Tổng quan luận án

Công trình "Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình - Vấn đề lý luận và thực tiễn" là luận án tiến sĩ luật học thuộc chuyên ngành Luật Dân sự (mã số 62.01), được tác giả Ngô Thị Hường thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Hà Thị Mai Hiên và bảo vệ năm 2006. Luận án lựa chọn hướng tiếp cận pháp lý - xã hội học, kết hợp phân tích chuẩn tắc pháp lý thực định, lịch sử lập pháp và khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định từ bối cảnh thể chế hóa Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về xây dựng gia đình văn hóa, cụ thể hóa các quyền cơ bản của con người về chăm sóc, nuôi dưỡng trong Hiến pháp và Bộ luật Dân sự. Trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 ra đời, các đạo luật hôn nhân và gia đình trước đó chỉ giới hạn quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 đã đổi mới khái niệm và mở rộng phạm vi cấp dưỡng sang quan hệ giữa cha mẹ và con, giữa anh chị em, giữa ông bà và cháu. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy hàng chục ngàn vụ việc ly hôn phát sinh quan hệ cấp dưỡng mỗi năm bộc lộ nhiều điểm chưa thấu tình đạt lý; nhiều trường hợp người già yếu, người tàn tật, người chưa thành niên không được chu cấp dẫn đến tình trạng trẻ em lang thang, cơ nhỡ. Do đó, việc nghiên cứu có hệ thống về chế định này nhằm giải quyết khoảng trống giữa quy phạm pháp lý và thực tiễn thi hành.

Mục đích nghiên cứu của luận án bao gồm 4 nội dung:

  1. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề cấp dưỡng và chế định cấp dưỡng trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  2. Tìm ra những điểm hợp lý và điểm bất cập trong pháp luật hiện hành và trong quá trình thi hành, áp dụng các quy định về cấp dưỡng.
  3. Góp phần đánh giá tác động của chế định cấp dưỡng đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình trong thời gian qua.
  4. Đề xuất ý kiến nhằm hoàn thiện chế định cấp dưỡng và việc thi hành, áp dụng trong thực tiễn.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 4 điểm:

  1. Tìm hiểu và so sánh để nêu rõ bản chất pháp lý, tính nhân văn và tác động tích cực đối với xã hội của các quy định về cấp dưỡng trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
  2. Phân tích các quy định về cấp dưỡng trong pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng để tìm ra những bất cập, hạn chế hoặc khiếm khuyết của các quy định đó.
  3. Đánh giá sự tác động của chế định cấp dưỡng đối với gia đình Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.
  4. Phân tích và xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn của những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về cấp dưỡng ở Việt Nam trong thời gian tới.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật về cấp dưỡng giữa những người có quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, tập trung vào bối cảnh áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 với các cứ liệu khảo sát thực tế tại một số địa phương (Hà Nội, Lai Châu) và số liệu thống kê xét xử của Tòa án nhân dân tối cao đến các năm 2002, 2003, 2004.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm lại các công trình chuyên môn đã công bố liên quan trực tiếp đến cấp dưỡng:

  • Bài viết "Vấn đề cấp dưỡng trong Luật HN&GD năm 2000" của tác giả Nguyễn Phương Lan đăng trên Tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội (Số 01 năm 2001).
  • Bài viết "Về mức cấp dưỡng khi ly hôn" của tác giả Hồng Hạnh đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật - Bộ Tư pháp (Số 11 năm 2001).
  • Bài viết "Buộc bị cáo nộp tiền cấp dưỡng một lần hay nhiều lần" của tác giả Nguyễn Thanh Lành đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Số 10 năm 2002).
  • Các giáo trình Luật Hôn nhân và gia đình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, giáo trình đào tạo từ xa của Khoa Luật - Viện Đại học Mở Hà Nội và của Trung tâm đào tạo từ xa - Đại học Huế.

Tác giả nhận định các công trình trên mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, truyền đạt các quy định của pháp luật thực định hoặc tiếp cận một số khía cạnh riêng lẻ dưới dạng đại cương, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện và chuyên sâu ở cấp độ một luận án luật học.

