mở đầu ở tỉnh Côngpông Xoài vào giữa năm 1861 nhằm phế truất vua Norodom bạc nhược. Nhân dân tỉnh Baphơnông cũng nổi dậy hưởng ứng. Chẳng bao lâu phong trào khởi nghĩa lan rộng khắp các tinh phía Đông sông Mekong. Nhìn chung từ cuối thé ky XIX đến đầu thế ky XX, cuộc chiến đấu của Nhân dân Campuchia chống thực dân Pháp đã diễn ra liên tục.
Các hình thức chéng đối ngày càng phong phú, nhiều vẻ. Pho biên nhất vẫn là những cuộc nội day vũ trang; tuy vũ khí thô sơ, trình độ tổ chức còn thấp và bị đàn áp khỏc liệt, nhưng tinh thần chiến đấu thi that là bất Khuất kiên cường. Ngay từ buổi đầu, cuộc dau tranh của Nhân dân Campuchia đã có mối liên hệ tự phát với Nhàn dân Việt Nam, mo đầu cho truyền thống đoàn kết anh em giữa hai dân tộc cùng chung kẻ thù là bọn đếquốc xâm lược. Vai trò lãnh đạo Nhân dân Campuchia chống Pháp hồi này thường là do các vị hoàng thân yêu nước và các nhà sư nắm giữ.
Khi có người thuộc tầng lớp lao động đứng lên tổ chức khởi nghĩa thì cũng còn phải dựa vào danh nghĩa hoàng than, quý tộc dé tập hợp và lãnh đạo quan chúng. Đáng chú ý là vị tri của tầng lớp su sãi trong cuộc vận động yêu nước rất quan trọng. Viên kham sứ Bodoanh đã nhận định rằng: “Sư sãi là người bảo vệ truyền thống và lề giáo, truyền bá tri thức, hướng dẫn và làm gương cho Nhân dân, là sợi dây bản vững để thắt chặt sự thống nhất dân tộc. Nhà chức trách phải quan tâm ~20- đến trạng thái tư tưởng cua ho một cách đặc biệt dé giữ vững trật tự an ninh” (57, 14-15].
Đầu năm 1930, Quốc tế Cong san đã khang định trong một bức thư gửi cho những người cộng sản Đông Dương: “Viêm vu quan trong hơn hết và tuyệt đối cần kíp của tất cả những người cộng sản Đông Duong là sang lập một dang cách mạng của giai cấp vo sản. Dang ấy phải là một dang độc nhất, và ở Pong Duong chỉ có đảng ấy là tổ chúc cộng sản mà thé? [ L7]. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, từ năm 1930, ở Việt Nam, ở Lào, và Campuchia, cuộc chiến đấu của Nhân dân chống đế quốc Pháp đã bước sang một giai doan mới. Sau khi gây haf ở Nam Bộ Việt Nam, chiếm được thành phố Sai Gòn, thực dan Pháp cho quân nhảy dù xuống Phnom Penh, bắt thủ tướng Sơn Ngọc Thành đưa về Pháp.
Nhà vua Norodom Sthanouk đành phải khuất phục. Nhưng Nhân dân Campuchia quyết không chịu khuất phục ke thù xâm lược. Phong trào kháng chiến của Nhân dan Campuchia trong giai đoạn nay có những luồng, hướng khác nhau, trong đó bộ phận tích cực nhất là những người cộng sản Campuchia đã lãnh đạo Nhân dan Campuchia xiét chat hàng ngũ, cầm lấy vũ khí, sát cánh với Nhàn dân Việt Nam kháng chiến chống xâm lược Pháp, góp phần quyết định tạo nẻn những chuyển biến lịch sử trên đất nước Campuchia. Sau khi Son Ngọc Thành bị Pháp bat, một số nhân sĩ yêu nước Campuchia chạy sang Nam Bộ: một so khác chạy sang Thai Lan.
