Luận án tiến sĩ luật học chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình vấn đề lý luận và thực tiễn

Luận án tiến sĩ luật học phân tích chế định cấp dưỡng trong luật hôn nhân và gia đình, đánh giá vấn đề lý luận và thực tiễn hiện nay.

Chuyên ngành

Luật Dân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2006

201
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG

1.1. Khái niệm cấp dưỡng và chế định cấp dưỡng

1.1.1. Khái niệm cấp dưỡng

1.1.2. Khái niệm chế định cấp dưỡng

1.1.3. Bản chất, ý nghĩa xã hội của chế định cấp dưỡng

1.1.4. Ý nghĩa xã hội của chế định cấp dưỡng

1.1.5. Khái quát chế định cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam

1.1.6. Quy định về cấp dưỡng trong pháp luật trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

1.1.7. Quy định về cấp dưỡng trong pháp luật từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1975

1.1.8. Quy định về cấp dưỡng trong pháp luật từ năm 1976 đến nay

2. CHƯƠNG 2: CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG TRONG LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2000 VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG

2.1. Những quy định chung về cấp dưỡng trong Luật HN&GD năm 2000

2.2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng chế định cấp dưỡng

2.3. Căn cứ phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

2.4. Mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

2.5. Quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài

2.6. Đảm bảo thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng

2.7. Các trường hợp cấp dưỡng

2.7.1. Cấp dưỡng giữa cha mẹ và con

2.7.2. Cấp dưỡng giữa anh chị em

2.7.3. Cấp dưỡng giữa ông bà và cháu

2.7.4. Cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

3.1. Yêu cầu hoàn thiện chế định cấp dưỡng

3.1.1. Hoàn thiện chế định cấp dưỡng xuất phát từ thực trạng gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

3.1.2. Hoàn thiện chế định cấp dưỡng xuất phát từ yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án

3.1.3. Hoàn thiện chế định cấp dưỡng xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế

3.1.4. Phương hướng hoàn thiện chế định cấp dưỡng

3.1.5. Chế định cấp dưỡng phải thể hiện rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước ta là hướng tới con người và vì con người

3.1.6. Chế định cấp dưỡng phải xác định rõ vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, đảm bảo gia đình trở thành hệ thống an sinh tốt nhất cho người chưa thành niên, người tàn tật, người cao tuổi

3.1.7. Quy định về cấp dưỡng phải phù hợp với thực tế quan hệ hôn nhân và gia đình, phải rõ ràng, toàn diện tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành, áp dụng

3.1.8. Một số giải pháp hoàn thiện chế định cấp dưỡng và nâng cao hiệu quả áp dụng chế định cấp dưỡng

3.1.9. Hoàn thiện chế định cấp dưỡng trong pháp luật hôn nhân và gia đình

3.1.10. Nâng cao ý thức của mỗi cá nhân trong xã hội

3.1.11. Nâng cao hiệu quả công tác thi hành án về cấp dưỡng

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Lý luận về chế định cấp dưỡng

Chế định cấp dưỡng là một phần quan trọng trong Luật Hôn nhân và Gia đình, thể hiện trách nhiệm và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình. Luận án tiến sĩ này tập trung phân tích khái niệm, bản chất, và ý nghĩa xã hội của chế định này. Cấp dưỡng không chỉ là nghĩa vụ pháp lý mà còn mang tính nhân văn, đảm bảo sự chăm sóc và hỗ trợ vật chất cho những người không có khả năng tự lo liệu cuộc sống. Luận án cũng khảo sát sự phát triển của chế định này qua các giai đoạn lịch sử, từ thời kỳ phong kiến đến hiện đại, cho thấy sự tiến bộ và hoàn thiện của pháp luật Việt Nam.

1.1. Khái niệm cấp dưỡng

Cấp dưỡng được định nghĩa là việc cung cấp các điều kiện vật chất để đảm bảo cuộc sống cho người khác trong mối quan hệ gia đình. Nghĩa vụ này xuất phát từ bản năng tự nhiên của con người trong việc duy trì sự sống và phát triển. Trong lịch sử, từ thời kỳ nguyên thủy, con người đã biết chia sẻ thức ăn và chăm sóc lẫn nhau. Đến thời kỳ phong kiến, các quy định về cấp dưỡng được ghi nhận trong các bộ luật cổ như Hồng Đức thiện chính thư, thể hiện tư tưởng Nho giáo về hiếu nghĩa và trách nhiệm gia đình.

