Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học: Phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị từ trao tặng

Luận án tiến sĩ phân tích ngôn ngữ học cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị ngữ là vị từ mang ý nghĩa traotặng, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Lí luận Ngôn ngữ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2007

191
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU

0.1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI

0.2. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM VỤ, PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

0.2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

0.2.2. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

0.2.3. PHƯƠNG PHÁP VÀ TƯ LIỆU NGHIÊN CỨU

0.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN

0.4. BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN

1.1. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC NGHĨA CỦA CÂU

1.1.1. VỀ NGHĨA CỦA CÂU

1.1.2. VỀ CẤU TRÚC NGHĨA CỦA CÂU

1.2. QUAN ĐIỂM VỀ VAI NGHĨA CỦA CÁC THAM THỂ TRONG CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU

1.2.1. NHẬN XÉT CHUNG

1.2.2. CÁCH PHÂN LOẠI VAI NGHĨA

1.3. QUAN ĐIỂM NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG

1.5. TIỂU KẾT

2. CHƯƠNG 2: CÁC LỚP NGHĨA VÀ VAI NGHĨA CỦA BA DIỄN TỬ TRONG CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG

2.1. LỚP NGHĨA KIỂM SOÁT - SỞ HỮU (CONTROL - POSSESSION)

2.2. LỚP NGHĨA KHÔNG GIAN - ĐỘNG (SPATIAL - DYNAMIC)

2.3. LỚP NGHĨA LỢI ÍCH (HUMAN INTEREST)

2.4. LỚP NGHĨA QUYỀN LỰC (POWER)

2.5. CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CƠ SỞ CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG

2.5.1. DIỄN TỬ THỨ NHẤT

2.5.2. DIỄN TỬ THỨ HAI

2.5.3. DIỄN TỬ THỨ BA

2.6. TIỂU KẾT

3. CHƯƠNG 3: CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN RÚT GỌN VÀ MỞ RỘNG CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG

3.1. TRƯỜNG HỢP CHỈ CÓ MỘT DIỄN TỬ

3.2. TRƯỜNG HỢP CHỈ CÓ HAI DIỄN TỬ

3.3. CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU VỚI SỐ LƯỢNG THAM THỂ NHIỀU HƠN 3

3.3.1. CHU TỔ MẶC ĐỊNH

3.3.2. HAI CHU TỔ MẶC ĐỊNH KHÁC: HƯỚNG VÀ ĐÍCH (DIRECTION AND GOAL)

3.4. CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG VÀ VỚI MỘT SỐ VỊ TỪ KHÁC: SO SÁNH VỀ CHU TỐ MẶC ĐỊNH

3.4.1. SO SÁNH VỊ TỪ TRAO/TẶNG VỚI VỊ TỪ MUA (BUY)

3.4.2. SO SÁNH VỊ TỪ TRAO/TẶNG VỚI VỊ TỪ DAO (DIG)

3.4.3. SO SÁNH VỊ TỪ TRAO/TẶNG VỚI VỊ TỪ NHẢY (JUMP)

3.5. TIỂU KẾT

4. CHƯƠNG 4: SỰ THỂ HIỆN CẤU TRÚC NGHĨA BIỂU HIỆN TRÊN CẤU TRÚC CÚ PHÁP CỦA CÂU VỚI VỊ TỪ TRAO/TẶNG

4.1. KHI TÁC THỂ ĐƯỢC CHỌN LÀM VẬT ĐƯỢC ĐỊNH VỊ (TRAJECTOR - TR)

4.2. TRẬT TỰ THAM THỂ TRONG CÂU VỚI < 3 DIỄN TỬ

4.3. KHI TIẾP THỂ ĐƯỢC CHỌN LÀM VẬT ĐƯỢC ĐỊNH VỊ

4.4. KHI ĐỐI THỂ ĐƯỢC CHỌN LÀM VẬT ĐƯỢC ĐỊNH VỊ

4.5. TRẬT TỰ THAM THỂ TRONG CÂU VỚI DIỄN TỬ VÀ CHU TỔ MẶC ĐỊNH

4.6. SỰ MỞ RỘNG NGHĨA CỦA GIVE TRONG TIẾNG ANH VÀ CHO TRONG TIẾNG VIỆT

4.6.1. SỰ CHO PHÉP (PERMISSION)

4.6.2. GÂY KHIẾN / TẠO ĐIỀU KIỆN (CAUSE / ENABLEMENT)

4.6.3. SỰ XUẤT HIỆN (EMERGENCE)

4.7. TIỂU KẾT

KẾT LUẬN

CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về luận án tiến sĩ Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao tặng

Luận án tiến sĩ này tập trung vào việc phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị từ trao tặng trong tiếng Việt và tiếng Anh. Nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ vai trò của vị từ trong cấu trúc câu mà còn khám phá các lớp nghĩa và mối quan hệ giữa các thành tố trong câu. Việc hiểu rõ cấu trúc này sẽ hỗ trợ trong việc giảng dạy và học tập ngôn ngữ, đặc biệt là cho những người học tiếng Việt và tiếng Anh.

1.1. Đối tượng nghiên cứu và phương pháp tiếp cận

Đối tượng nghiên cứu của luận án là câu có vị từ trao tặng. Phương pháp tiếp cận được sử dụng là phân tích ngữ nghĩa và so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Anh để làm rõ các lớp nghĩa và vai nghĩa của các tham thể trong câu.

1.2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang lại ứng dụng thực tiễn trong việc giảng dạy ngôn ngữ. Nó giúp người học nhận thức rõ hơn về cấu trúc câu và khắc phục những khó khăn trong việc sử dụng vị từ trao tặng.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu cấu trúc nghĩa câu với vị từ trao tặng

Một trong những thách thức lớn trong nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu là sự phức tạp trong việc xác định vai nghĩa của các tham thể. Các vị từ trao tặng có thể mang nhiều lớp nghĩa khác nhau, điều này gây khó khăn cho người học trong việc sử dụng chính xác trong ngữ cảnh. Việc phân tích sâu về các lớp nghĩa này là cần thiết để hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của chúng trong câu.

2.1. Các lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa câu

Các lớp nghĩa trong cấu trúc nghĩa câu với vị từ trao tặng bao gồm nghĩa kiểm soát, nghĩa không gian và nghĩa lợi ích. Mỗi lớp nghĩa này đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cách thức mà các tham thể tương tác với nhau trong câu.

2.2. Khó khăn trong việc giảng dạy và học tập

Người học thường gặp khó khăn trong việc nhận diện và sử dụng đúng các vị từ trao tặng do sự khác biệt trong cấu trúc ngữ pháp giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Điều này đòi hỏi cần có những phương pháp giảng dạy hiệu quả hơn.

III. Phương pháp nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao tặng

Luận án áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau để phân tích cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu. Các phương pháp này bao gồm phân tích định tính và định lượng, so sánh đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Anh, nhằm làm rõ các mối quan hệ ngữ nghĩa và cú pháp trong câu.

3.1. Phân tích định tính và định lượng

Phân tích định tính giúp xác định các lớp nghĩa và vai nghĩa của các tham thể, trong khi phân tích định lượng cung cấp dữ liệu thống kê để hỗ trợ các luận điểm nghiên cứu.

3.2. So sánh đối chiếu giữa tiếng Việt và tiếng Anh

Việc so sánh giữa hai ngôn ngữ giúp phát hiện những điểm tương đồng và khác biệt trong cấu trúc nghĩa của câu với vị từ trao tặng, từ đó đưa ra những giải pháp giảng dạy hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu cấu trúc nghĩa câu với vị từ trao tặng

Nghiên cứu về cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị từ trao tặng có nhiều ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy ngôn ngữ. Những phát hiện từ nghiên cứu này có thể giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, đặc biệt là trong việc sử dụng vị từ trong ngữ cảnh.

