Luận án tiến sĩ Giá trị kinh tế rừng bần - Nguyễn Văn Hòa, ĐH Cần Thơ 2021

Luận án tiến sĩ phân tích giá trị kinh tế của rừng bần tại Đồng bằng sông Cửu Long. Nghiên cứu phương pháp đánh giá tác động đến sinh kế người dân vùng ngập

Trường đại học

Trường Đại học Cần Thơ

Chuyên ngành

Kinh tế nông nghiệp

Tác giả

Nguyễn Văn Hòa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

193
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về đánh giá giá trị kinh tế sản phẩm rừng bần

Cây bần chua có tên khoa học là Sonneratia caseolaris L., thuộc họ Sonneratiaceae. Loài cây này mọc tự nhiên và được trồng rộng rãi ven sông, cửa biển, trên các bãi bồi. Rừng bần là thành phần quan trọng của hệ sinh thái ngập mặn ven biển Việt Nam. Cây có chiều cao lớn, hệ thống rễ phát triển mạnh. Rễ bần giúp chắn sóng, chống xói mòn và gió hiệu quả. Đồng bằng sông Cửu Long sở hữu diện tích rừng bần đáng kể. Gần 3.741 hộ dân được giao khoán quản lý rừng. Địa bàn nghiên cứu tập trung tại ba huyện thuộc hai tỉnh Sóc Trăng và Trà Vinh. Nghiên cứu áp dụng ba cách tiếp cận đánh giá chính. Đó là đánh giá tổng thể, đánh giá từng phần và đánh giá phân tích tác động. Các phương pháp được phân thành bốn nhóm. Bao gồm thị trường thực, thị trường thay thế, thị trường giả định và phân tích chi phí-lợi ích mở rộng. Quy trình đánh giá mang tính liên ngành. Kết quả cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý và phát triển bền vững rừng bần.

1.1. Đặc điểm sinh thái và phân bố rừng bần tại ĐBSCL

Cây bần chua phân bố rộng rãi tại vùng ven biển đồng bằng sông Cửu Long. Loài cây này sinh trưởng tốt trên đất phù sa ngập mặn. Rừng bần tập trung nhiều tại các huyện Long Phú, Trần Đề, Cù Lao Dung thuộc tỉnh Sóc Trăng. Tại tỉnh Trà Vinh, rừng bần phân bố dọc theo các nhánh sông lớn. Hệ thống rễ bần phát triển tạo mạng lưới dày đặc. Mạng lưới này giúp ổn định bờ sông, giảm xói lở hiệu quả. Rừng bần cung cấp môi trường sống cho nhiều loài thủy sản. Các loài tôm, cua, cá, ốc tìm nơi sinh sản và kiếm ăn trong rừng bần. Giá trị sinh thái của rừng bần rất cao, bảo vệ đa dạng sinh học vùng ven biển.

1.2. Cách tiếp cận đánh giá giá trị kinh tế rừng bần

Nghiên cứu áp dụng ba cách tiếp cận đánh giá giá trị kinh tế sản phẩm rừng bần. Cách tiếp cận tổng thể xem xét toàn bộ giá trị rừng bần. Cách tiếp cận từng phần đánh giá từng nhóm giá trị riêng biệt. Cách tiếp cận phân tích tác động đánh giá ảnh hưởng đến đời sống người dân. Các phương pháp đánh giá được phân thành bốn nhóm lớn. Nhóm dựa trên thị trường thực sử dụng dữ liệu giá cả thực tế. Nhóm dựa trên thị trường thay thế dùng giá trị proxy. Nhóm dựa trên thị trường giả định áp dụng kỹ thuật định giá có điều kiện. Nhóm phân tích chi phí-lợi ích mở rộng cân nhắc yếu tố phi thị trường. Sự kết hợp nhiều phương pháp đảm bảo đánh giá toàn diện và chính xác.