Vị trí của luận án được xác lập là công trình nghiên cứu chuyên khảo đầu tiên tiếp cận chế định cấp dưỡng một cách có hệ thống: từ việc phân tích bản chất, phân định ranh giới khái niệm cấp dưỡng với nuôi dưỡng và phụng dưỡng, khảo cứu tiến trình lịch sử pháp luật Việt Nam qua các thời kỳ, phân tích luật học so sánh quốc tế, đến đánh giá toàn diện các quy định thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và đề xuất giải pháp sửa đổi luật cụ thể.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý luận dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và gia đình. Tác giả vận dụng luận điểm của Ph. Ăng-ghen trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" về vai trò quyết định của hai loại sản xuất đối với lịch sử: sản xuất tư liệu sinh hoạt và sản xuất ra bản thân con người. Đồng thời, luận án trích dẫn quan điểm của Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ VIII (1996) về xây dựng gia đình là tế bào lành mạnh của xã hội, Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 tại Đại hội Đảng lần thứ IX (2001) về nâng cao chất lượng cuộc sống, và tư tưởng Nho giáo truyền thống (thiên Lễ vận trong sách Lễ ký, tư tưởng Khổng - Mạnh, nhận định của Ngô Sĩ Liên về ba cương lớn).

Khung phân tích khái niệm của luận án tập trung vào:

  • Đối chiếu quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 về tài sản và quyền tài sản, quan điểm của TS. Nguyễn Ngọc Điện, Dictionary of Law của Đại học Oxford, cùng định nghĩa của các từ điển ngôn ngữ (Từ điển Tiếng Việt, Từ điển Từ Hán Việt, Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt của Nguyễn Lân).
  • Thiết lập ranh giới pháp lý giữa ba hành vi: "cấp dưỡng" (cung cấp tiền hoặc hiện vật đáp ứng nhu cầu thiết yếu khi không sống chung hoặc khi có hành vi trốn tránh nghĩa vụ), "nuôi dưỡng" (chăm sóc, tạo điều kiện vật chất và tinh thần thường xuyên khi cùng chung sống), và "phụng dưỡng" (chăm sóc, chu cấp vật chất và tôn kính của con cháu đối với cha mẹ, ông bà theo Pháp lệnh Người cao tuổi và Bộ luật Dân sự).
  • Hai nguyên tắc cốt lõi của quan hệ cấp dưỡng: nguyên tắc không thể chuyển giao (gắn liền với nhân thân, không được thay thế bằng nghĩa vụ khác, không được bù trừ nợ theo Điều 379 và 381 Bộ luật Dân sự năm 2005) và nguyên tắc không đền bù ngang giá (không mang tính chất hàng hóa - tiền tệ, không phụ thuộc quy luật giá trị).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp lịch sử pháp lý: Khảo sát chế định cấp dưỡng qua các văn bản cổ (Quốc triều hình luật, Hồng Đức thiện chính thư Điều 161, luật tục Êđê); pháp luật thời Pháp thuộc (Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936, Bộ Dân luật Giản yếu 1883); giai đoạn 1945 - 1975 (Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, Thông tư số 01-TATC ngày 06/01/1964); giai đoạn từ 1976 đến nay (Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP).
  • Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu quy định cấp dưỡng của Cộng hòa Liên bang Đức (Điều 1570, 1602, 1603 Luật Gia đình), Cuba (Điều 122, 135 Luật Gia đình), Trung Quốc (Điều 15, 22, 23 Luật Hôn nhân), Thái Lan (Điều 1564 Bộ luật Dân sự và Thương mại), Pháp (Điều 206 Bộ luật Dân sự), Bungary (Điều 85 Luật Gia đình), Nhật Bản (Điều 877 Bộ luật Dân sự), và quá trình chuyển dịch án lệ thông luật tại Anh, Mỹ, Úc (từ nguyên tắc hợp nhất tài sản sang chế độ tài sản riêng biệt).
  • Phương pháp điều tra xã hội học và thống kê thực tiễn: Thu thập số liệu khảo sát người cao tuổi, người tàn tật, trẻ em mồ côi tại địa bàn quận Thanh Xuân, quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) và tỉnh Lai Châu; tổng hợp số liệu các vụ án ly hôn của Tòa án nhân dân tối cao.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế định cấp dưỡng

Chương 1 làm rõ nguồn gốc tự nhiên, đạo lý truyền thống và bản chất pháp lý của cấp dưỡng. Tác giả phân tích những bất cập trong định nghĩa tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000: luật chỉ quy định cấp dưỡng phát sinh khi "không sống chung", bỏ sót trường hợp cấp dưỡng mang tính chế tài khi sống chung nhưng trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng (khoản 2 Điều 50); việc luật quy định phương tiện thực hiện là "tiền hoặc tài sản khác" chưa chính xác, bởi theo Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005 tài sản bao gồm cả "quyền tài sản", vốn không thể trực tiếp sử dụng để đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu (ăn, mặc, ở, học hành, khám chữa bệnh) của người được cấp dưỡng. Từ đó, tác giả xây dựng định nghĩa khoa học: Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực cấp dưỡng giữa những người có quan hệ gia đình trong phạm vi pháp luật quy định nhằm bảo đảm ổn định trật tự các quan hệ cấp dưỡng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