4.1. Ứng dụng trong giảng dạy ngoại ngữ

Các kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong việc thiết kế giáo trình và bài giảng, giúp người học dễ dàng nhận diện và sử dụng đúng các vị từ trao tặng.

4.2. Hỗ trợ trong dịch thuật

Nghiên cứu cũng cung cấp những hiểu biết cần thiết cho việc dịch thuật, giúp người dịch hiểu rõ hơn về cách thức sử dụng vị từ trao tặng trong các ngữ cảnh khác nhau.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu cấu trúc nghĩa câu với vị từ trao tặng

Luận án đã chỉ ra tầm quan trọng của việc nghiên cứu cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu có vị từ trao tặng. Những phát hiện từ nghiên cứu này không chỉ có giá trị lý luận mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn. Tương lai của nghiên cứu này có thể mở rộng sang các lĩnh vực khác trong ngôn ngữ học, đặc biệt là trong việc nghiên cứu các vị từ đa trị.

5.1. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có thể mở rộng sang các vị từ khác trong tiếng Việt và tiếng Anh, từ đó làm rõ hơn về cấu trúc nghĩa của các câu phức tạp hơn.

5.2. Tác động đến việc giảng dạy và học tập

Những phát hiện từ nghiên cứu này có thể giúp cải thiện phương pháp giảng dạy và học tập, đặc biệt là trong việc sử dụng vị từ trong ngữ cảnh thực tế.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN ÁN 1.1 QUAN DIEM NGHIÊN CỨU VE CẤU TRÚC NGHĨA CUA CÂU Đã có nhiều nhà ngôn ngữ học đề cập tới cấu trúc nghĩa của câu từ nhiều góc độ khác nhau, với những quan điểm khác nhau mà khuôn khổ của luận án không cho phép thống kê hết được. Dưới đây là một số quan điểm chính yếu, có ảnh hưởng trực tiếp tới quan điểm tiếp cận của luận án đối với dé tài nghiên cứu. Nói chung, dù theo cấu trúc luận (structuralism) hay chức năng luận (functionalism), lay xuất phát điểm là từ ngữ pháp tới ngữ nghĩa hay ngược lại, các tác giả đều cùng thống nhất ở những điểm sau: 1.1 Về nghĩa của câu Thứ nhất, nghĩa của câu không đơn giản là một phép cộng nghĩa của các từ ngữ trong câu mà là một cấu trúc có nhiều tầng. Các tang nghĩa trong câu phối hợp với nhau tạo ra cái nghĩa hành chức (nội dung thông báo) của câu.

Nghĩa chính là cái được truyền đạt trong lời nói. “Lớp nghĩa nghĩa học là lớp nghĩa của sự tình được biểu thị và những vai trò tham gia cái sự tình ay” (Cao Xuân Hạo, 1992:8) hay nghĩa của câu là lõi sự tình mang nội dung thông báo (Frawley, 1992). Thứ hai, nội dung nghĩa của câu (và của ngôn ngữ) không chỉ là cái phần phản ánh (biểu hiện, miêu tả) những mảng của thế giới hiện thực (hay một thế giới nào khác ở bên ngoài ngôn ngữ) mà còn có những mặt khác không kém phần quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn.2 Về cau trúc nghĩa của câu Cấu trúc nghĩa là cấu trúc cơ sở của câu (Fillmore, 1968), quy định cấu trúc ngữ pháp của câu. Cấu trúc nghĩa của câu bao gồm một động từ cộng với một số danh ngữ có các quan hệ được “dán nhãn” (quan hệ cách) đặc biệt với câu (Fillmore, 1968); nói cách khác, nghĩa của câu là lõi sự tình được thể hiện bang vị từ và các tham thé xung quanh nó, trong đó vị từ là trung tâm.

