Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG 1. KHÁI NIỆM CẤP DƯỠNG VÀ CHẾ ĐỊNH CẤP DƯỠNG 1. Khái niệm cấp dưỡng 1. Khái quát chung về cấp dưỡng Cùng với nuôi dưỡng và phụng dưỡng, cấp dưỡng là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong cuộc sống cũng như trong khoa học pháp lý để chỉ việc người này phải cung cấp các điều kiện vật chất nhằm bảo đảm cuộc sống cho người khác trong một mối quan hệ ràng buộc về quyền và nghĩa vụ nhất định.
Có thể nói nghĩa vụ cấp dưỡng được bắt nguồn từ nghĩa vụ nuôi dưỡng, một nghĩa vụ tự nhiên phát sinh từ bản năng duy trì sự sống trong đời sống con người. Trong quá trình phát triển của xã hội, từ khi con người vừa mới thoát ra khỏi cuộc sống hoang dã của động vật đã biết sống quây quần theo quan hệ ruột thịt với nhau. Trong bầy người nguyên thủy, một tổ chức xã hội đầu tiên của loài người, con người đã biết phân công lao động nhằm tìm kiếm, phân chia thức ăn và nuôi dưỡng con cái. Khi bầy người nguyên thuỷ tan rã nhường chỗ cho một tổ chức xã hội chặt chẽ hơn là công xã thị tộc thì việc nuôi dưỡng con cái vẫn được quan tâm đặc biệt.
Trong thị tộc, lớp con cháu có thói quen kính trọng và vâng lời người trên, ngược lại lớp người trên chăm lo, bảo đảm nuôi dạy tất cả lớp con cháu của thị tộc như nhau [65, tr. Trong bước phát triển tiếp theo của lịch sử, cùng với sự ra đời của các hình thái gia đình, trách nhiệm của người mẹ, người cha trong việc nuôi dạy con cũng được khẳng định [1, tr. Từ nghĩa vụ mang tính tự nhiên, nuôi dưỡng dần trở thành một cách xử sự chung, là đạo lý của con người. Trong đời sống hàng ngày, trải qua những biến động của lịch sử, những thảm hoa do thiên nhiên gây ra, ốm đau, bệnh tật.
với quan niệm “lá lành đùm lá rách”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no” con người đã biết chia sẻ, đùm bọc lẫn nhau, đó là những tiền đề phát sinh quan hệ cấp dưỡng. Trong Sách Lễ ký (thiên Lễ vận) ghi chép về xã hội thị tộc ở Trung Quốc có đoạn: l1 Thi hành đạo lớn thiên hạ là chung, chọn người hiền tài, chú trọng tín nghĩa và sự hoà mục. Do vậy, người ta không chỉ thân với người thân của mình, không chỉ yêu con của mình. Làm cho người già có chỗ dưỡng lão, trai tráng có chỗ dùng, trẻ nhỏ có chỗ nuôi nấng, những kẻ quan quả cô độc tàn tật đều có chỗ nuôi [65, tr.
Các thuyết Khổng Tử, Mạnh Tử tiêu biểu cho tư tưởng Nho giáo đều coi trọng hiếu, nghĩa. Con phải hết lòng phụng dưỡng cha mẹ, khi cha mẹ đau ốm phải hết lòng chăm sóc. Con lười biếng không nuôi dưỡng cha mẹ, lơ là với cha mẹ là bất hiếu. Cha mẹ không yêu thương, nuôi nấng con là lỗi đạo làm người.
Đạo Nho đã được truyền bá vào Việt Nam và trở thành một đạo Nho có sắc thái văn hoá Việt Nam [79, tr. Dưới triều Lê, Nho giáo đã được dé cao như một hệ tư tưởng chính thống của nhà nước. Phong tục lễ giáo của gia đình Việt Nam thời bấy giờ là làm con phải lấy sự hiếu với cha mẹ là mối luân thường đứng đầu trăm nết hay của người. Hiếu là kính trọng, thương yêu, vâng lời, phụng dưỡng cha mẹ, nhà dù nghèo cũng lo cơm lành, canh ngọt để phụng dưỡng cha mẹ, nếu ở riêng thì cung cấp tiền để phụng dưỡng cha mẹ, ở xa thì gửi đồng quà, tấm bánh dâng cha mẹ [79, tr.
Với quan niệm vợ chồng lấy nhau là để sinh đẻ con cái, nối dõi tông đường nên khi sinh con ra cha mẹ phải hết lòng yêu thương, nuôi nấng, dạy dỗ con nên người. Các quan hệ gia đình được Nho giáo coi trọng, bởi vi, từ ngàn xưa gia đình đã được coi là nền tảng của xã hội. Nhà sử học Ngô Sĩ Liên đã khẳng định: “Vua tôi, cha con, vợ chồng là ba cương lớn trong đạo luân lý của người, ngoài ra không có gì lớn hơn” [63, tr. Cha con, vợ chồng là hai trong ba cøng lớn của đạo làm người, nên trách nhiệm của vợ chồng, quyền lợi của con và bổn phận của cha mẹ là điều được quan tâm trong đạo lý gia đình và trong pháp luật.