Về bản chất, cấp dưỡng là biểu hiện cụ thể của nghĩa vụ quan tâm, tương trợ gia đình, đồng thời là một quan hệ tài sản chịu sự chi phối bởi quyền sở hữu tài sản và quan hệ lao động. Về ý nghĩa xã hội, chế định góp phần củng cố các chức năng gia đình (nuôi dưỡng, tái sản xuất sức lao động), củng cố mối quan hệ giữa các thế hệ và giáo dục đạo đức, lối sống nhân nghĩa.

Chương 1 trích dẫn nhiều số liệu khảo sát thực tế nhằm chứng minh vai trò an sinh của gia đình:

Địa bàn / Phạm vi khảo sát Thời điểm Nhóm đối tượng Dữ liệu và tỷ lệ thực tế ghi nhận
Toàn quốc Đến giữa năm 2003 Người tàn tật Khoảng 5,1 triệu người tàn tật; sau 5 năm thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật (1998 - 2003) vẫn còn khoảng 2,5 triệu người chưa có việc làm, phải sống nhờ gia đình.
Toàn quốc (Số liệu TANDTC) 1991, 1998, 2002 Vụ việc ly hôn Năm 1991: 22.000 vụ; Năm 1998: 44.000 vụ; Năm 2002: 56.000 vụ. Hàng năm có hàng chục ngàn vụ phát sinh quan hệ cấp dưỡng.
Phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội Cuối tháng 9/2004 Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) 1.110 cụ; 100% được con cháu phụng dưỡng chu đáo, không có trường hợp bị ngược đãi, không có cụ nào phải gửi vào Trung tâm dưỡng lão.
Phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, Hà Nội Tháng 10/2004 Người trong độ tuổi lao động mất sức lao động (18 đến dưới 60 tuổi) 45 người (tàn tật, tâm thần, bại liệt); 100% được gia đình nuôi dưỡng: 39 người sống cùng cha mẹ, vợ/chồng, con (gần 90%); 3 người sống cùng ông bà (khoảng 5%); 3 người sống cùng chị dâu sau khi anh trai mất (khoảng 5%).
Phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Tháng 9/2004 Người trong độ tuổi lao động mất sức lao động (18 đến 60 tuổi) 28 người; 100% được gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà; 12 người mắc bệnh nặng có hoàn cảnh khó khăn được hưởng trợ cấp xã hội.
Phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Tháng 10/2004 Trẻ em mồ côi 30 trẻ mồ côi cha hoặc mẹ (được cha/mẹ còn lại nuôi dưỡng); 0 trẻ mồ côi cả cha và mẹ.
Tỉnh Lai Châu (cũ) Tháng 7/2003 Trẻ em mồ côi Khoảng 300 trẻ mồ côi cả cha mẹ trên tổng số khoảng 1.000 trẻ mồ côi; 187 cháu được hưởng trợ cấp thường xuyên mức 45.000 đồng/tháng/cháu; các trường hợp còn lại do người thân cưu mang.

Chương 2: Chế định cấp dưỡng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và thực tiễn áp dụng

Chương 2 đi sâu phân tích hai nhóm nội dung lớn: các quy định chung và các trường hợp cấp dưỡng cụ thể.

Về các quy định chung:

  • Quan điểm chỉ đạo thể hiện sự chuyển biến trong nhận thức lập pháp: mở rộng chủ thể cấp dưỡng ra ngoài phạm vi quan hệ vợ chồng khi ly hôn, xác lập trách nhiệm của gia đình như một hệ thống an sinh xã hội đầu tiên.
  • Căn cứ phát sinh và chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 61): nghĩa vụ chỉ phát sinh khi thỏa mãn điều kiện kép: người nhận lâm vào hoàn cảnh khó khăn/chưa thành niên/mất khả năng lao động không có tài sản, và người cấp dưỡng có "khả năng thực tế" theo Điều 16 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP (có thu nhập thường xuyên hoặc còn tài sản sau khi trừ chi phí thiết yếu). Tác giả phân tích điểm bất cập của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP khi chỉ khấu trừ chi phí của bản thân người cấp dưỡng mà không tính đến chi phí sinh hoạt của cả gia đình họ. Đồng thời, tác giả luận giải hướng xử lý tài sản: nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ riêng, người cấp dưỡng phải dùng tài sản riêng; trường hợp không đủ thì phải thực hiện thủ tục chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
  • Mức cấp dưỡng và phương thức thực hiện: luật quy định linh hoạt đóng góp bằng tiền hoặc lương thực quy ra gạo; định kỳ hàng tháng, quý, 6 tháng, 1 năm hoặc một lần.
  • Vấn đề cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài và cơ chế bảo đảm thi hành án còn thiếu các hướng dẫn cụ thể, dẫn đến hiệu quả áp dụng thấp.

