Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam" được thực hiện thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 62 38 01 04, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Tất Viễn và TS. Trương Quang Vinh, hoàn thành tại Hà Nội năm 2024.

Gia đình là tế bào tự nhiên của xã hội, là môi trường hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người. Chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, một vợ một chồng, bình đẳng, tự nguyện và tôn trọng lẫn nhau được khẳng định tại Điều 36 Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Nhằm bảo vệ trật tự quan hệ gia đình, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã dành riêng Chương XVII quy định về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình gồm 07 điều luật từ Điều 181 đến Điều 187. Tuy nhiên, qua quá trình áp dụng vào thực tiễn tư pháp, nhiều quy định bộc lộ vướng mắc, bất cập do câu từ mang tính định tính, thiếu các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất, điều kiện định tội chưa tương thích với thực tiễn vi phạm, dẫn đến số lượng vụ việc bị xử lý hình sự còn khoảng cách lớn so với tình hình vi phạm diễn ra ngoài xã hội. Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra là sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu hệ thống, toàn diện ở cấp độ tiến sĩ đánh giá tổng thể nhóm tội danh này kể từ khi Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án gồm:

  1. Hệ thống hóa và hoàn thiện những vấn đề lý luận pháp lý hình sự về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình.
  2. Phân tích quá trình phát triển lịch sử lập pháp và các dấu hiệu pháp lý đặc trưng cấu thành 07 tội danh thuộc Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  3. Đánh giá toàn diện thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự, tình hình điều tra, truy tố, xét xử của Tòa án nhân dân các cấp đối với nhóm tội danh này trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022.
  4. Xác lập các yêu cầu và đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật hình sự cũng như các biện pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.

Câu hỏi nghiên cứu của luận án:

  1. Bản chất pháp lý, khách thể bảo vệ và các đặc trưng cấu thành tội phạm của các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam là gì?
  2. Các quy định hiện hành trong Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) có những ưu điểm, hạn chế và vướng mắc kỹ thuật lập pháp nào?
  3. Thực tiễn áp dụng pháp luật đối với các tội danh này trong giai đoạn 2018 - 2022 đạt kết quả ra sao, tồn tại những khó khăn gì và nguyên nhân do đâu?
  4. Những định hướng và giải pháp cụ thể nào cần được áp dụng để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng ngừa, xử lý nhóm tội phạm này tại Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học lý luận, quy định pháp luật hình sự Việt Nam và pháp luật quốc tế liên quan đến bảo vệ chế độ hôn nhân, gia đình; thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với nhóm tội danh này.
  • Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, đề tài nghiên cứu trên phạm vi toàn quốc thông qua số liệu xét xử của Tòa án nhân dân các cấp. Về thời gian, luận án tập trung khảo sát các dữ liệu lập pháp và thực tiễn xét xử trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2022 (giai đoạn 5 năm thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015), có đối chiếu hồi tố với các văn bản lập pháp năm 1985 và 1999.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trong phần tổng quan tài liệu, tác giả đã phân loại và điểm lại các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế có liên quan theo các nhóm:

Nhóm nghiên cứu giáo trình và chuyên khảo lý luận chung về luật hình sự: Các giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội; các công trình chuyên khảo của Đinh Văn Quế (Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự), Nguyễn Ngọc Hòa, Võ Khánh Vinh, Lê Cảm, Đỗ Đức Hồng Hà, Trịnh Quốc Toản, Phạm Văn Báu. Các công trình này phân tích lý luận cấu thành tội phạm, khái niệm và đường lối xử lý chung nhưng không nghiên cứu chuyên biệt toàn bộ nhóm tội thuộc Chương XVII dưới góc độ một hệ thống hoàn chỉnh sau khi có sửa đổi năm 2017.

