuất nguồn gốc tại EU, Nhật Bản, Hàn Quốc yêu cầu hệ thống quản lý chuỗi cung ứng chặt chẽ. Rào cản kỹ thuật (TBT) và biện pháp vệ sinh dịch tễ (SPS) trở thành thách thức lớn. Doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam đa phần có quy mô nhỏ, thiếu nguồn lực để đáp ứng riêng lẻ. HHNH cần đóng vai trò tập hợp, hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng đồng bộ các tiêu chuẩn quốc tế.

III. Giải pháp đổi mới hoạt động hiệp hội ngành hàng đẩy mạnh xuất khẩu

Đổi mới hoạt động HHNH nông sản đòi hỏi tiếp cận đồng bộ trên nhiều phương diện. Về mô hình quản trị, hiệp hội cần xây dựng cơ chế quản trị hiện đại với ban lãnh đạo chuyên nghiệp, minh bạch tài chính và có chiến lược phát triển dài hạn. Về chức năng cung cấp dịch vụ, HHNH cần đa dạng hóa dịch vụ: tổ chức đoàn xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, tư vấn pháp lý, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và phát triển sản phẩm. Nguồn thu từ dịch vụ giúp hiệp hội hoạt động bền vững, giảm phụ thuộc vào phí hội viên. Về chức năng đại diện, hiệp hội phải chủ động tham gia xây dựng chính sách, phản biện pháp luật liên quan đến xuất khẩu nông sản. HHNH cần tăng cường hợp tác quốc tế, tham gia mạng lưới hiệp hội khu vực và toàn cầu. Ứng dụng công nghệ số trong quản lý thông tin hội viên, kết nối thị trường và cảnh báo rào cản thương mại là giải pháp cấp thiết. Nhà nước cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hỗ trợ kinh phí và cơ chế hợp tác giao nhiệm vụ cho HHNH.

3.1. Đổi mới mô hình quản trị và nâng cao năng lực tổ chức

Hiệp hội ngành hàng cần áp dụng mô hình quản trị hiện đại với tiêu chí rõ ràng. Ban lãnh đạo phải đảm bảo thực hiện tốt vai trò định hướng chiến lược. Cơ chế bầu cử cần mở rộng sự tham gia của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Hiệp hội cần xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên trách có trình độ chuyên môn cao, am hiểu thị trường quốc tế. Hệ thống quản lý thông tin hiện đại giúp theo dõi biến động thị trường, cập nhật quy định pháp lý kịp thời. Các hiệp hội lớn nên thành lập ban chuyên trách về xuất khẩu nông sản với nguồn lực riêng.

3.2. Tăng cường hợp tác và phát triển dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu

HHNH cần thiết lập mạng lưới hợp tác với cơ quan xúc tiến thương mại, thương vụ Việt Nam tại nước ngoài. Hiệp hội chủ động tổ chức hội chợ, triển lãm quốc tế để quảng bá thương hiệu nông sản. Dịch vụ tư vấn pháp lý giúp doanh nghiệp hiểu rõ quy định thị trường nhập khẩu. HHNH hỗ trợ xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc, chứng nhận chất lượng cho nông sản xuất khẩu. Phát triển nền tảng số kết nối cung cầu, chia sẻ thông tin thị trường giữa các hội viên. Hợp tác với tổ chức quốc tế để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hàng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn đổi mới hiệp hội ngành hàng

Nghiên cứu khẳng định đổi mới hoạt động HHNH là giải pháp chiến lược nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản trong bối cảnh hội nhập. HHNH phát huy tốt vai trò khi được tổ chức bài bản, có năng lực tài chính và nhân sự phù hợp. Ba chức năng cốt lõi - đại diện, phản biện, cung cấp dịch vụ - cần được đổi mới toàn diện. Hiệp hội phải chuyển từ mô hình hoạt động thụ động sang chủ động, lấy doanh nghiệp làm trung tâm. Ứng dụng công nghệ số là công cụ then chốt nâng cao hiệu quả hoạt động. Về phía cơ quan quản lý nhà nước, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động HHNH. Chính phủ và các bộ ngành nên có cơ chế giao nhiệm vụ, hỗ trợ kinh phí và chính sách ưu đãi. Mô hình hợp tác công tư trong xúc tiến xuất khẩu nông sản cần được nhân rộng. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đối với các hiệp hội nông sản Việt Nam trong quá trình tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả hoạt động.