Về các trường hợp cấp dưỡng:

  • Cấp dưỡng giữa cha mẹ và con (Điều 56): bao gồm nghĩa vụ của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn, nghĩa vụ đối với con ngoài giá thú, con đã thành niên mất khả năng lao động, và nghĩa vụ của con cái phụng dưỡng cha mẹ già yếu.
  • Cấp dưỡng giữa anh chị em (Điều 57): phát sinh khi em chưa thành niên hoặc người đã thành niên mất khả năng lao động không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không còn khả năng nuôi dưỡng.
  • Cấp dưỡng giữa ông bà và cháu (Điều 58): điều chỉnh quan hệ hai chiều khi cháu mồ côi hoặc ông bà già yếu không còn người nuôi dưỡng trực tiếp.
  • Cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn (Điều 60): áp dụng khi một bên túng thiếu, có yêu cầu chính đáng và bên kia có khả năng thực tế. Tác giả chỉ ra hạn chế của Điều 18 khi chỉ quy định vợ chồng "chăm sóc" nhau mà không quy định nghĩa vụ "nuôi dưỡng", làm thiếu căn cứ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Chương 3: Phương hướng hoàn thiện chế định cấp dưỡng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

Chương 3 đề xuất định hướng và giải pháp dựa trên ba đòi hỏi thực tiễn:

  1. Yêu cầu hoàn thiện: Xuất phát từ sự biến đổi cấu trúc gia đình thời kỳ đổi mới (gia đình hạt nhân gia tăng, người cao tuổi sống cô lẻ, áp lực kinh tế); từ yêu cầu nâng cao chất lượng hoạt động xét xử của Tòa án (khắc phục các quyết định tuyên mức cấp dưỡng mang tính hình thức, thiếu khả thi); và từ yêu cầu hội nhập quốc tế.
  2. Phương hướng hoàn thiện: Chế định phải quán triệt mục tiêu vì con người; xác định rõ vai trò gia đình là hệ thống an sinh xã hội cơ bản cho người chưa thành niên, người tàn tật, người già yếu; quy định pháp lý phải cụ thể, rõ ràng, dễ áp dụng.
  3. Giải pháp cụ thể:
  • Hoàn thiện lập pháp: Kiến nghị sửa đổi Điều 56, khoản 5 và 6 Điều 61, Điều 18, Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; bổ sung các điều khoản về thứ tự cấp dưỡng, thời điểm cấp dưỡng, và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, bác, cậu ruột với cháu.
  • Ban hành văn bản giải thích áp dụng: Cần có nghị quyết hoặc thông tư hướng dẫn các khái niệm: "người không sống chung", "người trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng", "người đã thành niên mà không có khả năng lao động", "người không có tài sản để tự nuôi mình".
  • Tuyên truyền đạo đức xã hội và nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự: tăng cường biện pháp cưỡng chế trích thu nhập, khấu trừ tài sản đối với các bản án cấp dưỡng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn như sau:

Về mặt lý luận:

  • Xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về cấp dưỡng và chế định cấp dưỡng, khắc phục giới hạn của quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000.
  • Phân tích quan điểm chỉ đạo xây dựng chế định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, làm rõ sự chuyển đổi căn bản trong nhận thức lập pháp của Đảng và Nhà nước về trách nhiệm gia đình.
  • Phân loại nghĩa vụ cấp dưỡng thành hai dạng: cấp dưỡng không mang tính chế tài (phát sinh giữa những người không sống chung) và cấp dưỡng mang tính chế tài (phát sinh do trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng theo khoản 2 Điều 50).
  • Hệ thống hóa ba hàng thứ tự cấp dưỡng theo luật thực định: hàng thứ nhất là cha mẹ và con; hàng thứ hai là anh chị em; hàng thứ ba là ông bà và cháu.
  • Đánh giá toàn diện tác động của chế định cấp dưỡng đối với chức năng gia đình, quan hệ giữa các thành viên và các chuẩn mực đạo đức, lối sống của người Việt Nam.