II. Phân tích giá trị kinh tế các sản phẩm từ rừng bần

Sản phẩm rừng bần mang lại giá trị kinh tế đa dạng cho cộng đồng địa phương. Giá trị kinh tế trực tiếp bao gồm khai thác trái bần và các sản phẩm lâm sản phụ. Mùa bần chín thường vào tháng 5, tháng 6, tháng 11 và tháng 12 dương lịch. Người dân thu hoạch trái bần để nấu ăn và làm mồi câu cá. Các loại cá bông lau, cá ngác, cá tra bần được câu bằng trái bần chín. Nếu có kế hoạch thu mua, mỗi hộ gia đình ven bãi bồi có thêm thu nhập hàng trăm ngàn đồng mỗi ngày. Người dân bán trái bần với giá 8.000 đồng/kg. Bình quân một người lượm khoảng 50kg trong hai đến ba giờ. Cơ sở Ngọc Hồng chuyên sản xuất nước cốt bần từ trái bần chín. Sản phẩm này tạo điều kiện tăng thu nhập cho người dân. Ngoài ra, mật ong rừng bần là sản phẩm giá trị cao. Các loại thủy sản như ốc len, dộp, đồm độp, tôm, cá kèo, cá bống sao cũng đóng góp thu nhập đáng kể.

2.1. Giá trị kinh tế trực tiếp từ khai thác sản phẩm rừng bần

Khai thác trái bần chín là nguồn thu nhập quan trọng cho người dân địa phương. Cây bần mọc tự nhiên, không cần đầu tư cây giống hay phân bón. Chi phí sản xuất gần như bằng không. Người dân chỉ cần bỏ công sức thu hoạch đem về bán. Giá bán trái bần tại địa phương ổn định ở mức 8.000 đồng/kg. Cơ sở chế biến nước cốt bần hoạt động tạo đầu ra ổn định. Mật ong rừng bần là sản phẩm có giá trị kinh tế cao. Ong lấy mật từ hoa bần tạo ra sản phẩm tự nhiên chất lượng. Các loại thủy sản đánh bắt trong rừng bần cũng đóng góp nguồn thu nhập đáng kể cho cộng đồng.

2.2. Giá trị kinh tế gián tiếp và dịch vụ hệ sinh thái rừng bần

Rừng bần cung cấp dịch vụ hệ sinh thái có giá trị lớn cho vùng ven biển. Chức năng bảo vệ bờ biển giúp giảm thiệt hại do thiên tai gây ra. Sóng gió bị rừng bần chắn lại, giảm xói lở bờ sông hiệu quả. Hệ thống rễ bần lọc nước, cải thiện chất lượng môi trường sống. Rừng bần hấp thụ carbon dioxide, góp phần giảm biến đổi khí hậu. Giá trị đa dạng sinh học trong rừng bần rất cao. Nhiều loài động vật và thực vật tìm thấy môi trường sống tại đây. Dịch vụ du lịch sinh thái là tiềm năng lớn chưa được khai thác. Cảnh quan rừng bần hấp dẫn khách du lịch nội địa và quốc tế.

III. Phương pháp đánh giá giá trị kinh tế rừng bần tại ĐBSCL

Phương pháp đánh giá giá trị kinh tế rừng bần đòi hỏi sự kết hợp nhiều kỹ thuật nghiên cứu. Phương pháp dựa trên thị trường thực áp dụng cho sản phẩm có giao dịch thương mại. Giá trị trái bần, thủy sản, mật ong được xác định qua giá thị trường địa phương. Phương pháp dựa trên thị trường thay thế sử dụng khi không có dữ liệu giá thực tế. Giá trị proxy được tính toán từ sản phẩm tương tự trên thị trường. Phương pháp định giá có điều kiện áp dụng cho giá trị phi thị trường. Người dân được hỏi mức sẵn sàng chi trả cho dịch vụ hệ sinh thái. Phân tích chi phí-lợi ích mở rộng đánh giá toàn diện giá trị rừng bần. Phương pháp này cân nhắc cả giá trị thị trường và phi thị trường. Phân tích tác động đa dạng hóa thu nhập là phần quan trọng của nghiên cứu. Nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ gia đình được xác định. Tiếp cận nguồn vốn nông nghiệp tác động đến đa dạng hóa thu nhập. Tiếp cận thị trường quyết định khả năng bán sản phẩm nông nghiệp. Vốn xã hội và di cư cũng ảnh hưởng tích cực đến thu nhập hộ gia đình.

