Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học "Hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam — Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" do nghiên cứu sinh Lê Thị Giang thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự, mã số 9.03), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Thị Huệ và TS. Vương Thanh Thúy, bảo vệ năm 2019.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Hợp đồng tặng cho tài sản (HDTCTS) là chế định quan trọng được ghi nhận xuyên suốt trong lịch sử lập pháp dân sự Việt Nam qua các Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995, 2005 và 2015. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, số lượng và quy mô giao dịch tặng cho tài sản ngày càng tăng, kéo theo sự gia tăng của các tranh chấp phức tạp trên thực tế. Mặc dù BLDS năm 2015 là cơ sở pháp lý chủ yếu điều chỉnh HDTCTS, văn bản này về cơ bản kế thừa các quy định từ BLDS năm 2005 và vẫn bộc lộ nhiều bất cập:

  1. Quy định sơ sài, bỏ ngỏ nhiều quan hệ pháp lý: thiếu quy định về thời điểm phát sinh hiệu lực của HDTC đối với tài sản vô hình; thiếu căn cứ hủy bỏ hợp đồng đặc thù riêng cho HDTC; chưa xác định rõ yêu cầu pháp lý đối với điều kiện tặng cho; chưa có cơ chế bảo vệ quyền lợi của con và người thân thích của người tặng cho; chưa ghi nhận việc tặng cho tài sản đối với cá nhân chưa sinh ra (thai nhi); chưa có phương thức giải quyết khi bên được tặng cho chỉ thực hiện một phần điều kiện.
  2. Quy định còn mâu thuẫn, chưa phù hợp với bản chất hợp đồng: thời điểm phát sinh hiệu lực chưa thống nhất giữa động sản không đăng ký sở hữu (có hiệu lực khi nhận tài sản) và bất động sản không đăng ký sở hữu (có hiệu lực khi chuyển giao tài sản); quy định cho phép thỏa thuận thời điểm phát sinh hiệu lực đối với động sản không phải đăng ký tại Điều 458 BLDS năm 2015 thiếu tính khả thi; quy định giải quyết nghĩa vụ tại khoản 2 và khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 khi các bên không thực hiện nghĩa vụ còn bất hợp lý.
  3. Thiếu tính thống nhất với luật chuyên ngành: tồn tại xung đột giữa BLDS năm 2015 và khoản 2 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở tặng cho.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là trước năm 2019, các công trình khoa học trong nước chủ yếu tiếp cận ở quy mô luận văn thạc sĩ hoặc đề tài cấp bộ, tập trung cục bộ vào tặng cho quyền sử dụng đất (QSDĐ) mà chưa có công trình nào nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu và toàn diện về HDTCTS và hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện (HDTCTSCDK) ở cấp độ luận án tiến sĩ kể từ khi BLDS năm 2015 có hiệu lực.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ hệ thống lý luận về HDTCTS, phân tích thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn xét xử, từ đó đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về HDTCTS nói chung và HDTCTSCDK nói riêng.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 6 nội dung:

  1. Xây dựng khái niệm tặng cho tài sản, HDTCTS, HDTCTSCDK; chỉ ra đặc trưng pháp lý làm cơ sở phân biệt với các giao dịch như hứa thưởng, di tặng, hợp đồng dịch vụ.
  2. Nghiên cứu, phân tích các lý thuyết nền tảng chi phối việc xây dựng pháp luật về HDTCTS.
  3. Phân tích cụ thể các quy định pháp luật hiện hành về HDTCTS và HDTCTSCDK; đánh giá ưu điểm, hạn chế của khung pháp lý đối với các tài sản đặc thù (QSDĐ, nhà ở).
  4. Nghiên cứu so sánh quy định pháp luật về tặng cho của một số quốc gia (Pháp, Đức, Nhật Bản, Thái Lan...).
  5. Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật và giải quyết tranh chấp tại Tòa án, làm rõ nguyên nhân của các vướng mắc phổ biến.
  6. Đưa ra các kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.

Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

Luận án xây dựng hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu theo 3 nhóm:

Nhóm nội dung Câu hỏi nghiên cứu Giả thuyết nghiên cứu của luận án
Lý luận về HDTCTS 1. Tặng cho tài sản trên thế giới có luôn được xác định là hợp đồng?
2. Bản chất pháp lý của HDTCTS là gì?
1. Không hoàn toàn; tồn tại hai hướng tiếp cận: hợp đồng (Civil Law) và hành vi đơn phương (Common Law). Luận án bảo vệ quan điểm tặng cho là hợp đồng.
2. HDTCTS là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ (đối với tặng cho có điều kiện), là hợp đồng thực tế và là hợp đồng không có đền bù.
Thực trạng pháp luật về HDTCTS 1. Loại tài sản nào có thể là đối tượng tặng cho? Có bao gồm tài sản hình thành trong tương lai?
2. Quy định cho phép thỏa thuận thời điểm hiệu lực đối với động sản không đăng ký có phù hợp?
3. Thời điểm hiệu lực đối với quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ?
4. Điều kiện tặng cho cần thỏa mãn yếu tố nào?
5. Xử lý thế nào khi điều kiện không thực hiện được do lỗi bên tặng cho, bên thứ ba hoặc bất khả kháng?
6. Xử lý thế nào khi đòi lại tài sản mà tài sản đã chuyển giao cho người thứ ba?
1. Mọi tài sản hiện có và hình thành trong tương lai, gồm cả vật và quyền tài sản.
2. Không phù hợp vì HDTCTS là hợp đồng thực tế, hiệu lực phải gắn với việc chuyển giao tài sản.
3. Áp dụng quy định chung về thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng do luật thiếu quy định riêng.
4. Không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, không triệt tiêu tính không đền bù và phải có tính khả thi.
5. Đặt ra hai hướng: coi như điều kiện đã hoàn thành hoặc chưa hoàn thành.
6. Đặt ra hai hướng: không đòi lại được tài sản từ người thứ ba ngay tình hoặc được quyền đòi lại.
Hoàn thiện pháp luật về HDTCTS 1. Có nên bổ sung quy định thai nhi được nhận tặng cho như di tặng, thừa kế?
2. Có cần bảo vệ quyền lợi người thân thích của người tặng cho?
3. Có nên bổ sung căn cứ hủy bỏ HDTCTS do bên nhận vô ơn hoặc người tặng cho sinh con?
4. Cần bổ sung quy định gì về điều kiện tặng cho và quyền đòi lại tài sản từ bên thứ ba?
1. Nên ghi nhận vì tặng cho và di tặng có cùng bản chất dịch chuyển tài sản.
2. Cần ghi nhận nhằm bảo đảm tính nhân văn và tương thích với chế định di tặng.
3. Nên bổ sung xuất phát từ đặc trưng không có đền bù của HDTCTS.
4. Quy định điều kiện phải có tính khả thi, không làm lợi vật chất tương xứng cho bên tặng cho; làm rõ cơ chế bảo vệ bên thứ ba ngay tình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Học thuyết hợp đồng trong hệ thống Civil Law và Common Law; hệ thống văn bản pháp luật Việt Nam từ thời phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc đến hiện tại (Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Nam Kỳ giản yếu 1883, Dân luật 1972, BLDS 1995, 2005, 2015, Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014); pháp luật của Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, Thái Lan, Anh, Mỹ, Ấn Độ, Scotland; các bản án, án lệ (Án lệ số 14/2017/AL) và thực tiễn xét xử tại Tòa án các cấp.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định đặc thù của HDTCTS và HDTCTSCDK (hình thức, thời điểm hiệu lực, hủy bỏ, nghĩa vụ kèm theo); lồng ghép quy định đặc thù về QSDĐ và nhà ở. Luận án không đi sâu vào các quy định chung áp dụng đồng thời cho mọi loại hợp đồng (như năng lực chủ thể chung, hợp đồng vô hiệu, trình tự giao kết thông thường) để tránh trùng lặp.
  • Phạm vi thời gian và không gian: Trọng tâm là giai đoạn thi hành BLDS năm 2015, có đối chiếu lịch sử và so sánh quốc tế; dữ liệu xét xử được thu thập từ nhiều tỉnh, thành phố trên phạm vi cả nước.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan, tác giả Lê Thị Giang đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan theo các nhóm:

1. Luận án, luận văn, đề tài nghiên cứu trong nước

  • Luận án tiến sĩ và sách chuyên khảo của Nguyễn Hải An: Luận án tiến sĩ luật học "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất" (2011) và sách chuyên khảo "Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở Việt Nam" (2012, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật). Công trình tập trung vào đối tượng quyền sử dụng đất, phân tích lý luận, thực tiễn xét xử và giải pháp cho hợp đồng tặng cho QSDĐ.
  • Luận văn thạc sĩ: Luận văn của Nguyễn Văn Hiến (2006) và Trần Thị Minh (2012) cùng nghiên cứu đề tài "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất — Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", tập trung phân tích thực trạng giao dịch tặng cho QSDĐ, điều kiện tặng cho và sự khác biệt với các hợp đồng chuyển quyền khác.
  • Khóa luận tốt nghiệp: Khóa luận của Nguyễn Thị Thoa (2012) về "Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất" và Phạm Hồng Diệp (2012) về "Tìm hiểu các quy định pháp luật về chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất", chủ yếu dừng lại ở phân tích luật thực định.
  • Đề tài khoa học cấp Bộ: Đề tài do Nguyễn Văn Cường làm chủ nhiệm (2008), "Thực tiễn giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất tại Tòa án Nhân dân. Những vướng mắc và kiến nghị", Tòa án nhân dân tối cao. Đề tài khảo sát các bản án tranh chấp QSDĐ và nhà ở, so sánh với BLDS Pháp và sơ lược lịch sử pháp luật Việt Nam.

2. Các bài báo khoa học chuyên ngành

  • Về bản chất và hiệu lực hợp đồng: Dương Anh Sơn (2008, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10) phân tích các quan điểm trái chiều về bản chất pháp lý của HDTCTS; Vũ Thị Hồng Yến (2010, Tạp chí Luật học, số 4) và Đỗ Văn Đại (2009, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 2) nghiên cứu về thời điểm phát sinh hiệu lực của HDTCTS và chỉ ra các điểm bất cập trong BLDS năm 2005.
  • Về tặng cho quyền sử dụng đất và nhà ở: Đỗ Văn Chỉnh (2008, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 3), Lê Thị Hoài An (2011, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 11), Lê Hồng Liên (2012, Tạp chí Kiểm sát, số 22), Nguyễn Hồng Nam (2014, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 12).
  • Về tặng cho tài sản có điều kiện: Lương Thị Hợp (2012, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 14) so sánh điều kiện trong HDTCTS và trong di chúc qua thực tiễn xét xử; Tuấn Đạo Thanh và Phạm Thu Hằng (2014, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 9) bàn về điều kiện tặng cho qua hoạt động công chứng; Bùi Minh Hồng trong bài viết "Hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện trong pháp luật hiện hành — Những vướng mắc và kiến nghị" là công trình hiếm hoi xây dựng khái niệm riêng về tặng cho có điều kiện.

3. Sách chuyên khảo và tài liệu nước ngoài

  • Tài liệu trong nước: Vũ Văn Mẫu (1963), "Việt Nam Dân luật lược khảo" (Quyển II: Nghĩa vụ và khế ước); Sakae Wagatsuma và Toru Ariizumi (bản dịch của Nguyễn Đức Giao, Lưu Tiến Dũng, 1995), "Bình luận Khoa học BLDS Nhật Bản"; Nguyễn Mạnh Bách (1997), "Luật Dân sự Việt Nam lược giải, các hợp đồng dân sự thông dụng".
  • Tài liệu nước ngoài: William Blackstone & William Draper Lewis (1898), Commentaries on the Laws of England; William Burge, Burge's Commentaries on Colonial and Foreign Laws (Alexander Wood Renton & George Grenville biên tập); nghiên cứu về hủy bỏ tặng cho trong luật dân sự Nga (Soviet Statutes and Decisions); bài viết "Gift promises and the edge of contract law" của Vice Dean và William S.; các nghiên cứu về pháp luật tặng cho của Đức (BGB), Scotland, Nam Phi, Louisiana, Ấn Độ, Thái Lan.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Tác giả khẳng định: Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào đối tượng QSDĐ, dừng lại ở cấp độ thạc sĩ hoặc bài viết tạp chí phân tích từng khía cạnh riêng lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện từ lý luận nền tảng, các học thuyết chi phối đến các quy định thực định của BLDS năm 2015 và thực tiễn áp dụng án lệ đối với HDTCTS và HDTCTSCDK. Luận án đặt vị trí nghiên cứu là công trình tổng thể đầu tiên ở cấp độ tiến sĩ xử lý trọn vẹn các khía cạnh lý luận, lập pháp và thực tiễn của HDTCTS theo BLDS năm 2015.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án xác định pháp luật về HDTCTS trên thế giới và tại Việt Nam chịu sự chi phối của 3 lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết về hợp đồng: Phân tích bản chất của sự thỏa thuận, ý chí của các bên trong việc xác lập quan hệ chuyển quyền sở hữu, đối chiếu giữa thuyết hợp đồng (đòi hỏi sự đồng ý nhận của bên được tặng cho) và thuyết hành vi pháp lý đơn phương.
  2. Lý thuyết về sự không có đền bù của giao dịch tặng cho: Xác định việc chuyển giao tài sản mà không đòi hỏi lợi ích vật chất tương xứng là thuộc tính bản chất. Lý thuyết này chi phối các quy định nghiêm ngặt về hình thức, thời điểm phát sinh hiệu lực và điều kiện hủy bỏ hợp đồng để bảo vệ bên tặng cho.
  3. Lý thuyết phân chia tặng cho thành "Donatio inter vivos" và "Donatio mortis causa": Phân định ranh giới pháp lý giữa tặng cho khi còn sống (sinh thời tặng dữ - HDTCTS) và tặng cho tài sản có hiệu lực khi chết (di tặng/thừa kế).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và bình luận pháp luật: Sử dụng xuyên suốt trong Luận án nhằm giải thích, làm rõ nội hàm các điều luật trong BLDS năm 2015, các BLDS tiền nhiệm và các luật chuyên ngành (Luật Đất đai 2013, Luật Nhà ở 2014).
  • Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó xây dựng hệ thống luận điểm lý luận và kiến nghị lập pháp.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của pháp luật Việt Nam với pháp luật của Pháp (Điều 894 BLDS Pháp), Đức (khoản 1 Điều 516 BGB), Nhật Bản (Điều 549 BLDS Nhật Bản), Thái Lan (Điều 521 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan), Anh, Scotland, Mỹ, Ấn Độ, Nga; đồng thời so sánh HDTCTS với các giao dịch như di tặng, hứa thưởng, hợp đồng dịch vụ.
  • Phương pháp lịch sử pháp lý: Khảo cứu tiến trình lập pháp Việt Nam từ thời phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc (Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Nam Kỳ giản yếu 1883, Dân luật 1972) đến các BLDS năm 1995, 2005 và 2015.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân các cấp nhằm xác định các dạng tranh chấp phổ biến về tặng cho nhà đất, điều kiện nuôi dưỡng, hương hỏa và hiệu lực hợp đồng.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn tư liệu nghiên cứu gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các nước; các án lệ (như Án lệ số 14/2017/AL); hệ thống bản án thực tế được công bố trên cổng thông tin điện tử của Tòa án và thu thập qua thực tiễn xét xử; các giáo trình, sách chuyên khảo của các luật gia trong nước và quốc tế.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Lý luận về hợp đồng tặng cho tài sản

Chương 1 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích đặc điểm pháp lý, phân loại hợp đồng và làm rõ 3 lý thuyết chi phối chế định HDTCTS:

  • Quan niệm về tặng cho và khái niệm HDTCTS: Dưới góc độ ngôn ngữ, tác giả phân tích từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên, Viện Ngôn ngữ học) và từ điển quốc tế (Merriam-Webster, Oxford, Cambridge) với gốc Latin "donatio", "donare", qua đó chỉ ra tặng cho là hành vi chuyển giao quyền sở hữu không lấy tiền, xuất phát từ động cơ tình cảm, tương trợ. Tác giả phân biệt rõ "tặng cho" với "hiến tặng" (theo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác năm 2006).