4.1. Hàm ý chính sách cho cơ quan quản lý nhà nước

Chính phủ cần ban hành nghị định riêng về tổ chức và hoạt động HHNH, quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm. Cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ cho hiệp hội trong xúc tiến thương mại cần được cụ thể hóa. Ngân sách nhà nước nên hỗ trợ một phần chi phí cho hoạt động thông tin thị trường, đào tạo nhân lực hiệp hội. Các bộ ngành cần thiết lập kênh tham vấn chính sách thường xuyên với HHNH. Quy trình cấp phép, chứng nhận xuất khẩu nông sản nên có sự tham gia của hiệp hội để đảm bảo tính thực tiễn.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng cho hiệp hội ngành hàng

HHNH nông sản cần xây dựng chiến lược phát triển trung hạn 5 năm với mục tiêu cụ thể. Hiệp hội nên thành lập trung tâm thông tin thị trường chuyên trách, cung cấp dữ liệu cập nhật cho hội viên. Mô hình liên kết hiệp hội theo chuỗi giá trị nông sản cần được thí điểm. HHNH lớn nên đóng vai trò hạt nhân, hỗ trợ hiệp hội nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn trong phân tích thị trường xuất khẩu. Xây dựng hệ thống đánh giá hiệu quả hoạt động hiệp hội định kỳ.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ đổi mới hoạt động của các hiệp hội ngành hàng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu nông sản trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC VÀ NGOÀI NƯỚC LIÊN QUAN TỚI ĐỀ TÀI 1. Những công trình nghiên cứu trong nước có liên quan tới đề tài 1. Những nghiên cứu có liên quan đến hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng TS.

Nghiên cứu được thực hiện tại 42 HHDN có phạm vi hoạt động trong cả nước hoặc liên tỉnh (điều tra trực tiếp 04 HHDN2 và bằng Phiếu khảo sát tại 38 HHDN3). Báo cáo nghiên cứu đã phản ánh toàn diện thực trạng hoạt động, đánh giá tình hình thực hiện các chức năng của các HHDN về các mặt (i) Đại diện cho các doanh nghiệp thành viên trong mối quan hệ với các cơ quan quản lý nhà nước; (ii) Cung cấp thông tin, dịch vụ hỗ trợ hoạt động sản xuất, kinh doanh; (iii) Thực hiện các chức năng xã hội có liên quan tới lĩnh vực kinh doanh của các thành viên như tham gia xây dựng, tư vấn, phản biện và giám sát thực hiện chính sách; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp thương mại; thúc đẩy hợp tác quốc tế; và thực hiện các nhiệm vụ được Chính phủ giao… Trên cơ sở đánh giá thực trạng, Báo cáo đã đề xuất những giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của các HHDN, bao gồm (i) Hoàn thiện khuôn khổ pháp luật (xây dựng Luật về hội, ban hành Nghị định về hiệp hội doanh nghiệp); (ii) Chính sách hỗ trợ HHDN như cấp đất để các HHDN xây trụ sở, văn phòng (hoặc nhà nước cấp trụ sở cho các HHDN); Chính phủ giao các hoạt động, nhiệm vụ phù hợp cho các HHDN và có chính sách hỗ trợ kinh phí; Nhà nước giảm can thiệp vào hoạt động của các HHDN; (iii) Tăng cường năng lực của các HHDN trên các mặt tổ chức nhân sự, định hướng hoạt động, tạo nguồn thu tài chính ổn định cho các HHDN. Nguyễn Minh Phong, ThS. Nguyễn Trần Minh Trí (2016), “Hiệp hội doanh nghiệp với việc vận động chính sách vì mục tiêu phát triển bền vững” [22].

