CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1.1 QUAN DIEM NGHIÊN CỨU VE CẤU TRÚC NGHĨA CUA CÂU Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập tới cấu trúc nghĩa của câu từ nhiều góc độ khác nhau, với những quan điểm khác nhau mà khuôn khổ của luận án không cho phép thống kê hết được. Dưới đây là một số quan điểm chính yếu, có ảnh hưởng trực tiếp tới quan điểm tiếp cận của luận án đối với dé tài nghiên cứu. Nói chung, dù theo cấu trúc luận (structuralism) hay chức năng luận (functionalism), lay xuất phát điểm là từ ngữ pháp tới ngữ nghĩa hay ngược lại, các tác giả đều cùng thống nhất ở những điểm sau: 1.1 Về nghĩa của câu Thứ nhất, nghĩa của câu không đơn giản là một phép cộng nghĩa của các từ ngữ trong câu mà là một cấu trúc có nhiều tầng. Các tang nghĩa trong câu phối hợp với nhau tạo ra cái nghĩa hành chức (nội dung thông báo) của câu.
Nghĩa chính là cái được truyền đạt trong lời nói. “Lớp nghĩa nghĩa học là lớp nghĩa của sự tình được biểu thị và những vai trò tham gia cái sự tình ay” (Cao Xuân Hạo, 1992:8) hay nghĩa của câu là lõi sự tình mang nội dung thông báo (Frawley, 1992). Thứ hai, nội dung nghĩa của câu (và của ngôn ngữ) không chỉ là cái phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những mảng của thế giới hiện thực (hay một thế giới nào khác ở bên ngoài ngôn ngữ) mà còn có những mặt khác không kém phần quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn.2 Về cau trúc nghĩa của câu Cấu trúc nghĩa là cấu trúc cơ sở của câu (Fillmore, 1968), quy định cấu trúc ngữ pháp của câu. Cấu trúc nghĩa của câu bao gồm một động từ cộng với một số danh ngữ có các quan hệ được “dán nhãn” (quan hệ cách) đặc biệt với câu (Fillmore, 1968); nói cách khác, nghĩa của câu là lõi sự tình được thể hiện bang vị từ và các tham thé xung quanh nó, trong đó vị từ là trung tâm.
Vị từ là cái lõi xâu chuỗi, liên kết quan hệ giữa các tham thé với nhau dé thé hiện một sự tình nào đó. Đây là một trong những điểm chung trong quan điểm của Chafe (1970), Frawley (1992), Nguyễn Thị Quy (1995), Nguyễn Văn Hiệp (2002), Diệp Quang Ban (2004)'; V. Ngữ trị của vị từ (gồm kết trị và diễn trị) - giá trị ngữ pháp thống nhất từ các kết hợp có tính trật tự và các vai diễn có tính chức năng đặc trưng được xác lập trong ngôn liệu bởi hình thức của những trật tự ngữ đoạn và chức vụ cú pháp - quyết định số lượng các thành tố nghĩa cũng như thành tố cú pháp xung quanh nó (Binh Van Duc, 2001). Với tư cách là một đơn vị ngữ nghĩa, mỗi tham thể có một vị trí nhất định trong cấu trúc ngữ nghĩa, tức là mỗi vị trí trong cấu trúc ngữ nghĩa ứng với một đơn vị ngữ nghĩa nhất định.
Tuy nhiên, trong một số ngôn ngữ thuộc loại hình đa tổng hợp (polysynthetic), động từ có thé thu hút hoàn toàn danh từ vào nó, có thé bao gồm trong căn tố của nó cả một số đơn vị ngữ nghĩa của các danh từ khác nữa (Chafe, 1970). Quá trình này gọi là hiện tượng hợp nhất - incorporation hay hiện tượng hoà đúc tham tố (argument fusion) (Pinker, ' Trong công trình này, Diệp Quang Ban không dùng thuật ngữ “vị từ” mà gọi là vị tố (predicator), va coi vị tố là trung tâm, hay đỉnh của câu. Sự sử dụng thuật ngữ khác nhau này không ảnh hưởng tới quan điểm chung về vấn dé cái gì đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc (cả cấu trúc ngữ nghĩa lẫn cấu trúc ngữ pháp) của câu. Do vậy, có thé có trường hợp một số đơn vị ngữ nghĩa, kế cả một số tham thể, không xuất hiện trên cau trúc bề mặt (s-structure).
