CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1. Bối cảnh nghiên cứu Hệ thống tài chính, thông qua hai cấu phần quan trọng là thị trường chứng khoán và hệ thống các ngân hàng, có một vai trò thiết yếu trong việc dẫn truyền các nguồn vốn hiệu quả giữa các tác nhân kinh tế dư vốn đến các chủ thể thiếu hụt vốn, từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế (Levine và Zervos, 1996). Mặc dù tăng trưởng đáng kể về số lượng các công ty niêm yết, khối lượng cổ phiếu được giao dịch và mức vốn hóa chung của thị trường, thị trường chứng khoán vẫn đang ở nhóm các thị trường kém phát triển. Tuy nhiên, thị trường chứng khoán vẫn là nơi dẫn truyền vốn và đầu tư quan trọng đối với thị trường mới nổi vì vị trí quan trọng của nó trong việc lưu chuyển nguồn vốn cho các hoạt động kinh tế tài chính khác nhau.
Thêm nữa, hoạt động của các tổ chức kinh doanh ở các quốc gia mới nổi còn phụ thuộc vào nguồn cung cấp vốn vay từ hệ thống ngân hàng (Batten và Vo, 2019); các công ty cũng như hộ gia đình có thể huy động vốn từ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn cấp thiết cho các hoạt động nội bộ. Ngoài ra, sự hoạt động lành mạnh của thị trường chứng khoán có tương quan rất chặt chẽ với tình hình tài chính ổn định và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng (Levine, 1998; Rajan và Zingales, 1998) và hệ thống ngân hàng giữ một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của một quốc gia (Tan và Floros, 2012b). Kết quả tích cực của các ngân hàng Việt Nam đã giúp cho triển vọng xếp hạng của các tổ chức tín dụng Việt Nam nâng cao trong những năm gần đây. Theo đó, 14 NH TMCP Việt Nam nằm trong bảng xếp hạng 500 ngân hàng mạnh của khu vực Châu Á và Thái Bình Dương (2020).
Việt Nam giữ vị trí thứ 02 khu vực Châu Á và khu vực Đông Nam Á xét về chỉ số tiếp cận tín dụng. Hệ thống các ngân hàng Việt Nam mặc dù gặt hái được những thành quả đáng ghi nhận kể trên tuy nhiên phải đối mặt với đa dạng rủi ro nhất định. Với những hạn chế trong quản lý và điều hành, khu 2 vực ngân hàng đã bộc lộ nhiều bất ổn. Nợ xấu tăng cao đã làm cho ngân hàng bị suy giảm lợi nhuận.
Do quy mô vốn thấp, các ngân hàng Việt Nam trở nên nhạy cảm trước những cú sốc từ bên ngoài. Thêm nữa, nhiều nghiên cứu cho rằng, vấn đề quản trị doanh nghiệp, chuẩn mực kế toán và tính minh bạch của hệ thống ngân hàng dần trở nên lạc hậu trong bối cảnh các quốc gia đang phát triển (Batten và Vo, 2019). Những vấn đề bất cập đó đã trở thành rào cản đối với các ngân hàng Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế. Do vậy, các cơ quan chuyên trách về tình hình thực tế của các ngân hàng Việt Nam đã ban hành 02 đề án quan trọng cơ cấu một cách toàn diện và quyết liệt hệ thống ngân hàng, nhằm giảm thiểu rủi ro, gia tăng hiệu quả từ đó làm lành mạnh hóa hệ thống ngân hàng.
Bao gồm: Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011 – 2015” ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ và Đề án “Cơ cấu lại thị trường chứng khoán và thị trường bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025” đi kèm với Quyết định số 242/QĐ-TTg được ban hành vào ngày 28 tháng 2 năm 2019 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, Chính phủ Việt Nam yêu cầu các ngân hàng thương mại phải hoàn thành việc niêm yết và đăng ký giao dịch cổ phiếu trên sàn giao dịch chứng khoán trước khi kết thúc năm 2020. Việc đưa các ngân hàng lên sàn chứng khoán sẽ làm gia tăng khả năng thu hút được thêm nguồn vốn tài trợ cho các ngân hàng này; tuy nhiên, ngân hàng sẽ phải chịu sự giám sát thị trường hoặc chịu ảnh hưởng từ những thay đổi của thị trường chứng khoán. Thị trường chứng khoán là phong vũ biểu của nền kinh tế và giúp dự báo triển vọng tăng trưởng của các DN niêm yết và sự phát triển của TTTC (Nguyễn Minh Kiều và Bùi Kim Yến, 2009).
Dòng vốn vận động dựa trên tín hiệu từ TTCK với sự thay đổi chỉ số giá chung của thị trường. Ở góc độ định lượng, thước đo biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán được tính toán từ chỉ số giá chung của thị trường để theo dõi lợi nhuận và khả năng xảy ra rủi ro chung của thị trường. Thị trường chứng khoán phần nào mô tả được tâm lý của nhà đầu tư cũng như có thể đánh giá sự tăng trưởng 3 hay suy thoái của nền kinh tế. Biến động thị trường chứng khoán được xem là chỉ báo cho rủi ro hệ thống; các doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi sự gia tăng trong rủi ro có xu thế giảm đi các khoản nợ ngân hàng chịu lãi suất cố định (fixed-cost bearing bank loans) để đi tìm nguồn tài trợ tài chính khác (Rashid và Ilyas, 2018) và gây ra ảnh hưởng đến các nguồn vốn huy động của ngân hàng.