Như vậy, tư tưởng của Nho giáo là làm người phải biết yêu thương, đùm bọc lẫn nhau, biết ứng xử hợp lẽ, có trách nhiệm với gia đình và xã hội. Dang Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đã xác định một trong những mục tiêu hành động là vì sự no ấm và hạnh phúc của nhân dân. Mục đích, lý tưởng cộng sản là hướng tới lợi ích của con người và vì con người. Trong Báo cáo 12 Chính trị của Đại hội Đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIII tháng 6 - 1996) đã nêu rõ: “Mục tiêu xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng.
tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là tổ ấm của mỗi người” [37, tr. Trong Chiến lược Phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 thông qua tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4 - 2001) được xây dựng trên quan điểm: “Nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân về ăn, mặc, ở, đi lại, phòng và chữa bệnh, hoc tập, làm việc, tiếp nhận thông tin, sinh hoạt văn hoá” [38, tr. Vấn dé quyền con người và lý tưởng vì con người cũng được thể hiện đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Theo Người, nước được độc lập, tự do phải đi đôi với dân được ấm no, hạnh phúc.
Người khang định: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tot bậc, là làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [2, tr. Mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cũng là nhằm “làm cho dân giàu, nước mạnh, ai cũng có công ăn, việc làm, được ăn no, mặc ấm, được học hành”, để “những người già, đau yếu, tàn tật và trẻ em thì xã hội và cộng đồng có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng” [43, tr. Trong các văn bản luật cổ của nước ta đã thể hiện rõ tư tưởng về cấp dưỡng. Sách Hồng Đức thiện chính thư ghi lại các luật lệ được ban hành dưới triều Lê (1428 - 1788) đã quy định: Làm người phải coi trọng sự giáo dưỡng, cha hiền con hiếu làm đầu.
Làm cha mẹ người ta, phải cấp dưỡng cho cơm áo không nên vì đứa con một buổi sớm déi không ăn, mà cha mẹ giận đổ bỏ đi. Lam người con thì phải kính nuôi cha mẹ, không được hiém vì nỗi nghèo khó mà để đến nỗi bội nghĩa cha mẹ. Trái lệnh thì phải chiếu pháp luật mà luận tội, để cho được chọn thâm tình đối với hai thân [34, Điều 161]. Trong các bộ dân luật dưới thời kỳ Pháp thuộc, tư tưởng về cấp dưỡng đã được thể hiện cụ thể và rõ nét.
Bộ dân luật Bắc kỳ năm 1931 (Bộ DLBK) và Bộ dân luật Trung kỳ năm 1936 (Bộ DLTK) quy định chồng có nghĩa vụ cấp 13 dưỡng cho vợ khi ly hôn [12, Điều 144], [13, Điều 142], cha có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con hoang [12, Điều 182], [13, Điều 180], cha mẹ nuôi phải cấp dưỡng cho con nuôi [12, Điều 193], [13, Điều 192]. Trong các đạo luật hôn nhân và gia đình của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và của Nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam như Luật HN&GD năm 1959 và Luật HN&GD năm 1986 quy định nghĩa vu cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn. Luật HN&GD năm 2000 không chỉ quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn mà còn quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, giữa ông bà và cháu, giữa anh chị em với nhau. Trong các luật tục cổ của một số đồng bào dân tộc thiểu số cũng quy định nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng giữa những người thân thích.
Luật tục của người Edé ở Tây Nguyên quy định cha mẹ phải nuôi nấng, dạy dỗ con, con phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Nếu con không chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ để cha mẹ “thiếu củi không được nhờ, thiếu nước không biết tựa vào ai” thì con là người có tội phải đưa ra xét xử [54, tr. Pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa những người thân thích. Tại các nước Anh, Mỹ, Úc vấn dé cấp dưỡng giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con đã được án lệ và pháp luật công nhận từ rất sớm.
Tại Pháp, Đức, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Quốc, Philippin. pháp luật cũng quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa những người có quan hệ gia đình. Như vậy, có thể nhận định rằng tư tưởng về cấp dưỡng giữa những người có quan hệ gia đình đã xuất hiện rất sớm trong quan niệm, nhận thức của con người trên cơ sở của tình yêu thương, sự gắn bó, sẻ chia, dim bọc và bổn phận giữa các thành viên gia đình. Khi nhà nước điều chính các quan hệ xã hội bằng pháp luật thì tư tưởng đó được thể chế trong pháp luật.
Vì vậy, pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều quy định nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình. Trên nền tư tưởng Nho giáo, trên cơ sở đạo lý của người Việt Nam, cũng như kế thừa các giá trị luật pháp tiến bộ về cấp dưỡng, Luật HN&GD năm 2000 đã quy định cấp dưỡng như sau: 14 Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, là người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, là người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật này (Điều 8). Với quy định trên, cấp dưỡng được hiểu là việc một người phải đóng góp tiền hoặc tài sản để đáp ứng nhu cầu của người có quan hệ gia đình với mình khi không sống chung. Quy định này đã tạo cơ sở để xác định nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh khi những người có quan hệ gia đình không sống chung với nhau.
Tuy vậy, quy định này chưa thể hiện một cách khái quát về vấn đề cấp dưỡng.