    Dưới góc độ pháp lý, luận án phân tích hai trường phái:

    1. Tặng cho là hợp đồng: Được thừa nhận tại Pháp (Điều 894 BLDS Pháp), Đức (khoản 1 Điều 516 BGB), Nhật Bản (Điều 549 BLDS Nhật Bản), Thái Lan (Điều 521), Trung Quốc và Việt Nam. Yêu cầu bắt buộc phải có sự thỏa thuận và ý chí "đồng ý nhận" của bên được tặng cho.
    2. Tặng cho là hành vi đơn phương: Thể hiện trong hệ thống Common Law như Anh ("deed of gift"), Scotland, Ấn Độ. Giao dịch phát sinh ràng buộc ngay khi bên tặng cho tuyên bố ý chí công khai mà không cần chờ bên được tặng cho đồng ý.

    Luận án khẳng định pháp luật Việt Nam xác định tặng cho là hợp đồng, và đưa ra định nghĩa chung:

    "Tặng cho tài sản là một giao dịch dân sự theo đó chủ thể khi còn sống chuyển quyền sở hữu đối với tài sản của mình cho một chủ thể khác mà không yêu cầu nhận lại được bất cứ lợi ích vật chất tương xứng nào."

  • Đặc điểm pháp lý của HDTCTS:

    • Tính đơn vụ hoặc song vụ: HDTCTS thông thường là hợp đồng đơn vụ (chỉ bên tặng cho có nghĩa vụ chuyển giao tài sản). Đối với HDTCTSCDK, khi bên được tặng cho phải thực hiện nghĩa vụ trước hoặc sau khi nhận tài sản, hợp đồng mang tính chất song vụ.
    • Tính thực tế: Luận án phân tích quan điểm lịch sử của Vũ Văn Mẫu về "khế ước hiệp ý" (ưng thuận) và "khế ước giao vật" (thực tế / trọng thể). Tác giả phê phán quan điểm coi HDTCTS là hợp đồng ưng thuận và khẳng định HDTCTS phải là hợp đồng thực tế, hiệu lực gắn liền với sự kiện chuyển giao tài sản trên thực tế hoặc đăng ký quyền sở hữu. Việc ép buộc bên tặng cho thực hiện hợp đồng khi mới chỉ dừng lại ở sự thỏa thuận là trái với bản chất không đền bù và đạo đức xã hội.
    • Tính không có đền bù: Đây là thuộc tính cốt lõi. Đối với HDTCTSCDK, tác giả lập luận rằng nếu điều kiện mang lại lợi ích vật chất tương đương thì giao dịch trở thành mua bán hoặc trao đổi. Tuy nhiên, nếu điều kiện chỉ mang lại lợi ích tinh thần, phụng dưỡng, chăm sóc, hương hỏa với chi phí nhỏ, không tương xứng với giá trị tài sản tặng cho thì hợp đồng vẫn giữ nguyên bản chất không có đền bù.
  • Phân loại HDTCTS:

    • Căn cứ vào điều kiện: HDTCTS thông thường và HDTCTS có điều kiện.
    • Căn cứ vào đối tượng: Động sản và bất động sản (phân tích sự không tồn tại độc lập của hợp đồng tặng cho tài sản gắn liền với đất/nhà mà không tặng cho đất/nhà); tài sản phải đăng ký quyền sở hữu và không phải đăng ký quyền sở hữu.
    • Căn cứ vào hình thức: Lời nói, văn bản, văn bản công chứng/chứng thực, hành vi.
  • Phân biệt HDTCTS với các giao dịch khác: Phân biệt với di tặng (hiệu lực sau khi người lập di chúc chết vs hiệu lực khi còn sống); phân biệt tặng cho có điều kiện với hứa thưởng và hợp đồng dịch vụ trả công bằng việc.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản

Chương 2 phân tích chi tiết các quy định thực định trong BLDS năm 2015 và các luật chuyên ngành:

  • Thực trạng các quy định chung:

    • Đối tượng: Phân tích đối tượng là tài sản hiện có, tài sản hình thành trong tương lai, vật và quyền tài sản (quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ).
    • Chủ thể, quyền và nghĩa vụ: Đánh giá việc BLDS năm 2015 không quy định mục riêng về quyền và nghĩa vụ của các bên trong HDTCTS thông thường, dẫn đến việc áp dụng các quy định chung của hợp đồng còn lúng túng.
    • Hình thức và thời điểm hiệu lực: Phân tích sự thiếu nhất quán tại Điều 458 và Điều 459 BLDS năm 2015. Chỉ rõ sự bất cập của quy định cho phép thỏa thuận thời điểm hiệu lực đối với động sản không đăng ký sở hữu; sự xung đột giữa BLDS năm 2015 và khoản 2 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 về thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở tặng cho (khi nhận bàn giao nhà vs khi đăng ký).
    • Hủy bỏ hợp đồng: Đánh giá việc BLDS năm 2015 thiếu vắng các căn cứ hủy bỏ đặc thù của HDTCTS như trường hợp người được tặng cho có hành vi bội bạc, vô ơn nghiêm trọng đối với người tặng cho, hoặc trường hợp người tặng cho sau đó sinh con (vốn đã từng được ghi nhận trong Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936, Dân luật 1972 và pháp luật nhiều nước như Pháp, Nga).
  • Thực trạng pháp luật về HDTCTS có điều kiện:

    • Yêu cầu pháp lý đối với điều kiện: Làm rõ tính hợp pháp, tính khả thi của điều kiện và yêu cầu điều kiện không làm mất đi tính không có đền bù.
    • Chủ thể thực hiện điều kiện: Phân tích trường hợp điều kiện do chính bên được tặng cho thực hiện hoặc do người thứ ba thực hiện.
    • Trách nhiệm pháp lý: Phân tích các lỗ hổng tại khoản 2 và khoản 3 Điều 462 BLDS năm 2015 về xử lý hậu quả pháp lý khi một bên không thực hiện nghĩa vụ, cơ chế giải quyết khi bên được tặng cho chỉ hoàn thành một phần điều kiện, hoặc khi tài sản tặng cho đã bị chuyển nhượng cho người thứ ba trước khi bên tặng cho yêu cầu đòi lại tài sản.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng tặng cho tài sản

Chương 3 tổng kết thực tiễn xét xử và đưa ra hệ thống kiến nghị hoàn thiện:

  • Thực tiễn áp dụng pháp luật:

    • Phân tích các tranh chấp điển hình liên quan đến tặng cho QSDĐ và nhà ở giữa các thành viên gia đình (cha mẹ tặng cho con cái kèm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, thờ cúng).
    • Khảo sát các vụ án mâu thuẫn giữa các cấp xét xử trong việc xác định hiệu lực hợp đồng khi chưa sang tên đăng ký nhưng đã bàn giao đất/nhà; tranh chấp khi hợp đồng công chứng không ghi điều kiện nhưng thực tế có thỏa thuận miệng về điều kiện chăm sóc.
    • Phân tích Án lệ số 14/2017/AL của Hội đồng Thẩm phán TANDTC về việc công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho QSDĐ dù điều kiện đó không được ghi trong văn bản hợp đồng có công chứng.
  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