Với sự giúp đỡ của lực lượng kháng chiến Việt Nam, các ông Pa Chôun, nguyên bộ trường Bộ kinh tế Campuchia và Kim Chuôn, nguyên tổng đốc tinh Compông Chàm, cùng các nhân sĩ Campuchia ở tinh Chau Đốc thành lập ra “Uỷ ban Cao Mién độc lập”, tổ chức được khoảng 100 chiến sĩ, chuẩn bị về Campuchia chong Pháp. Nhung do tình hình mặt trận Nam Bộ gặp khó khăn lớn, Kim Chuôn bị vua Norodom Sihanouk gọi về nước cho làm tổng đốc tinh Takeo. Đầu nam 1946, những nhân si Campuchia chạy sang Thái Lan được sự giúp đỠ của lực lượng kháng chiến Việt kiều, thành lập ra “Uỷ ban dân tộc giải phóng Khmer”. Chính vì lo sợ trước sự phát triển của phong trào đấu tranh cách mạng của Nhân dân Campuchia.
chính quyền thực dân Pháp tìm cách buông ra để năm lại trong việc ' “Trao trả nền độc lập cho Vương quốc Campuchia”. Việc Pháp thừa nhận nền độc lập của Campuchia trong Khối liên hiệp Pháp là một quá trình. Và quá trình đó phụ thuộc hoàn toàn vào tương quan lực lượng giữa cách mạng ba nước Đông Dương và thực dân Pháp. Mở đầu cho quá trình này là việc ký kết Hiệp định tạm thời Muduc Vivendi giữa Pháp và Quéc vương Norodom Sihanouk vào ngày 07/01/1946.
Với hiệp định đó, nước Campuchia được tuyên bố là “nước nội trị” và được mở rộng quyền hạn trên một số phương điện như Cục cảnh sát, Bộ tiểu học và trung học. Cục bao vệ của chính quyền Campuchia phải đặt dưới sự kiểm soát của các cô van Pháp, phụ tá cho các bộ và cơ quan địa phương. Hiệp định năm 1946, đã nhấn mạnh rằng: quân đội Pháp đóng trên lãnh tho Campuchia chỉ nằm dưới sự chi huy cua Bộ chi huv Pháp. Hiệp định 1946 quy định Campuchia là một bộ phận hợp thành của Liên bang Pháp.
Campuchia không được quyền thiết lập các quan hệ ngoại giao VỚI nước ngoài. Từ năm 1946 đến năm 1952, Samdech Norodom Sihanouk và những nhà hoạt động chính trị khác đã yẻu cầu thực dân Pháp từng bước mơ rộng chủ quyền quốc gia của Campuchia. Trước tình hình ấy, thực dân Pháp đã tìm cách xoa dịu phong trào đấu tranh bằng cách thỏa thuận để Campuchia đưa ra bản Hiến pháp vào ngẳy 6- 5/1947. Sau khi Hiến pháp được ban hành, vào tháng 12/1947, cuộc bầu cử Quốc hệ: (Hạ nghị viện) được tiến hành.
Hiến pháp có 10 chương với 107 gigu được xảy dung dựa theo Hiện pháp nước Pháp và năm trong khuôn kho Khổ! liền hiệp Pháp. Mo đầu Hiến pháp ghi: “Vương quốc Cao Mién, quốc gia tƯ trị có chân trong Khôi liên hiệp Pháp với tư cách quốc gia liên kết”. Hiến pháp quy định: “Nước Cao Mién là nước quân chủ” (điều 1, chương I). Hiến pháp quy định quyền han của vua cũng giống như tổng thống.
ae Vua có quyền giải tán Quốc hội, chỉ định thủ tướng làm tổng tư lệnh quan đội, ban lệnh ân xá. Ngôi vua ở Campuchia theo chế độ cha truyền con adi, quyền han của vua rất lớn. Các quyền về hành chính, lập pháp tư pháp géu được thi hành nhân danh Quốc vương (điều 22, 23, 24, chương III). Tuy nhiên, quyền hạn của vua cũng bị hạn chế bởi Quốc hội.
Theo Hiến pháp 1947, Quốc hội có quyền biểu quyết các đạo luật, ngân quỹ quốc gia và quốc trải; Hiến pháp 1947 cũng đã dé cập đến quyền công dân. Moi công dan Campuchia đều có quyền tự do thân thể, tự do ngôn luận, tự do hội họp, tu do tín ngưỡng; Phật giáo được coi là quôc giáo (điều 3, 8, 9, 10, chương II). Đặc biệt là Hiến pháp đã néu quyền tự do bầu cử và ứng cử của mỗi công dân (điều 48 và 49 chương V). Tiếp theo những hành động trên, ngày 25/11/1948 tổng thống Pháp Vincent Aurtol đã gửi cho Samdech Norodom Sinanouk bức công hàm thừa nhận quyền độc lập của Campuchia trong khuôn khổ Liên bang Pháp.