Vị từ là cái lõi xâu chuỗi, liên kết quan hệ giữa các tham thé với nhau dé thé hiện một sự tình nào đó. Đây là một trong những điểm chung trong quan điểm của Chafe (1970), Frawley (1992), Nguyễn Thị Quy (1995), Nguyễn Văn Hiệp (2002), Diệp Quang Ban (2004)'; V. Ngữ trị của vị từ (gồm kết trị và diễn trị) - giá trị ngữ pháp thống nhất từ các kết hợp có tính trật tự và các vai diễn có tính chức năng đặc trưng được xác lập trong ngôn liệu bởi hình thức của những trật tự ngữ đoạn và chức vụ cú pháp - quyết định số lượng các thành tố nghĩa cũng như thành tố cú pháp xung quanh nó (Binh Van Duc, 2001). Với tư cách là một đơn vị ngữ nghĩa, mỗi tham thể có một vị trí nhất định trong cấu trúc ngữ nghĩa, tức là mỗi vị trí trong cấu trúc ngữ nghĩa ứng với một đơn vị ngữ nghĩa nhất định.

Tuy nhiên, trong một số ngôn ngữ thuộc loại hình đa tổng hợp (polysynthetic), động từ có thé thu hút hoàn toàn danh từ vào nó, có thé bao gồm trong căn tố của nó cả một số đơn vị ngữ nghĩa của các danh từ khác nữa (Chafe, 1970). Quá trình này gọi là hiện tượng hợp nhất - incorporation hay hiện tượng hoà đúc tham tố (argument fusion) (Pinker, ' Trong công trình này, Diệp Quang Ban không dùng thuật ngữ “vị từ” mà gọi là vị tố (predicator), va coi vị tố là trung tâm, hay đỉnh của câu. Sự sử dụng thuật ngữ khác nhau này không ảnh hưởng tới quan điểm chung về vấn dé cái gì đóng vai trò trung tâm trong cấu trúc (cả cấu trúc ngữ nghĩa lẫn cấu trúc ngữ pháp) của câu. Do vậy, có thé có trường hợp một số đơn vị ngữ nghĩa, kế cả một số tham thể, không xuất hiện trên cau trúc bề mặt (s-structure).

Trong các thành tố nghĩa tham gia cấu trúc nghĩa của câu có những thành tố bắt buộc và những thành tố tuỳ nghi. Những thành tô bắt buộc là “những vai trò tất yêu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ” (Cao Xuân Hạo, 1992) hoặc “là những yếu tố tat yếu, bắt buộc phải có, bị quy định bởi bản chất của vị từ trung tâm” (Nguyễn Thị Quy, 1995; Nguyễn Văn Hiệp, 2002). Những thành tố bắt buộc, tất yếu này được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như điển to (actants) (Cao Xuân Hạo, 1992), tham thể (Diệp Quang Ban, 2004), hoặc “được biểu đạt bởi các từ hoặc các ngữ đoạn. gọi chung là các diễn tố cú pháp” (Nguyễn Thị Quy, 1995; Nguyễn Văn Hiệp, 2002).

Còn những thành tố nghĩa không được giả định một cách tất nhiên trong khung vị ngữ, làm thành cái cảnh trí xung quanh như điều kiện, thời gian, không gian, cách thức, phương tiện, v. là những thành tô tuỳ nghi và thường được gọi là chu tổ (circumstant) (Cao Xuân Hạo, 1992), Cảnh huống (Diệp Quang Ban, 2004), hoặc “được biểu đạt bởi các từ hoặc ngữ đoạn. goi chung là các chu tố cú pháp” (Nguyễn Thị Quy, 1995; Nguyễn Văn Hiệp, 2002). Khác với quan điểm của Fillmore (1968) cho rang “mỗi quan hệ cách” (case relation) (mỗi vai nghĩa hay quan hệ nghĩa - semantic relation - giữa các thành tố nghĩa với vị từ) chỉ xuất hiện một lần trong một câu đơn, tức là mỗi thành tố nghĩa chỉ đảm nhận một vai nghĩa, các tác giả sau Fillmore như Chafe (1970), Frawley (1992), Cao Xuân Hạo (1992), Jackendoff (1995), Diệp Quang Ban (2004), v.