3.1. Bốn nhóm phương pháp đánh giá giá trị kinh tế sản phẩm rừng bần

Bốn nhóm phương pháp đánh giá được áp dụng linh hoạt trong nghiên cứu. Phương pháp thị trường thực phù hợp sản phẩm thương mại trực tiếp. Giá cả và sản lượng được thu thập từ thị trường địa phương. Phương pháp thị trường thay thế áp dụng khi thiếu dữ liệu giá thực tế. Giá trị dịch vụ hệ sinh thái được ước tính qua giá trị proxy. Phương pháp định giá có điều kiện đo lường thái độ sẵn sàng chi trả của người dân. Kỹ thuật này sử dụng khảo sát hỏi trực tiếp người sử dụng rừng bần. Phân tích chi phí-lợi ích mở rộng là phương pháp toàn diện nhất. Phương pháp này tích hợp tất cả giá trị kinh tế, xã hội và môi trường.

3.2. Phân tích tác động đa dạng hóa thu nhập hộ gia đình

Đa dạng hóa thu nhập là chiến lược quan trọng của hộ gia đình ven rừng bần. Nghiên cứu phân tích tác động của nhiều yếu tố đến mức thu nhập. Tiếp cận nguồn vốn nông nghiệp có tác động tiêu cực đến đa dạng hóa thu nhập. Hộ có khả năng tiếp cận máy cày, động vật làm đất thường ít đa dạng hóa thu nhập. Họ tập trung vào sản xuất nông nghiệp nhiều hơn. Tiếp cận thị trường tác động tích cực đến đa dạng hóa thu nhập. Nông dân bán sản phẩm dễ dàng hơn, có cơ hội thị trường tốt hơn. Vốn xã hội và di cư cũng tác động tích cực. Tiền gửi từ người di cư bổ sung nguồn thu nhập quan trọng cho hộ gia đình.

IV. Ứng dụng và phát triển bền vững rừng bần tại ĐBSCL

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về giá trị kinh tế sản phẩm rừng bần. Giá trị kinh tế trực tiếp từ sản phẩm rừng bần rất đáng kể. Người dân có thể tăng thu nhập từ khai thác bền vững tài nguyên rừng bần. Nước cốt bần, mật ong, thủy sản là những sản phẩm chủ lực. Giá trị kinh tế gián tiếp từ dịch vụ hệ sinh thái rất lớn. Bảo vệ bờ biển, chắn sóng, giảm thiên tai có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Phát triển du lịch sinh thái là hướng đi tiềm năng cho vùng ĐBSCL. Rừng bần có giá trị sinh thái và đa dạng sinh học cao. Đây là điểm đến hấp dẫn cho du khách nội địa và quốc tế. Tuy nhiên, cơ sở hạ tầng du lịch hiện còn hạn chế. Cần đầu tư phát triển hạ tầng giao thông và dịch vụ du lịch. Tuyên truyền quảng bá giá trị du lịch sinh thái rừng bần đến du khách. Quản lý bền vững rừng bần cần sự phối hợp giữa nhiều bên liên quan. Kết hợp hài hòa giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển kinh tế địa phương.

4.1. Hàm ý chính sách và khuyến nghị phát triển rừng bần

Chính sách giao khoán rừng bần cho cộng đồng địa phương cần được nhân rộng. Mô hình này tạo động lực bảo vệ rừng mạnh mẽ cho người dân. Cơ chế hỗ trợ vốn nông nghiệp giúp hộ nghèo tiếp cận nguồn lực sản xuất. Đào tạo kỹ thuật chế biến sản phẩm từ trái bần nâng cao giá trị gia tăng. Xây dựng thương hiệu sản phẩm rừng bần đặc trưng địa phương. Phát triển chuỗi giá trị từ khai thác đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Hỗ trợ tiếp cận thị trường cho sản phẩm rừng bần. Tăng cường hợp tác giữa chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư. Bảo vệ quyền lợi cộng đồng địa phương trong khai thác tài nguyên rừng bần.