Thêm nữa, các nguồn vốn huy động này của ngân hàng cũng có thể gây ảnh hưởng đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng (García-Herrero và cộng sự, 2009) và có thể cải thiện thanh khoản của ngân hàng để đáp ứng yêu cầu của hoạt động cấp vốn vay kịp thời (Akhtar và cộng sự, 2011). Giá của các chứng khoán giao dịch trên thị trường phụ thuộc vào giá trị nội tại và các tác lực cung cầu thị trường. Sự tăng và giảm giá đột ngột của các chứng khoán trên thị trường làm xáo trộn tình hình kinh tế thực. Ảnh hưởng tổng thể của những biến động này phản ánh trong chỉ số giá thị trường chứng khoán và lan tỏa đến các khu vực đặc thù trong nền kinh tế, ở đó có các tổ chức tài chính (ví dụ, ngân hàng thương mại) chịu khả năng bị tổn thương khi các biến động này xảy ra (Al‐Rjoub và Azzam, 2012).
Theo đó, SMV được nhận thức là rủi ro vĩ mô của nền kinh tế. Từ lập luận này, nghiên cứu về ảnh hưởng của biến động tỷ suất sinh lợi thị trường chứng khoán, rủi ro và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng có thể giúp xem xét cụ thể sự tồn tại của ảnh hưởng này. Hai ví dụ thực tế thể hiện ảnh hưởng nhất định của biến động TTCK lên hệ thống ngân hàng. Thứ nhất, trong thời kỳ lạm phát cao và khủng hoảng kinh tế (năm 2008), các doanh nghiệp niêm yết kinh doanh khó khăn và tâm lý nhà đầu tư bất ổn và nhạy cảm với rủi ro liên quan đến chỗ sinh lời cho khoản vốn đầu tư.
Tuy nhiên, TTCK Việt Nam liên tục giảm điểm và đe dọa nhu cầu an toàn và sinh lời vốn của nhà đầu tư. Trong khi đó, lãi suất huy động của các NH TMCP đẩy lên quá cao. Dòng tiền chảy mạnh từ thị trường chứng khoán vào ngân hàng dưới dạng tiền gửi tiết kiệm để hưởng lợi từ lãi suất cao. Hành vi này của nhà đầu tư phù hợp với cách giải thích của tác động 4 chắc chắn (certainty effect) (Kahneman và Tversky, 2013), trong đó thị trường chứng khoán biến động cao khiến cho rủi ro không chắc chắn đối với các khoản lời từ hành động đầu tư vào TTCK và nhà đầu tư không đặt nhiều kỳ vọng vào lợi nhuận từ đầu tư chứng khoán so với các kênh đầu tư an toàn khác như tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng (Rashid và Ilyas, 2018).
Như vậy, TTCK có tương quan khá chặt chẽ đối với yếu tố hiệu quả và rủi ro của hệ thống ngân hàng thông qua hiệu quả nguồn vốn luân chuyển giữa hai khu vực này có thể bị gián đoạn khi rủi ro và bất ổn gia tăng bên cạnh các vấn đề có liên quan đến khả năng quản trị các nguồn vốn của các ngân hàng. Thêm nữa, tương lai gần khi các ngân hàng thương mại hoàn thành yêu cầu niêm yết trên TTCK theo yêu cầu của ngân hàng nhà nước, nhu cầu cần phải kiểm soát rủi ro và cải thiện hiệu quả thông qua tín hiệu từ TTCK sẽ ngày một được quan tâm và chú trọng hơn. Từ thực tế này, vấn đề đặt ra là cần có các nghiên cứu định lượng để kiểm chứng sự tồn tại của ảnh hưởng trong SMV lên kết quả hoạt động và rủi ro của ngân hàng. Thứ hai, mốc thời gian cuối năm 2020 và đầu năm 2021 đã xảy ra hiện tượng dòng vốn từ các nhà đầu tư mới đổ vào thị trường chứng khoán vì niềm tin giá chứng khoán thấp là cơ hội để mua vào.
Tháng 11/2020, nhà đầu tư trong nước đã mở mới 41. Số tài khoản mở này đã phá kỷ lục khi chính thức vượt qua số tài khoản mở mới của tháng 3/2018 là 40. Tuy nhiên, thời điểm đầu năm 2020 chứng kiến TTCK suy giảm kỷ lục gây ra thiệt hại đối với các nhà đầu tư mới. Ví dụ, đóng cửa thị trường chứng khoán ngày 19/01/2021, chỉ số VN-Index giảm 60,94 điểm, tương ứng giảm 5,11% xuống 1.
VN-Index đã sụt hơn 74,71 điểm, tương đương mất 6,27%. Đây là mức giảm kỷ lục trong một phiên giao dịch từ trước đến nay của chỉ số VN-Index và khiến vốn hóa sàn chứng khoán TP.405 tỉ đồng, tương đương gần 10 tỉ USD. Dòng vốn lúc này chuyển dịch vào kênh ngân hàng để tránh rủi ro và vì thị trường bất động sản đang chững giao dịch. Và trong suốt giai đoạn khủng hoảng này tăng trưởng doanh thu của ngân hàng không sụt giảm đáng kể và thậm chí duy trì tăng trưởng tốt ở các ngân hàng lớn.
Từ thực tế này, một 5 vấn đề được đặt ra tiếp theo: khi thị trường chứng khoán biến động quá mạnh (dẫn đến rủi ro cao) làm dòng vốn chuyển dịch vào thị trường chứng khoán, liệu rằng các ngân hàng có lợi thế về yếu tố quy mô lớn có thể tận dụng triệt để và kiểm soát được dòng vốn này để đem lại hiệu quả cao và rủi ro ở mức độ thấp hơn so với các ngân hàng còn lại hay không.