đều nhận thấy không có quan hệ tương liên một- đối-một như vậy ma trong thực tế, một thành tố nghĩa có thể đồng thời đảm nhận nhiều vai nghĩa khác nhau, tức là có nhiều quan hệ nghĩa khác nhau với vị từ. Thành tố nghĩa đó có thể là thành tố bắt buộc hoặc tuỳ nghi đối với 10 từng vị từ nhất định, và ngay cả đối với một vị từ, đôi khi thành t6 tuỳ nghỉ cũng có thé hoạt động như thành tổ bắt buộc hoặc thay thé cho thành tố bắt buộc, như Diệp Quang Ban (2004:38) nhận định: “. có những trường hop yếu tố chỉ cảnh huống (chu tố) lại hoạt động như tham thê. [trong] những trường hợp đó chúng nằm trong sự thê và giữ một chức năng cú pháp nào đó trong cấu trúc cơ sở của câu.” Một cấu trúc ngữ nghĩa của ngôn ngữ này có thé không có tương đương tuyệt đối trong một ngôn ngữ khác, mặc dù cùng mô tả một sự tình như nhau, một “kịch cảnh” như nhau.

Sự khác nhau đó thé hiện ở số lượng thành tố nghĩa [bắt buộc] và vai nghĩa của chúng với động từ (Lý Toàn Thăng, 2002). Một sự tình có thé được nhận thức và mô tả theo nhiều cách khác nhau, băng những đơn vị ngữ âm, ngữ pháp khác nhau, hoặc cùng một đơn vi ngữ âm, ngữ pháp có thé thé hiện nhiều sự tình khác nhau hoặc nhiều phương diện khác nhau của sự tình (Chafe, 1970). Nói cách khác, “các sự việc. được diễn đạt thông qua cách nhìn được xây dựng nên bởi con người, và được mã hoá trong ngữ pháp của một ngôn ngữ cụ thé.

Vì vậy, cùng một sự việc có thé được nhìn nhận và diễn đạt theo những cách khác nhau: khác nhau giữa những người nói khác nhau, đối với các ngôn ngữ khác nhau; và cũng khác nhau ngay cả đối với cùng một người trong những lần nhìn nhận khác nhau, khác nhau trong cùng một ngôn ngữ bởi những phương tiện diễn đạt khác nhau mà ngôn ngữ đó cho phép” (Diệp Quang Ban, 2004:33). Các ngôn ngữ có thể khác nhau ở những điểm như: e “trong ngôn ngữ A, một sự tình được nhìn nhận như những quan hệ không gian thì sang ngôn ngữ B nó lại được biểu thị bằng những quan hệ khác; 11 e cùng một sự tình nhưng trong ngôn ngữ A nó được nhìn nhận như chỉ gồm một sự kiện đơn nhất, còn sang ngôn ngữ B thì như hai sự kiện ghép lại; e cùng một sự tình nhưng trong hai ngôn ngữ A và B số lượng các yếu tô của sự tình đó được biểu thị trong cấu trúc nghĩa của câu không bang nhau; e©_ cùng một yếu tố của sự tình nhưng trong hai ngôn ngữ A và B nó được biểu hiện theo hai cách khác nhau” (Gak, trong Lý Toàn Thắng, 2002:87). Do đó, khi nghiên cứu cấu trúc nghĩa của câu nói riêng và nghiên cứu ngôn ngữ nói chung cần kết hợp cả hai hướng phổ quát luận và tương đối luận, bởi ý nghĩa của ngôn ngữ “về bản chất là mang tính “di nhân vi trung” (anthropocentric) và “dĩ tộc vi trung” (ethnocentric) (Lý Toàn Thang, 2002: 94). Như vậy, về cơ bản các tác giả đều thống nhất với nhau trong quan niệm về nghĩa câu và cấu trúc nghĩa câu.