1.2. Bản chất và ý nghĩa xã hội

Bản chất của cấp dưỡng là sự đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ giữa các thành viên gia đình, đặc biệt là người chưa thành niên, người già, và người tàn tật. Ý nghĩa xã hội của chế định này là góp phần ổn định gia đình và xã hội, thúc đẩy tinh thần tương thân tương ái. Luận án nhấn mạnh rằng, chế định cấp dưỡng không chỉ là quy định pháp lý mà còn là giá trị đạo đức, phản ánh truyền thống văn hóa và lối sống của người Việt Nam.

II. Thực tiễn áp dụng chế định cấp dưỡng

Luận án phân tích thực tiễn áp dụng chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000. Các quy định về cấp dưỡng đã được mở rộng, bao gồm nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, anh chị em, ông bà và cháu, cũng như vợ chồng khi ly hôn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều trường hợp chưa được giải quyết thỏa đáng, dẫn đến tình trạng người già, trẻ em, và người tàn tật không được chăm sóc đầy đủ. Luận án đánh giá những hạn chế trong quá trình thi hành và đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả áp dụng.

2.1. Quy định chung về cấp dưỡng

Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 quy định rõ các căn cứ phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, mức cấp dưỡng, và phương thức thực hiện. Luận án chỉ ra rằng, mặc dù các quy định này đã được hoàn thiện, nhưng việc áp dụng trên thực tế vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong các vụ án ly hôn và tranh chấp gia đình.

2.2. Các trường hợp cấp dưỡng

Luận án phân tích các trường hợp cụ thể như cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, anh chị em, ông bà và cháu, cũng như vợ chồng khi ly hôn. Trong đó, cấp dưỡng giữa cha mẹ và con là phổ biến nhất, nhưng cũng gặp nhiều tranh chấp do sự thiếu hiểu biết về pháp luật và ý thức trách nhiệm của các bên.

III. Phương hướng hoàn thiện chế định cấp dưỡng

Luận án đề xuất các phương hướng hoàn thiện chế định cấp dưỡng trong bối cảnh hiện nay. Cần xác định rõ vai trò của gia đình trong việc bảo vệ quyền lợi của các thành viên, đặc biệt là người chưa thành niên, người tàn tật, và người cao tuổi. Đồng thời, cần hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả trong quá trình thi hành. Luận án cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao ý thức pháp luật và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong xã hội.

3.1. Yêu cầu hoàn thiện

Luận án chỉ ra rằng, chế định cấp dưỡng cần được hoàn thiện dựa trên thực trạng gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Các quy định phải phù hợp với thực tế quan hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời đảm bảo tính rõ ràng và toàn diện để tạo điều kiện thuận lợi cho việc thi hành.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả

Các giải pháp được đề xuất bao gồm hoàn thiện chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình, nâng cao ý thức của cá nhân, và tăng cường hiệu quả công tác thi hành án. Luận án cũng đề nghị bổ sung các quy định về thứ tự cấp dưỡng, thời điểm cấp dưỡng, và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên gia đình khác như cô, dì, chú, bác.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG 1. KHÁI NIỆM CẤP DƯỠNG VÀ CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG 1. Khái niệm cấp dưỡng 1. Khái quát chung về cấp dưỡng Cùng với nuôi dưỡng và phụng dưỡng, cấp dưỡng là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống cũng như trong khoa học pháp lý để chỉ việc người này phải cung cấp các điều kiện vật chất nhằm bảo đảm cuộc sống cho người khác trong một mối quan hệ ràng buộc về quyền và nghĩa vụ nhất định.

Có thể nói nghĩa vụ cấp dưỡng được bắt nguồn từ nghĩa vụ nuôi dưỡng, một nghĩa vụ tự nhiên phát sinh từ bản năng duy trì sự sống trong đời sống con người. Trong quá trình phát triển của xã hội, từ khi con người vừa mới thoát ra khỏi cuộc sống hoang dã của động vật đã biết sống quây quần theo quan hệ ruột thịt với nhau. Trong bầy người nguyên thủy, một tổ chức xã hội đầu tiên của loài người, con người đã biết phân công lao động nhằm tìm kiếm, phân chia thức ăn và nuôi dưỡng con cái. Khi bầy người nguyên thuỷ tan rã nhường chỗ cho một tổ chức xã hội chặt chẽ hơn là công xã thị tộc thì việc nuôi dưỡng con cái vẫn được quan tâm đặc biệt.