Về mặt thực tiễn và kiến nghị lập pháp:

  • Sửa đổi Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nhằm phân hóa cụ thể điều kiện cấp dưỡng giữa cha, mẹ và con cho phù hợp với từng hoàn cảnh phát sinh (ly hôn, sinh con ngoài giá thú, con tàn tật).
  • Sửa đổi khoản 5 và khoản 6 Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để xác định chính xác và bổ sung thêm các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Sửa đổi Điều 18 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 bằng cách bổ sung nghĩa vụ "nuôi dưỡng" giữa vợ và chồng bên cạnh nghĩa vụ "chăm sóc", tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng ngay trong thời kỳ hôn nhân.
  • Sửa đổi Điều 60 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 để quy định riêng biệt, cụ thể về các điều kiện và phương thức cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
  • Bổ sung quy định mới vào Luật Hôn nhân và gia đình về thứ tự ưu tiên thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thời điểm bắt đầu phát sinh nghĩa vụ, và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, bác, cậu ruột với cháu mồ côi theo truyền thống văn hóa dân tộc.
  • Kiến nghị ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất các khái niệm: "người không sống chung", "người trốn tránh thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng", "người đã thành niên mà không có khả năng lao động", "người không có tài sản để tự nuôi mình".

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án thể hiện ở phạm vi cứ liệu thực tiễn:

  • Dữ liệu khảo sát xã hội học thực địa chỉ tập trung vào một số địa bàn hẹp (phường Khương Đình thuộc quận Thanh Xuân, phường Chương Dương thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội và tỉnh Lai Châu cũ), chưa bao quát mẫu đại diện cho các vùng miền khác nhau trên phạm vi cả nước.
  • Số liệu thống kê của ngành Tòa án chỉ cập nhật đến năm 2002 - 2003; các phân tích thực tiễn dựa trên bối cảnh áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 trong những năm đầu thi hành và Bộ luật Dân sự năm 2005 vừa ban hành.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ nội dung văn bản:

  • Mở rộng phạm vi điều tra thực tiễn trên quy mô toàn quốc để đánh giá sự phân hóa mức sống và khả năng cấp dưỡng giữa khu vực đô thị và nông thôn.
  • Nghiên cứu sâu hơn về cơ chế bảo đảm thi hành án dân sự đối với các khoản tiền cấp dưỡng định kỳ.
  • Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện các quy định về quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế.

Giá trị tham khảo

Công trình có giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành luật: Tham khảo khung lý thuyết chuyên sâu về quyền nhân thân gắn với tài sản, lịch sử lập pháp về hôn nhân gia đình Việt Nam và phương pháp so sánh luật học với các hệ thống pháp luật nước ngoài (Đức, Cuba, Trung Quốc, Pháp, Anh, Mỹ, Úc).
  • Giảng viên tại các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Tư pháp, các khoa Luật): Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên đề về chế định cấp dưỡng và giải quyết các tranh chấp gia đình.
  • Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự: Tham khảo các phân tích về căn cứ xác định khả năng kinh tế thực tế của người cấp dưỡng, việc phân định tài sản riêng và tài sản chung của vợ chồng để bảo đảm thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Các cơ quan làm công tác lập pháp và hoạch định chính sách (Bộ Tư pháp, Ủy ban Pháp luật của Quốc hội): Cung cấp các luận cứ khoa học thực tiễn để phục vụ việc sửa đổi, bổ sung Luật Hôn nhân và gia đình và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm cấp dưỡng tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có điểm bất cập nào theo phân tích của tác giả?

Tác giả chỉ ra hai bất cập chính: Thứ nhất, luật quy định cấp dưỡng là việc đóng góp để đáp ứng nhu cầu của người "không sống chung với mình", điều này bỏ sót trường hợp cấp dưỡng mang tính chế tài khi các bên vẫn sống chung nhưng có hành vi trốn tránh nghĩa vụ nuôi dưỡng (khoản 2 Điều 50). Thứ hai, luật nêu phương tiện thực hiện nghĩa vụ là "tiền hoặc tài sản khác"; theo Điều 163 Bộ luật Dân sự năm 2005, tài sản bao gồm cả quyền tài sản, nhưng nếu người có nghĩa vụ đóng góp quyền tài sản thì người nhận không thể trực tiếp sử dụng để đáp ứng ngay các nhu cầu thiết yếu hàng ngày (ăn, mặc, ở, chữa bệnh, học hành).