Trong các thành tố nghĩa tham gia cấu trúc nghĩa của câu có những thành tố bắt buộc và những thành tố tuỳ nghi. Những thành tô bắt buộc là “những vai trò tất yêu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ” (Cao Xuân Hạo, 1992) hoặc “là những yếu tố tat yếu, bắt buộc phải có, bị quy định bởi bản chất của vị từ trung tâm” (Nguyễn Thị Quy, 1995; Nguyễn Văn Hiệp, 2002). Những thành tố bắt buộc, tất yếu này được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như điển to (actants) (Cao Xuân Hạo, 1992), tham thể (Diệp Quang Ban, 2004), hoặc “được biểu đạt bởi các từ hoặc các ngữ đoạn. gọi chung là các diễn tố cú pháp” (Nguyễn Thị Quy, 1995; Nguyễn Văn Hiệp, 2002).
Còn những thành tố nghĩa không được giả định một cách tất nhiên trong khung vị ngữ, làm thành cái cảnh trí xung quanh như điều kiện, thời gian, không gian, cách thức, phương tiện, v. là những thành tô tuỳ nghi và thường được gọi là chu tổ (circumstant) (Cao Xuân Hạo, 1992), Cảnh huống (Diệp Quang Ban, 2004), hoặc “được biểu đạt bởi các từ hoặc ngữ đoạn. goi chung là các chu tố cú pháp” (Nguyễn Thị Quy, 1995; Nguyễn Văn Hiệp, 2002). Khác với quan điểm của Fillmore (1968) cho rang “mỗi quan hệ cách” (case relation) (mỗi vai nghĩa hay quan hệ nghĩa - semantic relation - giữa các thành tố nghĩa với vị từ) chỉ xuất hiện một lần trong một câu đơn, tức là mỗi thành tố nghĩa chỉ đảm nhận một vai nghĩa, các tác giả sau Fillmore như Chafe (1970), Frawley (1992), Cao Xuân Hạo (1992), Jackendoff (1995), Diệp Quang Ban (2004), v.
đều nhận thấy không có quan hệ tương liên một- đối-một như vậy ma trong thực tế, một thành tố nghĩa có thể đồng thời đảm nhận nhiều vai nghĩa khác nhau, tức là có nhiều quan hệ nghĩa khác nhau với vị từ. Thành tố nghĩa đó có thể là thành tố bắt buộc hoặc tuỳ nghi đối với 10 từng vị từ nhất định, và ngay cả đối với một vị từ, đôi khi thành t6 tuỳ nghỉ cũng có thé hoạt động như thành tổ bắt buộc hoặc thay thé cho thành tố bắt buộc, như Diệp Quang Ban (2004:38) nhận định: “. có những trường hop yếu tố chỉ cảnh huống (chu tố) lại hoạt động như tham thê. [trong] những trường hợp đó chúng nằm trong sự thê và giữ một chức năng cú pháp nào đó trong cấu trúc cơ sở của câu.” Một cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ này có thé không có tương đương tuyệt đối trong một ngôn ngữ khác, mặc dù cùng mô tả một sự tình như nhau, một “kịch cảnh” như nhau.
Sự khác nhau đó thé hiện ở số lượng thành tố nghĩa [bắt buộc] và vai nghĩa của chúng với động từ (Lý Toàn Thăng, 2002). Một sự tình có thé được nhận thức và mô tả theo nhiều cách khác nhau, băng những đơn vị ngữ âm, ngữ pháp khác nhau, hoặc cùng một đơn vi ngữ âm, ngữ pháp có thé thé hiện nhiều sự tình khác nhau hoặc nhiều phương diện khác nhau của sự tình (Chafe, 1970). Nói cách khác, “các sự việc. được diễn đạt thông qua cách nhìn được xây dựng nên bởi con người, và được mã hoá trong ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thé.