Trong thị tộc, lớp con cháu có thói quen kính trọng và vâng lời người trên, ngược lại lớp người trên chăm lo, bảo đảm nuôi dạy tất cả lớp con cháu của thị tộc như nhau [65, tr. Trong bước phát triển tiếp theo của lịch sử, cùng với sự ra đời của các hình thái gia đình, trách nhiệm của người mẹ, người cha trong việc nuôi dạy con cũng được khẳng định [1, tr. Từ nghĩa vụ mang tính tự nhiên, nuôi dưỡng dần trở thành một cách xử sự chung, là đạo lý của con người. Trong đời sống hàng ngày, trải qua những biến động của lịch sử, những thảm hoa do thiên nhiên gây ra, ốm đau, bệnh tật.

với quan niệm “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no” con người đã biết chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau, đó là những tiền đề phát sinh quan hệ cấp dưỡng. Trong Sách Lễ ký (thiên Lễ vận) ghi chép về xã hội thị tộc ở Trung Quốc có đoạn: l1 Thi hành đạo lớn thiên hạ là chung, chọn người hiền tài, chú trọng tín nghĩa và sự hoà mục. Do vậy, người ta không chỉ thân với người thân của mình, không chỉ yêu con của mình. Làm cho người già có chỗ dưỡng lão, trai tráng có chỗ dùng, trẻ nhỏ có chỗ nuôi nấng, những kẻ quan quả cô độc tàn tật đều có chỗ nuôi [65, tr.

Các thuyết Khổng Tử, Mạnh Tử tiêu biểu cho tư tưởng Nho giáo đều coi trọng hiếu, nghĩa. Con phải hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, khi cha mẹ đau ốm phải hết lòng chăm sóc. Con lười biếng không nuôi dưỡng cha mẹ, lơ là với cha mẹ là bất hiếu. Cha mẹ không yêu thương, nuôi nấng con là lỗi đạo làm người.

Đạo Nho đã được truyền bá vào Việt Nam và trở thành một đạo Nho có sắc thái văn hoá Việt Nam [79, tr. Dưới triều Lê, Nho giáo đã được dé cao như một hệ tư tưởng chính thống của nhà nước. Phong tục lễ giáo của gia đình Việt Nam thời bấy giờ là làm con phải lấy sự hiếu với cha mẹ là mối luân thường đứng đầu trăm nết hay của người. Hiếu là kính trọng, thương yêu, vâng lời, phụng dưỡng cha mẹ, nhà dù nghèo cũng lo cơm lành, canh ngọt để phụng dưỡng cha mẹ, nếu ở riêng thì cung cấp tiền để phụng dưỡng cha mẹ, ở xa thì gửi đồng quà, tấm bánh dâng cha mẹ [79, tr.

Với quan niệm vợ chồng lấy nhau là để sinh đẻ con cái, nối dõi tông đường nên khi sinh con ra cha mẹ phải hết lòng yêu thương, nuôi nấng, dạy dỗ con nên người. Các quan hệ gia đình được Nho giáo coi trọng, bởi vi, từ ngàn xưa gia đình đã được coi là nền tảng của xã hội. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã khẳng định: “Vua tôi, cha con, vợ chồng là ba cương lớn trong đạo luân lý của người, ngoài ra không có gì lớn hơn” [63, tr. Cha con, vợ chồng là hai trong ba cøng lớn của đạo làm người, nên trách nhiệm của vợ chồng, quyền lợi của con và bổn phận của cha mẹ là điều được quan tâm trong đạo lý gia đình và trong pháp luật.

Như vậy, tư tưởng của Nho giáo là làm người phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, biết ứng xử hợp lẽ, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Dang Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đã xác định một trong những mục tiêu hành động là vì sự no ấm và hạnh phúc của nhân dân. Mục đích, lý tưởng cộng sản là hướng tới lợi ích của con người và vì con người. Trong Báo cáo 12 Chính trị của Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII tháng 6 - 1996) đã nêu rõ: “Mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng.

tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người” [37, tr. Trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4 - 2001) được xây dựng trên quan điểm: “Nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân về ăn, mặc, ở, đi lại, phòng và chữa bệnh, hoc tập, làm việc, tiếp nhận thông tin, sinh hoạt văn hoá” [38, tr. Vấn dé quyền con người và lý tưởng vì con người cũng được thể hiện đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo Người, nước được độc lập, tự do phải đi đôi với dân được ấm no, hạnh phúc.

Người khang định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tot bậc, là làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [2, tr. Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cũng là nhằm “làm cho dân giàu, nước mạnh, ai cũng có công ăn, việc làm, được ăn no, mặc ấm, được học hành”, để “những người già, đau yếu, tàn tật và trẻ em thì xã hội và cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng” [43, tr. Trong các văn bản luật cổ của nước ta đã thể hiện rõ tư tưởng về cấp dưỡng. Sách Hồng Đức thiện chính thư ghi lại các luật lệ được ban hành dưới triều Lê (1428 - 1788) đã quy định: Làm người phải coi trọng sự giáo dưỡng, cha hiền con hiếu làm đầu.