Nghiên cứu chỉ ra rằng các hiệp hội doanh nghiệp là chỗ dựa và là “hơi thở” của cộng đồng doanh nghiệp, giúp các doanh nghiệp – hội viên hoạt động 2 Hiệp hội BĐS Việt Nam, Hiệp hội các nhà sản xuất xe máy Việt Nam, Hiệp hội cá Tra Việt Nam, Hiệp hội cá ngừ Việt Nam. 3 Kết quả điều tra đã thu về 202 Phiếu khảo sát từ các HHDN (Mẫu phiếu D) và 824 Phiếu khảo sát từ các doanh nghiệp thành viên (Mẫu phiếu E). 10 chủ động, tự tin và hiệu quả trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh và theo đuổi các mục tiêu của mỗi doanh nghiệp trong sự hài hòa với các lợi ích khác. Nhằm nâng cao nhận thức về phát triển bền vững trong chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, HHDN giới thiệu các thực tiễn tốt về phát triển bền vững trên thế giới tới các doanh nghiệp thành viên và cần khuyến khích, hỗ trợ doanh nghiệp học tập để áp dụng, qua đó góp phần gắn kết mục tiêu phát triển bền vững trong hoạt động kinh doanh, tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp với môi trường và xã hội.

Vũ Công Giao, ThS. Lê Thị Thúy Hương (2016), “Hội và tự do hiệp hội ở Việt Nam: lịch sử phát triển và khung pháp lý” [8]. Nghiên cứu chỉ ra cho thấy quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về hội có những thay đổi theo hướng coi trọng, cởi mở hơn. Mặc dù vậy, tâm lý e ngại sự phát triển của các hội vẫn còn nặng nề, gây trở ngại cho những nỗ lực cải cách chính sách và pháp luật về hội.

Mặc dù có cấu trúc khá toàn diện, khung pháp lý hiện hành của Việt Nam vẫn còn nhiều quy định bất hợp lý, khắt khe, gây khó khăn cho việc thành lập và hoạt động của các hội. Trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc sửa đổi khung pháp lý nhằm đổi mới hoạt động của hội là yêu cầu tất yếu và cấp thiết đối với Việt Nam. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2015),“Báo cáo thực tiễn tốt và bộ công cụ đánh giá năng lực hoạt động của hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam” [24]. Nghiên cứu tiến hành khảo sát tại 16 HHDN trong phạm vi cả nước; đánh giá về thực trạng năng lực hoạt động trong thực hiện các chức năng chính của HH, bao gồm: Những chức năng chính của HHDN, bao gồm: (i) Đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên; (ii) Tư vấn, phản biện về kinh tế - luật pháp thuộc lĩnh vực hoạt động; (iii) Là cầu nối giữa các hội viên với các cơ quan hữu quan nhằm giải quyết các vấn đề có liên quan trong khuôn khổ pháp luật; và (iv) Hỗ trợ hội viên mở rộng và phát triển sản xuất - kinh doanh.

Trên cơ sở đó, Báo cáo hướng dẫn áp dụng Bộ công cụ đánh giá năng lực hoạt động của HHDN do VCCI phát triển trong hoạt động quản trị của HHDN. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2013), “Báo cáo thực trạng năng lực hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam” [25]. Nghiên cứu thực hiện trên mẫu 78 hiệp hội doanh nghiệp (28 hiệp hội ngành hàng cấp quốc gia và 50 hiệp hội đa ngành cấp tỉnh) về 02 nội dung “Thực 11 trạng năng lực hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp Việt Nam” và “Chỉ số đánh giá năng lực của các hiệp hội doanh nghiệp”. Nội dung nghiên cứu khá toàn diện, cách tiếp cận hiện đại, khoa học, phản ánh được những nét cơ bản về thực trạng năng lực của các hiệp hội doanh nghiệp về cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, cơ cấu bộ máy và những hoạt động chính của hiệp hội.

Bộ chỉ số đánh giá năng lực được thiết kế với 05 tiêu chí: (i) Năng lực quản trị và định hướng phát triển; (ii) Năng lực tài chính và cơ sở vật chất; (iii) Năng lực phục vụ hội viên; (iv) Năng lực vận động chính sách; (v) Năng lực xây dựng và phát triển cộng đồng doanh nghiệp. Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra 4 cấp độ xếp hạng năng lực là cấp độ 1 (sơ khai), cấp độ 2 (cơ bản), cấp độ 3 (đáp ứng khá), cấp độ 4 (đáp ứng cao). Nguyễn Hữu Phúc (2009), “Báo cáo kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động các hiệp hội Ong, Dâu -Tằm, Hồ tiêu” [27]. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá năng lực hoạt động của các hiệp hội nông nghiệp tại tỉnh Quảng Bình trong xây dựng các “Chuỗi giá trị sản phẩm”.