Nhóm công trình nghiên cứu chuyên biệt về từng tội danh cụ thể: Các luận văn, bài báo khoa học nghiên cứu về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182), Tội loạn luân (Điều 184), Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185) và Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187). Các công trình này chủ yếu tập trung vào một điều luật đơn lẻ, tiếp cận theo khuôn khổ Bộ luật Hình sự năm 1999 hoặc chỉ dừng lại ở bình luận những điểm mới khi Bộ luật Hình sự năm 2015 vừa được ban hành mà chưa có điều kiện kiểm chứng qua dữ liệu thực tiễn áp dụng lâu dài.

Nhóm nghiên cứu so sánh pháp luật nước ngoài: Các tài liệu dịch thuật và khảo cứu về pháp luật hình sự của Liên bang Nga, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa Liên bang Đức liên quan đến việc hình sự hóa các hành vi bạo lực gia đình, đa thê, ép buộc kết hôn và mang thai hộ thương mại.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Luận án định vị là công trình nghiên cứu chuyên khảo toàn diện cấp tiến sĩ đầu tiên tổng kết đồng bộ 07 tội danh thuộc Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) dựa trên việc phân tích thực chứng nguồn số liệu xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong 5 năm thi hành liên tục (2018 - 2022), chỉ rõ các xung đột quy phạm giữa luật hình sự với Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình để đưa ra kiến nghị lập pháp có căn cứ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chiến lược cải cách tư pháp, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ gia đình và bình đẳng giới. Luận án vận dụng lý thuyết cấu thành tội phạm, lý thuyết về khách thể loại và khách thể trực tiếp, các nguyên tắc định tội danh và quyết định hình phạt trong khoa học luật hình sự Việt Nam.

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận định tính kết hợp phân tích số liệu thực tiễn tư pháp, bao gồm các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các quy định pháp luật hình sự, làm rõ cấu trúc pháp lý, dấu hiệu định tội, định khung của từng tội danh và tổng hợp các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp lịch sử cụ thể: Sử dụng để khảo sát sự hình thành và phát triển của các quy định pháp luật hình sự Việt Nam về bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình từ năm 1945 đến nay.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam với quy định của một số quốc gia nhằm rút ra các kinh nghiệm lập pháp phù hợp.
  • Phương pháp thống kê xã hội học và tổng kết thực tiễn: Thu thập, xử lý và phân tích số liệu về tình hình khởi tố, truy tố, xét xử các vụ án hình sự liên quan đến nhóm tội từ năm 2018 đến 2022 từ báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các bản án thực tế.
  • Phương pháp diễn dịch, quy nạp và hệ thống hóa: Sử dụng để xây dựng hệ thống các yêu cầu, giải pháp lập pháp và áp dụng pháp luật.

Nguồn tư liệu và dữ liệu nghiên cứu: Văn kiện của Đảng; Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Hình sự các năm 1985, 1999, 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Hôn nhân và Gia đình các năm 1959, 1986, 2000, 2014; Luật Phòng, chống bạo lực gia đình; các báo cáo tổng kết công tác xét xử thường niên của ngành Tòa án nhân dân và các bản án hình sự sơ thẩm, phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây đã tạo nền tảng quan trọng về mặt lý luận chung của luật hình sự nhưng tồn tại sự gián đoạn về dữ liệu thực tiễn sau khi Bộ luật Hình sự năm 2015 đi vào đời sống tư pháp. Nhiều công trình còn nghiên cứu phân tán, thiếu tính kết nối giữa các quy định của Bộ luật Hình sự với các luật chuyên ngành như Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Trẻ em năm 2016 và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Chương này xác định rõ mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phạm vi, phương pháp luận và ý nghĩa khoa học của đề tài, khẳng định tính cần thiết và độc lập của công trình nghiên cứu.