Làm cha mẹ người ta, phải cấp dưỡng cho cơm áo không nên vì đứa con một buổi sớm déi không ăn, mà cha mẹ giận đổ bỏ đi. Lam người con thì phải kính nuôi cha mẹ, không được hiém vì nỗi nghèo khó mà để đến nỗi bội nghĩa cha mẹ. Trái lệnh thì phải chiếu pháp luật mà luận tội, để cho được chọn thâm tình đối với hai thân [34, Điều 161]. Trong các bộ dân luật dưới thời kỳ Pháp thuộc, tư tưởng về cấp dưỡng đã được thể hiện cụ thể và rõ nét.

Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931 (Bộ DLBK) và Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936 (Bộ DLTK) quy định chồng có nghĩa vụ cấp 13 dưỡng cho vợ khi ly hôn [12, Điều 144], [13, Điều 142], cha có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con hoang [12, Điều 182], [13, Điều 180], cha mẹ nuôi phải cấp dưỡng cho con nuôi [12, Điều 193], [13, Điều 192]. Trong các đạo luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam như Luật HN&GD năm 1959 và Luật HN&GD năm 1986 quy định nghĩa vu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn. Luật HN&GD năm 2000 không chỉ quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn mà còn quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em với nhau. Trong các luật tục cổ của một số đồng bào dân tộc thiểu số cũng quy định nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa những người thân thích.

Luật tục của người Edé ở Tây Nguyên quy định cha mẹ phải nuôi nấng, dạy dỗ con, con phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nếu con không chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ để cha mẹ “thiếu củi không được nhờ, thiếu nước không biết tựa vào ai” thì con là người có tội phải đưa ra xét xử [54, tr. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa những người thân thích. Tại các nước Anh, Mỹ, Úc vấn dé cấp dưỡng giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con đã được án lệ và pháp luật công nhận từ rất sớm.

Tại Pháp, Đức, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin. pháp luật cũng quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa những người có quan hệ gia đình. Như vậy, có thể nhận định rằng tư tưởng về cấp dưỡng giữa những người có quan hệ gia đình đã xuất hiện rất sớm trong quan niệm, nhận thức của con người trên cơ sở của tình yêu thương, sự gắn bó, sẻ chia, dim bọc và bổn phận giữa các thành viên gia đình. Khi nhà nước điều chính các quan hệ xã hội bằng pháp luật thì tư tưởng đó được thể chế trong pháp luật.

Vì vậy, pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình. Trên nền tư tưởng Nho giáo, trên cơ sở đạo lý của người Việt Nam, cũng như kế thừa các giá trị luật pháp tiến bộ về cấp dưỡng, Luật HN&GD năm 2000 đã quy định cấp dưỡng như sau: 14 Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này (Điều 8). Với quy định trên, cấp dưỡng được hiểu là việc một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu của người có quan hệ gia đình với mình khi không sống chung. Quy định này đã tạo cơ sở để xác định nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh khi những người có quan hệ gia đình không sống chung với nhau.

Tuy vậy, quy định này chưa thể hiện một cách khái quát về vấn đề cấp dưỡng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và Gia đình - Lý luận và thực tiễn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về chế định cấp dưỡng trong bối cảnh pháp luật Việt Nam. Tác giả không chỉ phân tích lý thuyết mà còn đưa ra những thực tiễn áp dụng, giúp người đọc hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong hôn nhân và gia đình. Bài luận án này không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho những ai đang tìm hiểu về luật pháp liên quan đến hôn nhân và gia đình, từ đó nâng cao nhận thức và khả năng áp dụng pháp luật trong thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các lĩnh vực liên quan, bạn có thể tham khảo Luận án tiến sĩ nghiên cứu tổng hợp các chất lai của một số triterpenoid có chứa nhóm benzamide và hydroxamate, nơi bạn sẽ tìm thấy những nghiên cứu về hóa học có thể liên quan đến các khía cạnh pháp lý trong nghiên cứu và phát triển. Ngoài ra, Luận án tiến sĩ nghiên cứu văn bản bảo đỉnh hành trì bí chỉ toàn chương cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các văn bản pháp lý và quy định liên quan. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ dạy học môn vẽ kỹ thuật cơ khí theo tiếp cận học tập tự định hướng cho sinh viên ngành công nghệ kỹ thuật sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về phương pháp giảng dạy và ứng dụng trong lĩnh vực kỹ thuật, có thể liên quan đến việc áp dụng luật trong giáo dục và đào tạo. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề pháp lý và ứng dụng thực tiễn.