    • Sửa đổi quy định chung trong BLDS:
      1. Sửa đổi Điều 458 BLDS năm 2015: Bãi bỏ quy định cho phép thỏa thuận thời điểm phát sinh hiệu lực của HDTC động sản không đăng ký, khẳng định nguyên tắc hợp đồng thực tế (có hiệu lực từ thời điểm nhận tài sản).
      2. Thống nhất quy định về thời điểm có hiệu lực và chuyển quyền sở hữu giữa BLDS và Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013.
      3. Bổ sung quy định về tặng cho tài sản đối với thai nhi (tương thích với quy định về thừa kế và di tặng).
      4. Bổ sung căn cứ hủy bỏ hợp đồng tặng cho khi bên được tặng cho có hành vi vô ơn nghiêm trọng hoặc khi người tặng cho rơi vào hoàn cảnh túng quẫn/sinh con sau khi tặng cho.
      5. Bổ sung cơ chế bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên và người thân thích của người tặng cho khi việc tặng cho làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến nghĩa vụ cấp dưỡng.
    • Hoàn thiện quy định về HDTCTSCDK:
      1. Sửa đổi, bổ sung Điều 462 BLDS năm 2015: Quy định rõ các yêu cầu của điều kiện tặng cho; bổ sung cơ chế xử lý khi điều kiện chỉ được thực hiện một phần hoặc không thực hiện được do trở ngại khách quan.
      2. Quy định cụ thể quyền đòi lại tài sản và bảo vệ người thứ ba ngay tình khi tài sản tặng cho có điều kiện đã bị định đoạt.
    • Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật:
      1. Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các quy định của BLDS về HDTCTS.
      2. Kiến nghị các Tòa án áp dụng tập quán hợp pháp trong xét xử tranh chấp tặng cho tài sản phục vụ hương hỏa, thờ cúng gia tộc.
      3. Kiến nghị lựa chọn, phát triển thêm các án lệ giải quyết tranh chấp HDTCTSCDK.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn lập pháp như sau:

  1. Về lý luận:

    • Xây dựng hệ thống khái niệm hoàn chỉnh về tặng cho tài sản, HDTCTS và HDTCTSCDK, tiếp cận hài hòa giữa truyền thống pháp lý Việt Nam và các trường phái lập pháp quốc tế.
    • Tổng kết và luận giải 3 lý thuyết nền tảng chi phối việc xây dựng pháp luật về tặng cho tài sản: lý thuyết hợp đồng, lý thuyết về sự không có đền bù, và lý thuyết phân chia tặng cho thành Donatio inter vivos và Donatio mortis causa.
    • Khẳng định bản chất pháp lý của HDTCTS là hợp đồng thực tế, không có đền bù, mang tính chất đơn vụ (tặng cho thông thường) hoặc song vụ (tặng cho có điều kiện); làm sáng tỏ ranh giới giữa tính không đền bù và các nghĩa vụ mang tính đạo đức, phụng dưỡng trong HDTCTSCDK.
  2. Về thực tiễn và lập pháp:

    • Đánh giá toàn diện thực trạng quy định của BLDS năm 2015, chỉ ra các điểm bất cập, mâu thuẫn nội tại (Điều 458, Điều 462) và xung đột giữa BLDS với Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013.
    • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung BLDS: bổ sung quy định tặng cho đối với thai nhi, căn cứ hủy bỏ hợp đồng do người nhận vô ơn/người tặng cho sinh con, bảo vệ người thân thích và cơ chế xử lý tài sản tặng cho có điều kiện khi chuyển dịch cho bên thứ ba.
    • Đề xuất các giải pháp áp dụng pháp luật: ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, áp dụng tập quán và phát triển án lệ (trên cơ sở kế thừa và mở rộng Án lệ số 14/2017/AL).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào các khía cạnh pháp lý đặc thù của HDTCTS và HDTCTSCDK đối với các tài sản truyền thống (bất động sản gồm QSDĐ, nhà ở và động sản hữu hình). Các quy định chung về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, hợp đồng vô hiệu và trình tự giao kết chung không được phân tích sâu nhằm tránh trùng lặp phạm vi nghiên cứu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu chế định tặng cho đối với các loại tài sản phi truyền thống, tài sản vô hình mới phát sinh trong nền kinh tế số (quyền tài sản phát sinh từ tài sản trí tuệ, tài sản số) và tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng án lệ trong việc giải quyết các tranh chấp hợp đồng tặng cho có điều kiện phức tạp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn:

  • Đối với cơ quan lập pháp và tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học cho Ban soạn thảo sửa đổi, bổ sung BLDS; cung cấp cơ sở để Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xây dựng Nghị quyết hướng dẫn thống nhất xét xử và phát triển án lệ mới.
  • Đối với Thẩm phán, Luật sư, Công chứng viên: Hỗ trợ nhận diện chính xác bản chất hợp đồng, thời điểm phát sinh hiệu lực, giá trị pháp lý của điều kiện tặng cho (đặc biệt khi điều kiện không được ghi trong văn bản công chứng) để giải quyết tranh chấp và chứng nhận giao dịch an toàn.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Cung cấp nguồn tài liệu toàn diện về lịch sử lập pháp dân sự Việt Nam qua các thời kỳ, luật so sánh quốc tế và hệ thống lý thuyết về hợp đồng tặng cho.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa hợp đồng tặng cho tài sản như thế nào?