Trong cấu trúc nghĩa đó, vị từ là yếu tố quan trọng nhất quyết định số lượng, thành phần các đối tượng tham gia trong cấu trúc cũng như quan hệ giữa các đối tượng này. Tuy nhiên, phải khang định răng các tham thé cũng có tác động trở lại đối với vị từ; chúng quyết định lựa chọn vi từ nào dé thé hiện vai trò của minh trong sự tình cũng như liên kết các mối quan hệ giữa chúng với nhau. Đó là những mối quan hệ qua lại chứ không phải chỉ là một chiều từ vị từ tới tham thể. Luận điểm này sẽ được chứng minh trong các phân sau.2 QUAN DIEM VE VAI NGHĨA CUA CÁC THAM THE TRONG CAU TRUC NGHIA BIEU HIEN CUA CAU 1.1 Nhan xét chung Van dé vai nghĩa của các tham thé trong cau trúc nghĩa biểu hiện của câu là một vấn đề phức tạp và đã được khảo sát, nghiên cứu theo rất nhiều quan điểm khác nhau.

Tuy nhiên, Fillmore cũng chưa thoát khỏi được những giới hạn của cau trúc luận hình thức (formal structuralism) và ngữ pháp cải bién-tao sinh, và danh sách các cách ngữ nghĩa Fillmore đưa ra còn ít, hơi đơn giản hoá, chưa thé bao quát một cách thấu đáo và toàn diện về các quan hệ cách mà các danh ngữ có thê thê hiện, ví dụ như sự mơ hô, thiêu phân định rõ ràng của Tân cách 13 (Objective Case) mà theo ông là “cách trung hòa nhất, là bất cứ cái gì có thể do danh từ biéu thị” (Fillmore, 1968: 24-25). Trên cơ sở danh sách của Fillmore, nhiêu tác giả đã phát triên lên và gọi “cách ngữ nghĩa” băng những cái tên khác nhau như quan hệ nghĩa — thematic relations (Gruber, 1976; Jackendoff, 1972), theta-roles (0-roles) (Chomsky, 1981; Marantz, 1984), vai tham thé — participant roles (Allan 1986), vai nghia — thematic roles (Dowty, 1991; Jackendoff, 1990), vai ngữ nghĩa — semantic roles (Dillon, 1977; Givón, 1990) (theo thống kê của Frawley, 1992).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ: Cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với vị từ trao tặng là một nghiên cứu chuyên sâu về cách thức cấu trúc ngữ nghĩa của câu được hình thành thông qua các vị từ trao tặng trong tiếng Việt. Tài liệu này không chỉ phân tích chi tiết các yếu tố ngữ pháp và ngữ nghĩa mà còn làm rõ cách các vị từ này tác động đến ý nghĩa tổng thể của câu. Điều này giúp người đọc hiểu sâu hơn về cơ chế ngôn ngữ, đồng thời hỗ trợ việc nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt một cách hiệu quả.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan, bạn có thể khám phá thêm Luận án tiến sĩ ngôn ngữ học mạch lạc trong văn bản nghị luận tiếng Việt, nơi tập trung vào tính mạch lạc trong văn bản nghị luận. Hoặc, để hiểu rõ hơn về từ loại và định nghĩa trong tiếng Việt, hãy xem Luận văn thạc sĩ khảo sát các định nghĩa của từ loại danh từ vị từ trong từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê 2000. Mỗi tài liệu này đều mở rộng kiến thức của bạn về ngôn ngữ học tiếng Việt từ những góc độ khác nhau.