2. Tác giả phân chia nghĩa vụ cấp dưỡng thành mấy loại và tư cách chủ thể có nghĩa vụ khác nhau ra sao?

Tác giả chia nghĩa vụ cấp dưỡng thành hai loại:

  • Loại thứ nhất là cấp dưỡng không mang tính chế tài: Phát sinh khi người có nghĩa vụ và người được cấp dưỡng không sống chung với nhau. Chủ thể có nghĩa vụ cấp dưỡng trong trường hợp này bắt buộc phải là người đã thành niên (theo Điều 57, 58 và khoản 2 Điều 59).
  • Loại thứ hai là cấp dưỡng mang tính chế tài: Phát sinh do người có nghĩa vụ nuôi dưỡng trốn tránh thực hiện nghĩa vụ đối với người cần nuôi dưỡng. Chủ thể có nghĩa vụ trong trường hợp này có thể là người chưa thành niên nếu họ có tài sản riêng (do được thừa kế, tặng cho hoặc thu nhập hợp pháp khác) nhưng trốn tránh nuôi dưỡng cha mẹ, ông bà, anh chị em.

3. Khái niệm "người không có tài sản để tự nuôi mình" được tác giả luận giải theo quan điểm nào?

Văn bản nêu ra hai quan điểm học thuật: Quan điểm thứ nhất cho rằng người đó có tài sản nhưng tài sản không thể khai thác sinh lợi và không thể đem bán; quan điểm thứ hai cho rằng người đó hoàn toàn không có tài sản hoặc tài sản quá nhỏ. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ nhất vì phù hợp với đạo lý và bản chất quan hệ gia đình. Nếu theo quan điểm thứ hai, cha mẹ già yếu mất sức lao động có một ngôi nhà để ở nhưng không thể cho thuê hay chuyển nhượng sẽ bị buộc phải bán nhà trở thành vô gia cư rồi mới được quyền yêu cầu con cái cấp dưỡng, điều này trái với đạo lý gia đình Việt Nam.

4. Khi người phải cấp dưỡng không có tài sản riêng, việc xử lý tài sản chung của vợ chồng được tác giả giải quyết như thế nào?

Tác giả khẳng định nghĩa vụ cấp dưỡng là nghĩa vụ tài sản riêng của mỗi cá nhân (trừ trường hợp vợ chồng cùng cấp dưỡng cho con chung), không phải nghĩa vụ chung của vợ chồng. Do đó, không thể trực tiếp trích tài sản chung của vợ chồng để thực hiện nghĩa vụ của một bên. Giải pháp đúng với lý luận pháp lý là phải tiến hành thủ tục chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nhằm xác định phần tài sản riêng của người có nghĩa vụ, sau đó sử dụng phần tài sản riêng này để thực hiện việc cấp dưỡng.

5. Luận án đề xuất sửa đổi những điều luật cụ thể nào trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000?

Tác giả đề xuất sửa đổi và bổ sung 4 điều luật chính:

  • Sửa Điều 18: Bổ sung thêm nghĩa vụ "nuôi dưỡng" giữa vợ và chồng bên cạnh nghĩa vụ "chăm sóc" nhằm tạo cơ sở pháp lý cho quan hệ cấp dưỡng giữa vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.
  • Sửa Điều 56: Quy định chi tiết các trường hợp cấp dưỡng giữa cha mẹ và con (sau ly hôn, con ngoài giá thú, con đã thành niên mất khả năng lao động).
  • Sửa Điều 60: Quy định riêng biệt, cụ thể về các điều kiện và phương thức cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
  • Sửa khoản 5 và khoản 6 Điều 61: Chuẩn hóa và bổ sung đầy đủ các trường hợp chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Ngô Thị Hường là công trình chuyên khảo đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định cấp dưỡng trong pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam. Thông qua việc kết hợp nghiên cứu lịch sử lập pháp, luật học so sánh quốc tế và dữ liệu khảo sát thực tế tại các địa phương, công trình làm sáng tỏ bản chất tài sản gắn liền nhân thân của quan hệ cấp dưỡng cùng vai trò an sinh của thiết chế gia đình. Luận án chỉ ra các điểm bất cập trong các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và thực tiễn xét xử, thi hành án. Các luận cứ khoa học và hệ thống kiến nghị sửa đổi luật cụ thể của tác giả cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và hoàn thiện chính sách pháp luật về hôn nhân và gia đình tại Việt Nam.