Luận án định nghĩa: "Tặng cho tài sản là một giao dịch dân sự theo đó chủ thể khi còn sống chuyển quyền sở hữu đối với tài sản của mình cho một chủ thể khác mà không yêu cầu nhận lại được bất cứ lợi ích vật chất tương xứng nào." Định nghĩa này khẳng định tính chất chuyển giao quyền sở hữu khi còn sống (Donatio inter vivos), phân biệt rõ với di tặng (Donatio mortis causa) và nhấn mạnh thuộc tính không có đền bù.

2. Luận án xác định bản chất của HDTCTS là hợp đồng ưng thuận hay hợp đồng thực tế?

Luận án khẳng định HDTCTS là hợp đồng thực tế. Thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng phải gắn liền với sự kiện chuyển giao tài sản trên thực tế hoặc hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Luận án phê phán quy định cho phép các bên thỏa thuận thời điểm hiệu lực của HDTC động sản không đăng ký tại Điều 458 BLDS năm 2015 vì không phù hợp với bản chất hợp đồng thực tế và thiếu tính khả thi.

3. Điều kiện trong hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện có làm mất đi tính "không có đền bù" không?

Không làm mất đi tính không có đền bù nếu nghĩa vụ mà bên được tặng cho thực hiện chỉ mang lại lợi ích tinh thần, nuôi dưỡng, chăm sóc, hương hỏa với giá trị không tương xứng với tài sản nhận được. Nếu điều kiện đòi hỏi lợi ích vật chất tương đương với giá trị tài sản tặng cho thì bản chất giao dịch bị thay đổi sang hợp đồng mua bán hoặc trao đổi tài sản.

4. Luận án chỉ ra điểm xung đột nào giữa BLDS năm 2015 và Luật Nhà ở năm 2014?

Luận án chỉ ra sự không tương thích về thời điểm phát sinh hiệu lực và chuyển quyền sở hữu nhà ở tặng cho: Khoản 2 Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 quy định thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở tặng cho là kể từ thời điểm bên nhận tặng cho nhận bàn giao nhà ở; trong khi đó, BLDS năm 2015 quy định đối với bất động sản phải đăng ký thì hợp đồng chỉ có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký quyền sở hữu.

5. Án lệ số 14/2017/AL được tác giả luận án sử dụng nhằm chứng minh luận điểm gì?

Án lệ số 14/2017/AL được sử dụng để chứng minh thực tiễn xét xử công nhận điều kiện của hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngay cả khi điều kiện đó (chăm sóc, nuôi dưỡng) không được ghi trực tiếp trong văn bản hợp đồng công chứng, từ đó làm cơ sở đề xuất hoàn thiện quy định về hình thức và nội dung ghi nhận điều kiện trong HDTCTSCDK.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Lê Thị Giang là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về chế định hợp đồng tặng cho tài sản theo pháp luật Việt Nam trong bối cảnh thi hành BLDS năm 2015. Bằng phương pháp nghiên cứu lịch sử lập pháp và so sánh quốc tế, luận án đã làm sáng tỏ 3 lý thuyết nền tảng chi phối, phân định rõ bản chất hợp đồng thực tế và tính chất không có đền bù của HDTCTS. Các phân tích thực trạng và bất cập trong văn bản luật cùng hệ thống giải pháp đề xuất (sửa đổi BLDS, ban hành Nghị quyết hướng dẫn, phát triển án lệ) mang lại giá trị khoa học và giá trị thực tiễn rõ rệt cho công tác lập pháp và hoạt động xét xử tại Việt Nam.