Tiếp đó, ngày 08/11/1949 hiệp ước Monivong Vincent Auriol được ký kết, thừa nhận Campuchia độc lập trong Liên bang Pháp và cho phép Campuchia được quyền thành lập đội quân dân tộc phụ thuộc trực tiếp vào nhà vua. Bước vào những năm 50, tình hình chiến sự diễn ra ngày càng ác liệt gitta quân đội Pháp và các lực lượng cách mang Đông Dương. Ở Campuchia, phong trào cách mạng do những người cộng sản lãnh đạo ngày càng phát triển mạnh. Nguy cơ Pháp thất bại ở Đông Dương đã tới gần.
Trong tình hình đó giữa tháng 6 năm 1952, Samdech Norodom Sihanouk đã gửi cho Quốc hội và Nhân dân Campuchia hai bức thong điệp kêu gọi tất cả mọi người hãy giao cho nhà vua toàn quyền hành động ở trong nước, trong thời gian ba năm. Samdech Norodom Sihanouk hứa hẹn trong vòng cuối năm thứ ba sẽ giành được hoàn toàn nền độc lập. Nhưng kế hoạch của Samdech Norodom Sihanouk bị thực dân Pháp phá hoại. Trong giai đoạn này phần lớn lãnh thổ Campuchia lại nằm dưới sự kiểm soát của những người cách mạng.
Phong trào vũ trang kháng chiến không ngừng phát triển. Thực dân Pháp lại đang bị thua lớn ở Việt Nam, vì thế thực dân Pháp càng gặp nhiều khó khăn, lúng túng ở Campuchia. Nắm chắc tình hình ấy, đầu năm 1953, Samdech Norodom Sihanouk và những người ủng hộ ông bỏ ý định đòi mo rộng dần chủ quyền quốc gia, chuyển hướng sang tích cực đấu tranh ngoại giao để khôi phục nhanh chóng và toàn vẹn nên độc lập dân tộc của Campuchia. Đường lối chính trị đó được lấy tên là “Cuộc thập tự chinh giành độc lập của Campuchia”.
Trong thời kỳ này. thắng lợi của cách mạng Việt Nam, ở Lào, ở Campuchia ngày càng to lớn và những that bại của quan đội viên chính Pháp điện ra liền tiếp trên chiến trường Đông Dương. Samdech Norodom Sihanouk đã ra lời kêu gọi Nhân din Campuchia bat đầu cuộc động viên “Cac lực lượng tích cực của dân tộc”. Dau tháng 7 năm, 1953, quôc vương Campuchia kêu gọi chính quyền Pháp một lần cuối giải quyết hoà bình xung đột, sau khi nhấn mạnh rằng ông khó lòng mà ngăn được Nhân dân vùng lẻn chống Pháp.
Vì thé vào ngày 09/11/1953 vừa để giải quyết ổn thỏa vấn đề Campuchia nhằm tập trung vào chiến trường chính là Việt Nam và chuẩn bị kế hoạch lâu dài ở Campuchia thực dân Pháp đã trao trả độc lập cho Vương quốc Campuchia. Nhưng trên thực tế cho đến năm 1954, lực lượng cách mạng Campuchia đã trưởng thành trở thành lực lượng đáng kể phối hợp cùng với chiến trường a | Đông Dương di tới một giải pháp chính trị cho vấn dé Việt Nam, vấn đẻ Campuchia và vấn đề Lào trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn ven lãnh thé của môi nước ở Đông Dương. Tại Hội nghị Genève phía Việt Nam luôn kiên trì lập trường của mình về vấn đề Campuchia, Lào. Việt Nam chủ trương đòi có đại biểu của Chính phủ kháng chiến Lào và Chính phủ kháng chiến Campuchia tham gia như các bên đàm phán.
Việt Nam giữ quan điểm là ở Lào có 2 vùng tập kết của lực lượng kháng chiến: một vùng ở phía Bắc và một vùng ở phía Hạ Lào; ở Campuchia có 2 vùng tập kết của lực lượng kháng chiến Campuchia ở phía Đông và Đông Bắc sông Mêkông và phía Tây Nam sông Mékong, tổ chức tổng tuyển cử tự do trong thời han 6 tháng ở Campuchia và ở Lào.