Báo cáo nghiên cứu đã đưa ra một số kết quả hoạt động (i) Các hiệp hội đã ổn định tổ chức bộ máy ổn định và hoạt động khá hiệu quả. (ii) Ban quản lý hiệp hội đã thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, thích ứng với cơ chế thị trường, gắn bó quyền lợi, trách nhiệm của hiệp hội với các thành viên; (iii) Các hiệp hội đã có ảnh hưởng tích cực tới việc hình thành các chuổi giá trị (Cung ứng đầu vào - Sản xuất - Tiêu thụ sản phẩm) là cơ sở cho hiệp hội tồn tại và phát triển bền vững; (iv) Thông qua các hoạt động cung cấp dịch vụ của mình, các hiệp hội đã hỗ trợ các hội viên ngày càng phát triển và gắn bó với hiệp hội. Về mặt tồn tại hạn chế: (i) Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng các hiệp hội vẫn còn thụ động, trông chờ từ bên ngoài, chưa khai thác nội lực, chưa phát huy được vai trò độc lập của Hiệp hội; (ii) Mối quan hệ giữa hiệp hội và chính quyền địa phương nhiều khi còn bị động, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động của hiệp hội; (iii) Năng lực của ban quản lý hiệp hội còn hạn chế, chủ yếu làm theo nhiệt tình và kinh nghiệm; (iv) Nguồn kinh phí thiếu tính bền vững (chưa thu được phí từ hội viên, từ việc cung cấp các dịch vụ). Nghiên cứu đã phân tích tính tất yếu khách quan của sự ra đời, phát triển HHNH trong nền kinh tế thị trường và một số kinh nghiệm quốc tế về phát triển HHNH của Nhật Bản, Thái 12 Lan.

Nghiên cứu đã đề cập hệ thống chính sách, khuôn khổ pháp lý và phản ánh thực trạng hoạt động của HHNH ở Việt Nam hiện nay, một số kết quả đạt được và những tồn tại, hạn chế. Trên cơ sở đó, Báo cáo đã đề xuất những giải pháp phát triển HHNH Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Nghiên cứu đưa ra Nhóm giải pháp chung gồm (i) Nâng cao tính đại diện của HHNH; (ii) Đổi mới tư duy, xây dựng chiến lược của HHNH; (iii) Hoàn thiện cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động; (iv) Nâng cao số lượng và chất lượng của cán bộ HHNH; (v) Nâng cao năng lực tài chính; (vi) Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ của HHNH. Nhóm giải pháp cụ thể gồm có (i) Phát triển hoạt động cầu nối giữa Nhà nước và doanh nghiệp; (ii) Phát triển hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp trong hội nhập; (iii) Phát triển hoạt động xúc tiến thương mại; (iv) Phát triển hoạt động nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành; (vi) Phát triển hoạt động quảng bá thương hiệu.

Báo cáo cũng đưa ra 03 nhóm kiến nghị đối với Nhà nước, đối với các bộ, ngành và địa phương; và đối với doanh nghiệp. Hàn Mạnh Tiến (2005) “Những vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp trong bối cảnh hiện nay” [30]. Nghiên cứu được triển khai trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh tiến trình xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Kết quả nghiên cứu đã kết luận một số vấn đề lý luận cơ bản về bản chất, vị trí, vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng hoạt động của các hiệp hội doanh nghiệp ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp, kiến nghị theo hướng nâng cao tính độc lập của Hiệp hội trong tổ chức, nhân sự, quản trị và hoạt động nhằm tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp thành viên trong cạnh tranh theo quy luật kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Những nghiên cứu liên quan đến hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành hàng đối với sản khẩu và xuất khẩu nông sản Mai Xuân Đào (2021), “Mối quan hệ giữa hỗ trợ xuất khẩu của chính phủ, nhận thức động cơ xuất khẩu, nhận thức rào cản xuất khẩu và kết quả hoạt động xuất khẩu nông sản của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam sang thị trường Asean+3” [7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