Chương 2: Những vấn đề lý luận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự

Chương 2 làm sáng tỏ các khái niệm, đặc điểm pháp lý hình sự và ý nghĩa của việc quy định nhóm tội này trong pháp luật hình sự:

  • Khái niệm: Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, xâm phạm trực tiếp đến chế độ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, bình đẳng vợ chồng, quyền và nghĩa vụ hợp pháp giữa các thành viên trong gia đình.
  • Phân tích 04 yếu tố cấu thành tội phạm:
    1. Khách thể: Khách thể loại là trật tự quản lý xã hội trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình được nhà nước xác lập và bảo vệ; khách thể trực tiếp là quyền tự do kết hôn, ly hôn, nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của các thành viên trong gia đình.
    2. Mặt khách quan: Hành vi vi phạm thể hiện dưới dạng hành động (cưỡng ép, cản trở, ngược đãi, hành hạ, loạn luân, tổ chức mang thai hộ thương mại) hoặc không hành động (từ chối, trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng). Một số cấu thành đòi hỏi dấu hiệu bắt buộc như "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm" hoặc "gây hậu quả nghiêm trọng".
    3. Chủ thể: Phần lớn là chủ thể đặc biệt, đòi hỏi phải có mối quan hệ hôn nhân (vợ, chồng), mối quan hệ gia đình (ông bà, cha mẹ, con, cháu, người nuôi dưỡng) hoặc quan hệ huyết thống trực hệ (trong tội loạn luân). Một số tội danh như tổ chức tảo hôn, tổ chức mang thai hộ thương mại có chủ thể là chủ thể thường.
    4. Mặt chủ quan: Lỗi của người phạm tội luôn là lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Mục đích vụ lợi là dấu hiệu bắt buộc trong Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187).

Chương 3: Quy định của pháp luật hình sự Việt Nam và thực tiễn áp dụng đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình

Chương 3 trình bày lịch sử lập pháp hình sự qua các thời kỳ và phân tích chi tiết quy định hiện hành cùng số liệu xét xử thực tiễn giai đoạn 2018 - 2022:

Lịch sử lập pháp: Từ các quy định mang tính xử lý tội phạm hôn nhân gia đình trong Quốc triều hình luật (thời Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn), đến các Sắc lệnh giai đoạn 1945 - 1985, Chương VII Bộ luật Hình sự năm 1985, Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 1999 và Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Quy định hiện hành tại Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 2015:

  • Điều 181: Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện.
  • Điều 182: Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng.
  • Điều 183: Tội tổ chức tảo hôn.
  • Điều 184: Tội loạn luân.
  • Điều 185: Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình.
  • Điều 186: Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
  • Điều 187: Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại.

Thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn 2018 - 2022: Dữ liệu thống kê xét xử của Tòa án nhân dân các cấp cho thấy cơ cấu xử lý giữa các tội danh có sự chênh lệch rõ rệt.

Điều luật Tội danh Tình trạng áp dụng và đặc điểm xét xử (2018 - 2022)
Điều 181 Cưỡng ép kết hôn, ly hôn; cản trở kết hôn, ly hôn tự nguyện Số lượng xét xử rất ít do vướng điều kiện "đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm".
Điều 182 Vi phạm chế độ một vợ, một chồng Số vụ khởi tố thấp; khó khăn trong việc chứng minh hậu quả "làm cho quan hệ hôn nhân dẫn đến ly hôn" hoặc hành vi "chung sống như vợ chồng".
Điều 183 Tổ chức tảo hôn Số vụ án xử lý hình sự hạn chế, tập trung chủ yếu ở một số địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; vướng mắc tiền sự hành chính.
Điều 184 Loạn luân Tỷ lệ xét xử đều qua các năm; vướng mắc về độ tuổi nạn nhân khi giao thoa với các tội xâm phạm tình dục người dưới 16 tuổi.
Điều 185 Ngược đãi hoặc hành hạ thành viên gia đình Chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số vụ án thuộc Chương XVII; việc xác định ranh giới giữa hành vi hành hạ với bạo lực gia đình hành chính còn phức tạp.
Điều 186 Từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Rất ít vụ án được xử lý hình sự do thiếu hướng dẫn về định lượng "gây hậu quả nghiêm trọng" hoặc "đã bị xử phạt hành chính".
Điều 187 Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại Tội danh mới từ năm 2015; xuất hiện các đường dây có yếu tố xuyên quốc gia; khó khăn trong thu thập chứng cứ và giám định thỏa thuận tài chính.