4.2. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái rừng bần

Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái rừng bần tại ĐBSCL rất lớn. Cảnh quan thiên nhiên hoang sơ hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Hoạt động tham quan rừng ngập mặn, câu cá, thu hoạch trái bần được du khách ưa chuộng. Du lịch cộng đồng giúp người dân địa phương có thêm nguồn thu nhập mới. Cơ sở hạ tầng đi lại và du lịch cần được đầu tư nâng cấp. Xây dựng tuyến du lịch sinh thái kết hợp văn hóa bản địa. Đào tạo hướng dẫn viên du lịch cộng đồng chuyên nghiệp. Phát triển sản phẩm lưu niệm từ rừng bần phục vụ du khách. Quảng bá hình ảnh rừng bần trên các kênh truyền thông trong nước và quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ đánh giá giá trị kinh tế của sản phẩm rừng bần tại đồng bằng sông cửu long

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Tổng quan tài liệu Chương 3: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 8 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các nghiên cứu về giá trị kinh tế của rừng ngập mặn Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây đã phân tích, đánh giá các khía cạnh khác nhau về tổng giá trị kinh tế của RNM, bao gồm hai nhóm giá trị cơ bản, đó là: giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng. Nguồn: Turner, năm 2003 Hình 2. Tổng giá trị kinh tế của RNM Giá trị kinh tế của RNM được Turner (2003) phân thành giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng, cụ thể như sau: ♦ Giá trị sử dụng: Là những hàng hóa và dịch vụ sinh thái mà RNM cung cấp cho con người và các hệ thống kinh tế, được phân thành 3 nhóm: (1) Giá trị sử dụng trực tiếp, (2) Giá trị sử dụng gián tiếp, (3) Giá trị lựa chọn.

Các giá trị được định nghĩa như sau: 9 (1) Giá trị sử dụng trực tiếp: Bao gồm những hàng hóa dịch vụ do giá trị kinh tế mà RNM mang lại và có thể sử dụng trực tiếp như: gỗ, củi, thủy sản, mật ong hay giá trị du lịch, giải trí. (2) Giá trị sử dụng gián tiếp: Là những giá trị, lợi ích từ những dịch vụ do hệ sinh thái RNM mang lại và các chức năng sinh thái như: tuần hoàn dinh dưỡng, hấp thụ cacbon, điều hòa khí hậu. (3) Giá trị lựa chọn: Mang bản chất của những giá trị sử dụng trực tiếp hoặc giá trị sử dụng gián tiếp của RNM. Mặc dù, giá trị lựa chọn có thể sử dụng ở hiện tại nhưng chưa được sử dụng vì một lý do nào đó mà để lại sử dụng trong tương lai.

Ví dụ: Giá trị tạo cảnh quan, làm dược liệu. ♦ Giá trị phi sử dụng: Là những giá trị bản chất, nội tại của RNM và được phân thành giá trị tồn tại và giá trị lưu truyền, được định nghĩa như sau: (1) Giá trị tồn tại của RNM: Là giá trị nằm trong nhận thức, cảm nhận và sự thỏa mãn của cá nhân khi biết được các thuộc tính của RNM đang tồn tại ở một trạng thái nào đó và thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để có được trạng thái đó. (2) Giá trị lưu truyền: Là sự thỏa mãn nằm trong cảm nhận của cá nhân khi biết rằng tài nguyên được lưu truyền và hưởng thụ bởi các thế hệ tương lai. Giá trị này cũng thường được đo bằng sự sẵn sàng chi trả của cá nhân để bảo tồn tài nguyên cho các thế hệ sau này.

Khi đánh giá giá trị kinh tế RNM, phần lớn các nhà nghiên cứu trước đây thừng thực hiện theo hai hướng chính là: (1) Sử dụng tài liệu thứ cấp, tài liệu sơ cấp, dựa trên ý kiến thảo luận các chuyên gia; (2) Thông qua kết quả khảo sát địa bàn, phỏng vấn các đối tượng có liên quan, và thường được áp dụng bằng bộ câu hỏi điều tra để xác định, phân tích các giá trị kinh tế. Các giá trị trực tiếp Theo Mai Trọng Nhuận và cộng sự (2000) cho rằng, giá trị kinh tế của 10 RNM tại vùng cửa sông Cửu Long có thể ước tính là 3.100 USD/ha/năm, gồm giá trị từ nguồn gỗ, củi… và giá trị gián tiếp là 3. Sản lượng tính toán theo lý thuyết phù hợp một cách hợp lý với số liệu về sản lượng đánh bắt và điều này có nghĩa là 1 ha diện tích RNM mang lại gần 700 kg sản lượng hải sản đánh bắt. Theo Dự án: “Định giá Kinh tế RNM Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh” (2000), giá trị trực tiếp của RNM hiện nay bao gồm: gỗ, củi, than, thủy sản, các loại lâm sản, thực phẩm, dược liệu, sinh vật hoang dã (Dơi, khỉ, rắn…), các loài nhuyễn thể, giáp sát (Sò huyết, dộp, nghêu, cua, tôm…).

Nghiên cứu rừng bần chua khu vực ven cửa biển tại ĐBSCL, Ngô Đình Quế và Võ Đại Hải (2012) nhận định rằng, nguồn lợi thủy sản của rừng Bần chua phong phú và dồi dào. Thủy hải sản vùng cửa sông ở Sóc Trăng có nhiều loài khác nhau và chúng xuất hiện theo mùa. Các sản phẩm bao gồm các loài cá như: cá Ngác, cá Quát, cá Bống sao, cua giống, cá Kèo, Nghêu, Sò huyết,… Cách thức đánh bắt cũng đa dạng, phù hợp cho từng giới và từng lứa tuổi. Đàn ông thì đánh bắt cá, phụ nữ và trẻ em bắt cua giống, cá Kèo, Nghêu, Sò huyết,… Nguồn lợi thủy sản mang lại thu nhập chính cho các hộ gia đình ở những vùng ven biển.

Đai rừng Bần chua phòng hộ góp phần tạo nên kinh tế sinh thái thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản ở vùng đệm. Rừng bần có vai trò như một máy lọc nước khổng lồ, góp phần làm sạch nước trước khi bơm vào ao nuôi và làm lắng đọng các chất thải từ ao nuôi xả ra. ♦ Giá trị trực tiếp tạo thu nhập của RNM Nghiên cứu của Uỷ ban Phát triển Quốc tế (Vương quốc Anh), việc tạo thu nhập hộ dân bao gồm 3 thành tố chính: Nguồn lực, khả năng vốn có của con người và thu nhập là những giá trị thay đổi có lợi cho cộng đồng. Chính nhờ các chiến lược kinh tế hợp lý nên thu nhập của người dân được nâng lên, đời sống văn hoá, tinh thần, cuộc sống được cải thiện, ổn định hơn và giảm rủi ro, an ninh lương thực quốc gia được đảm bảo và sử dụng bền vững hơn nguồn tài nguyên thiên nhiên 11 được sử dụng một cách bền vững hơn.

Việc xem xét và đánh giá tác động của RNM ở Việt Nam để tạo ra thu nhập bền vững cho người dân vùng RNM là một việc làm hết sức quan trọng và cần thiết, không chỉ có ý nghĩa để đánh giá hiệu quả trước mắt mà còn để rút ra những bài học trong việc tạo ra những thu nhập ổn định, bền vững cho các hộ dân sống ven RNM. Nghiên cứu về tạo thu nhập cho các hộ dân có nhiều hướng tiếp cận khác nhau, một số công trình nghiên cứu tiêu biểu trong và ngoài nước trước đây nghiên cứu về tạo thu nhập cho các hộ dân như: Nghiên cứu của Ellis (2000) về đa dạng hóa tạo thu nhập, nghiên cứu dựa trên phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững. Nghiên cứu sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững với 05 nguồn vốn cơ bản là vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn con người, vốn vật chất và vốn tài chính. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng vốn con người là minh chứng rõ nhất, như là chìa khóa của sự đa dạng hóa sinh kế thành công.

Nghiên cứu cũng đưa ra chính sách mà Chính phủ cần quan tâm như: cung cấp các dịch vụ về y tế, giáo dục và các kỹ năng phù hợp và có chất lượng tại khu vực nông thôn để tăng thu nhập cho các hộ dân.n Ellis (2000) khẳng định, các yếu tố tác động đến đa dạng hóa thu nhập như một hiện tượng đặc trưng cho chiến lược tồn tại hộ gia đình nông thôn nghèo tại các quốc gia đang phát triển, và cho rằng đa dạng hóa sinh kế là một vấn đề quan trọng cho các chính sách dài hạn liên quan đến công tác xóa đói giảm nghèo ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp. Lợi ích của việc đa dạng hóa là một chiến lược để quản lý thời vụ, rủi ro và sự thất bại của thị trường; Ellis (2000) khẳng định các yếu tố quyết định của sự đa dạng hóa thu nhập như: Mùa vụ, rủi ro, thị trường lao động, thị trường tín dụng, chiến lược tài sản, hành vi ứng phó và thích ứng. Trong đó, mùa vụ có tác động đến động cơ đa dạng hoá thu nhập, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp. Lipton và Ravallion (1995) cho rằng do các rủi ro và thất bại thị trường phổ biến trong nền kinh tế nông thôn ở các nước đang phát triển có thu nhập thấp, các 12 hộ gia đình luôn gặp khó khăn trong chi tiêu sinh hoạt hằng ngày do bởi sinh kế, sinh tồn của người dân không được đảm bảo.

Bên cạnh đó, các rủi ro luôn gắn liền với các nguồn thu nhập không đồng đều. Vì lý do này, một động lực quan trọng đối với sự đa dạng hóa thu nhập gắn với mùa vụ là để làm giảm biến đổi thu nhập theo mùa. Điều này đòi hỏi thu nhập các chu kỳ theo mùa trong các cơ hội tạo thu nhập không được đồng bộ với các mùa riêng của nông nghiệp. Việc lựa chọn là di cư theo mùa tới các vùng nông nghiệp khác hoặc tham gia làm nghề phi nông nghiệp.

Rủi ro cũng được xem là động lực cơ bản để đa dạng hoá sinh kế. Các hộ gia đình đa dạng hoá thu nhập bằng danh mục đầu tư vào nhiều hoạt động khác nhau để giảm thiểu rủi ro, có một sự đánh đổi giữa tổng thu nhập cao hơn với xác suất thất bại lớn hơn và tổng thu nhập thấp hơn với xác suất thất bại thấp hơn. Trong danh mục đầu tư, Lipton và Ravallion (1995) khuyến khích đa dạng hoá thu nhập theo hướng phi nông nghiệp hơn là nông nghiệp vì có mối tương quan rủi ro thấp giữa các thành phần tạo thu nhập. Vai trò của thị trường lao động trong việc làm giảm các mối đe dọa mang tính chu kỳ và mất an ninh để xây dựng đời sống nông thôn.

Thị trường lao động cũng cung cấp các cơ hội tạo thu nhập phi nông nghiệp nhưng đòi hỏi về trình độ giáo dục, kỹ năng, vị trí, độ tuổi, số năm kinh nghiệm, giới tính. Hoạt động kém của thị trường tài chính nông thôn ở các nước đang phát triển làm cho các hộ gia đình nông thôn khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng (đầu vào) phục vụ cho hoạt động sản xuất nông nghiệp như: Máy cày, máy bơm nước… đã làm ức chế sự gia tăng năng suất sản xuất nông nghiệp. Có nhiều lý do dẫn đến việc khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngân hàng như: Chi phí thành lập ngân hàng phục vụ khu vực nông thôn cao, khó tiếp cận đầy đủ thông tin khách hàng vay tiềm năng, nguy cơ phát sinh nợ xấu cao và thiếu tài sản thế chấp đảm bảo cho các khoản vay. Thất bại thị trường tín dụng lại là một động lực quan trọng để đa dạng hóa nguồn thu nhập của các hộ dân vùng nông thôn.

Các hộ dân có thể chủ động sử dụng các nguồn thu ngoài nông nghiệp để mua vật tư hay thiết bị nông nghiệp (Reardon và cộng sự, 1997).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