Vì vậy, cùng một sự việc có thé được nhìn nhận và diễn đạt theo những cách khác nhau: khác nhau giữa những người nói khác nhau, đối với các ngôn ngữ khác nhau; và cũng khác nhau ngay cả đối với cùng một người trong những lần nhìn nhận khác nhau, khác nhau trong cùng một ngôn ngữ bởi những phương tiện diễn đạt khác nhau mà ngôn ngữ đó cho phép” (Diệp Quang Ban, 2004:33). Các ngôn ngữ có thể khác nhau ở những điểm như: e “trong ngôn ngữ A, một sự tình được nhìn nhận như những quan hệ không gian thì sang ngôn ngữ B nó lại được biểu thị bằng những quan hệ khác; 11 e cùng một sự tình nhưng trong ngôn ngữ A nó được nhìn nhận như chỉ gồm một sự kiện đơn nhất, còn sang ngôn ngữ B thì như hai sự kiện ghép lại; e cùng một sự tình nhưng trong hai ngôn ngữ A và B số lượng các yếu tô của sự tình đó được biểu thị trong cấu trúc nghĩa của câu không bang nhau; e©_ cùng một yếu tố của sự tình nhưng trong hai ngôn ngữ A và B nó được biểu hiện theo hai cách khác nhau” (Gak, trong Lý Toàn Thắng, 2002:87). Do đó, khi nghiên cứu cấu trúc nghĩa của câu nói riêng và nghiên cứu ngôn ngữ nói chung cần kết hợp cả hai hướng phổ quát luận và tương đối luận, bởi ý nghĩa của ngôn ngữ “về bản chất là mang tính “di nhân vi trung” (anthropocentric) và “dĩ tộc vi trung” (ethnocentric) (Lý Toàn Thang, 2002: 94). Như vậy, về cơ bản các tác giả đều thống nhất với nhau trong quan niệm về nghĩa câu và cấu trúc nghĩa câu.
Trong cấu trúc nghĩa đó, vị từ là yếu tố quan trọng nhất quyết định số lượng, thành phần các đối tượng tham gia trong cấu trúc cũng như quan hệ giữa các đối tượng này. Tuy nhiên, phải khang định răng các tham thé cũng có tác động trở lại đối với vị từ; chúng quyết định lựa chọn vi từ nào dé thé hiện vai trò của minh trong sự tình cũng như liên kết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Đó là những mối quan hệ qua lại chứ không phải chỉ là một chiều từ vị từ tới tham thể. Luận điểm này sẽ được chứng minh trong các phân sau.2 QUAN DIEM VE VAI NGHĨA CUA CÁC THAM THE TRONG CAU TRUC NGHIA BIEU HIEN CUA CAU 1.1 Nhan xét chung Van dé vai nghĩa của các tham thé trong cau trúc nghĩa biểu hiện của câu là một vấn đề phức tạp và đã được khảo sát, nghiên cứu theo rất nhiều quan điểm khác nhau.
Tuy nhiên, Fillmore cũng chưa thoát khỏi được những giới hạn của cau trúc luận hình thức (formal structuralism) và ngữ pháp cải bién-tao sinh, và danh sách các cách ngữ nghĩa Fillmore đưa ra còn ít, hơi đơn giản hoá, chưa thé bao quát một cách thấu đáo và toàn diện về các quan hệ cách mà các danh ngữ có thê thê hiện, ví dụ như sự mơ hô, thiêu phân định rõ ràng của Tân cách 13 (Objective Case) mà theo ông là “cách trung hòa nhất, là bất cứ cái gì có thể do danh từ biéu thị” (Fillmore, 1968: 24-25). Trên cơ sở danh sách của Fillmore, nhiêu tác giả đã phát triên lên và gọi “cách ngữ nghĩa” băng những cái tên khác nhau như quan hệ nghĩa — thematic relations (Gruber, 1976; Jackendoff, 1972), theta-roles (0-roles) (Chomsky, 1981; Marantz, 1984), vai tham thé — participant roles (Allan 1986), vai nghia — thematic roles (Dowty, 1991; Jackendoff, 1990), vai ngữ nghĩa — semantic roles (Dillon, 1977; Givón, 1990) (theo thống kê của Frawley, 1992).