Tác giả chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thực tiễn gồm: Quy định của luật còn có dấu hiệu định tính chưa được giải thích chính thức; tâm lý e ngại của nạn nhân trong quan hệ gia đình dẫn đến việc không tố giác; sự phối hợp giữa cơ quan hành chính cơ sở và cơ quan tiến hành tố tụng chưa chặt chẽ.

Chương 4: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự đối với các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

Chương 4 xác định các yêu cầu cơ bản:

  1. Bảo đảm thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng và tinh thần Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ gia đình, trẻ em và phụ nữ.
  2. Bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa Bộ luật Hình sự với Luật Hôn nhân và Gia đình, Bộ luật Dân sự, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình và các luật liên quan.
  3. Đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Hệ thống giải pháp được luận án đề xuất:

  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật hình sự:
    • Sửa đổi, bổ sung quy định tại Điều 182: Xác định rõ căn cứ "dẫn đến ly hôn" và bãi bỏ hoặc điều chỉnh dấu hiệu tiền sự hành chính đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cố ý làm tan vỡ gia đình.
    • Hoàn thiện Điều 184: Sửa đổi quy định để phân định rõ ràng giữa hành vi loạn luân có sự thuận tình của các bên đã thành niên với các trường hợp giao cấu với người dưới 16 tuổi (thuộc diện xử lý theo Điều 145 hoặc Điều 142).
    • Sửa đổi Điều 187: Bổ sung tình tiết định khung tăng nặng đối với hành vi tổ chức mang thai hộ thương mại có yếu tố nước ngoài hoặc thực hiện qua mạng internet.
    • Kiến nghị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất các thuật ngữ: "hành vi đối xử tồi tệ", "gây hậu quả nghiêm trọng", "chung sống như vợ chồng", "trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng".
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:
    • Nâng cao trình độ nghiệp vụ, kỹ năng giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình cho đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán.
    • Tăng cường phối hợp liên ngành giữa cơ quan tư pháp với Hội Liên hiệp Phụ nữ, Đoàn Thanh niên và chính quyền địa phương trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm.
    • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật tại các vùng sâu, vùng xa, vùng có phong tục tập quán lạc hậu.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • Phân tích làm rõ bản chất pháp lý của khách thể bảo vệ là trật tự hôn nhân tiến bộ và quyền nhân thân của các thành viên gia đình; xác định ranh giới lý luận giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm hành chính, dân sự trong các quan hệ gia đình.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh toàn diện và số liệu thực chứng về thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình trong 5 năm (2018 - 2022).
  • Nhận diện đầy đủ các vướng mắc pháp lý cụ thể của từng điều luật (từ Điều 181 đến Điều 187) và nguyên nhân của tình trạng "ẩn tội" trong thực tế.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp cụ thể kèm theo nội dung dự thảo hướng dẫn áp dụng nhằm hoàn thiện kỹ thuật lập pháp và bảo đảm hiệu lực thực thi của Bộ luật Hình sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Dữ liệu thực tiễn tập trung chủ yếu vào các vụ án đã được Tòa án thụ lý, xét xử công khai trong giai đoạn 2018 - 2022; chưa thể bao quát hết toàn bộ các hành vi vi phạm thực tế bị xử lý hành chính hoặc chưa bị phát hiện do tính chất khép kín của quan hệ gia đình.
  • Số lượng bản án của một số tội danh (như Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn; Tội từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng) còn ít trong thực tiễn xét xử, làm hạn chế dung lượng mẫu phân tích sâu đối với các tội danh này.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tiếp tục nghiên cứu mở rộng cơ chế phối hợp xử lý liên ngành giữa biện pháp xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp giáo dục tại xã phường với việc xử lý hình sự đối với hành vi bạo lực gia đình.
  • Nghiên cứu so sánh chuyên sâu về chế tài hình sự đối với các hành vi xâm phạm chế độ hôn nhân có yếu tố xuyên quốc gia và việc ứng dụng công nghệ trong tổ chức mang thai hộ thương mại.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cho:

  • Cơ quan lập pháp và cơ quan hướng dẫn áp dụng pháp luật: Phục vụ trực tiếp cho việc rà soát, sửa đổi Bộ luật Hình sự và ban hành Nghị quyết hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
  • Cơ quan tiến hành tố tụng: Là tài liệu nghiệp vụ giúp Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư nắm vững dấu hiệu cấu thành và phương pháp định tội danh chính xác đối với các vụ án thuộc Chương XVII.
  • Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.

Câu hỏi thường gặp

  1. Bộ luật Hình sự năm 2015 có những điểm mới nào về nhóm tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình so với Bộ luật Hình sự năm 1999? Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 2015 đã bổ sung tội danh hoàn toàn mới là Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187); tách hành vi cưỡng ép ly hôn hoặc cản trở ly hôn tự nguyện bổ sung vào Điều 181; sửa đổi, bổ sung dấu hiệu định tội, định khung của các tội danh về vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182) và ngược đãi, hành hạ thành viên gia đình (Điều 185) để tương thích với Hiến pháp năm 2013 và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

  2. Tại sao số vụ án xét xử về Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng (Điều 182) lại rất thấp so với thực tế? Nguyên nhân chủ yếu do vướng mắc trong việc chứng minh dấu hiệu "chung sống như vợ chồng" và dấu hiệu hậu quả "làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn" hoặc yêu cầu người vi phạm "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm". Việc thu thập chứng cứ chứng minh sự chung sống công khai hoặc chứng minh nguyên nhân trực tiếp dẫn đến việc ly hôn trên thực tế gặp nhiều trở ngại về mặt tố tụng.

  3. Luận án phân tích dấu hiệu pháp lý đặc trưng của Tội tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại (Điều 187) như thế nào? Tội phạm này có khách thể là trật tự quản lý y tế và chế độ thai sản, gia đình nhân đạo của Nhà nước. Hành vi khách quan là hành vi móc nối, tổ chức, sắp xếp việc mang thai hộ mà có mục đích vụ lợi (kinh doanh kiếm lời từ việc mang thai hộ). Chủ thể của tội phạm là người tổ chức (môi giới, điều hành đường dây), không xử lý hình sự đối với chính người nhờ mang thai hộ hoặc người mang thai hộ theo tội danh này.

  4. Luận án đề xuất giải quyết điểm nghẽn nào trong Tội ngược đãi hoặc hành hạ thành viên gia đình (Điều 185)? Luận án kiến nghị ban hành văn bản giải thích rõ tiêu chí định lượng và định tính của hành vi "đối xử tồi tệ" hoặc "hành hạ", phân biệt rõ giữa mức độ xử phạt vi phạm hành chính theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình với mức độ phải truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 185, đồng thời hướng dẫn rõ tình tiết "làm cho người bị ngược đãi, hành hạ bị tổn hại về thể chất, tinh thần".

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình theo luật hình sự Việt Nam" đã giải quyết đồng bộ và toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của 07 tội danh thuộc Chương XVII Bộ luật Hình sự năm 2015. Thông qua việc phân tích dữ liệu xét xử thực tế giai đoạn 2018 - 2022, luận án đã chỉ rõ những bất cập trong kỹ thuật lập pháp và những khó khăn trong khâu áp dụng pháp luật. Hệ thống các giải pháp hoàn thiện văn bản quy phạm và nâng cao hiệu quả tư pháp được đề xuất trong luận án có tính thực tiễn cao, đóng góp thiết thực cho công tác hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam.