CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CỨU VA LÝ THUYET NGHIÊN CỨU VE PHÁP LUẬT BAO VỆ QUYEN CUA NGƯỜI NÔNG DAN TRONG HOP DONG LIÊN KET SAN XUAT VA TIEU THU NONG SAN 1. Tinh hình nghiên cứu Các mặt hàng nông sản và nhu cầu về các mặt hàng nông sản đạt chất lượng cao ngày càng đa đạng, theo đó hợp đồng mua bán nông sản nói chung và HĐLKSXTTNS nói riêng đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều tác giả xét cả về khía cạnh kinh tế và luật học. Pháp luật đòi hỏi phải có khung pháp lý chặt chẽ và hợp ly dé thúc đây hoạt động của giao dịch mua bán nông sản dưới hình thức liên kết tiêu thụ nhằm phát huy tối đa hiệu qua và giảm thiêu những rủi ro cho người nông dân trong giao dịch. Chi gần đây, từ những năm 2000, xu hướng nghiên cứu HDLKSXTTNS mới bắt đầu được quan tâm nhiều hơn.
Hơn nữa tác giả đã tiến hành tìm kiếm, khảo sát và không tìm thấy đề tài chính thức nào tập trung nghiên cứu về HĐLKSXTTNS thực hiện tại Việt Nam được tiếp cận dưới góc độ luật học mà chủ yếu là các công trình nghiên cứu về các khía cạnh kinh tế của van đề. Hoặc cũng có những dé tài có tính pháp lý nhưng lại chỉ giải quyết trong phạm vi của hợp đồng mua bán nông sản nói chung chứ không phải là hợp đồng HĐLKSXTTNS. Tai đây, với mục đích đem đến cái nhìn tổng quát và dé hiểu về tình hình nghiên cứu, tác giả sẽ đi khái quát hoá những nội dung của các công trình có liên quan đến đề tài. Các công trình nghiên cứu liên quan đến lý thuyết về hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản Dé làm cở sở nền tảng dé giải quyết các van đề của HĐLKSXTTNS, luận án cũng khảo sát một số các công trình nghiên cứu liên quan đến lý thuyết hợp đồng đặc biệt là các nghiên cứu hiện đại liên quan đến hợp đồng theo mẫu, hợp đồng một bên và học thuyết bất hợp lý trong giao kết hợp đồng của hệ thống Thông Luật.
Một số các công trình nồi bật được tác giả ghi nhận như sau đây: (1) Russell Korobkin, “Bounded Rationality, Standard Form Contracts, and Unconscionability”*. Nghiên cứu đi sâu phân tích về hợp đồng theo mẫu và có đề cập tới * Korobkin, R. học thuyết bất hợp lý trong giao kết hợp đồng. Tuy không trực tiếp đi sâu vào HDLKSXTINS, nhưng hợp đồng trên về bản chất cũng là một loại hợp đồng theo mẫu — hợp đồng trong đó chỉ có một chủ thê đóng vai trò soạn thảo hợp đồng.
Về lý thuyết kinh tế trong hầu hết các trường hợp, các lực lượng thị trường sẽ đảm bảo rằng các hợp đồng theo mẫu chứa các điều khoản không chỉ hiệu quả về mặt xã hội mà còn có lợi cho các bên không soạn thảo so với các kết hợp giá và điều khoản có thê khác. Đề tài đã chỉ ra khá cặn kẽ về hợp đồng theo mẫu cùng các cách thức Tòa án đưa ra quyết định. Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu xem xét nhiều hơn trên khía cạnh chủ thé soạn thảo hợp đồng là người bán trong một hợp đồng thương mại. HDLKSXTTNS lại có vai trò ngược lại giữa người bán và người mua khi một bên bán là chủ thế yếu thé hơn — người nông dân, còn người mua (doanh nghiệp) lại là chủ thể soạn thảo hợp đồng.
Chính vì vậy, đề tài được tham khảo về mặt cơ sở lý thuyết nhiều hơn ứng dụng trong trường hợp HĐLKSXTTNS cụ thê này. (2) Omri Ben-Shahar va Carl E. Schneider, “More than you wanted to know. The failure of Mandated Disclosure” (2014)°.
Cuốn sách chỉ ra sự không thành công của các quy định bắt buộc để giúp mọi người hiểu rõ hơn về mối quan hệ hợp đồng mà họ đang giao kết, hoặc hiểu rõ hơn về đặc tính của sản phẩm, quyền và nghĩa vụ của các bên, v. Sự thờ ơ của bên gia nhập vào hợp đồng (vốn được coi là bên yếu thế trong hợp đồng) đối với nội dung của hợp đồng, hoặc ngay cả khi họ quan tâm, họ không có đủ nhận thức chung dé hiểu chính là nguyên nhân dẫn đến sự thất bại này. Da phần mọi người khi tiếp cận với các điều khoản bắt buộc này sẽ coi nó như tối nghĩa, không cần thiết và phần lớn sẽ đưa ra lựa chọn bằng cách tước thông tin đi, bỏ qua hầu hết các tiết lộ một cách an toàn và tự cho rằng họ thiếu hiệu biết dé phân tích chúng. Đây là một nghiên cứu đáng chú ý của Đại học Harvard vào năm 2006, tuy ban đầu không chủ đích hướng đến đối tượng là HĐLKSXTTNS, nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận dạng bản chất của HĐLKSXTTNS.
Nghiên cứu này nhằm mục tiêu chứng minh tính cân bằng trong giao dịch một bên, thông qua phương pháp phân tích kinh tế, dựa trên các rủi ro về chỉ phí của bên đề nghị hợp đồng. Từ những kết quả của bài viết này có thê ứng dụng đề phát > Omri Ben-Shahar, et. Schneider, (2014), “More than you wanted to know. The failure of Mandated Disclosure”, Princeton University Press, New Jersey.
Posner, (2006), "One-sided contracts in competitive consumer markets", Michigan Law Review, Vol. 10 triển lý thuyết tính bất hợp lý trong HĐLKSXTTNS, đồng thời có cách thức giải thích và giải quyết tình trạng lạm quyền của một bên trong hợp đồng nói chung. Điểm hạn chế của các kết quả nghiên cứu của Bebchuk và Posner đó là chỉ chứng minh một khía cạnh về tính cân bằng trong mối quan hệ của hợp đồng một bên, tuy nhiên đối với các điều khoản bat công trong các hợp đồng như HDLKSXTTNS thì kết quả này không có giá trị giải quyết vấn đề cho bên yếu thế hơn. Nghiên cứu không chỉ cung cấp các kết quả nghiên cứu có giá trị, mà cùng với sự giới thiệu về phương pháp nghiên cứu luật học kết hợp với phân tích các yếu tố kinh tế mà sau này tác giả Dương Anh Sơn và tác giả Hoàng Vinh Long’ có đề cập đối với các nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật hợp đồng vào năm 2013.
Phương pháp mới này nghiên cứu luật kết hợp giữa phân tích các nguyên lý kinh tế học trong giải thích, nhận định và giải quyết các vẫn đề trong hợp đồng và luật hợp đồng dựa trên chi phí giao dịch. (4) Cornell, “A complaint-oriented approach to unconscionability and contract law”Š. Nghiên cứu này thu hút sự chú ý đến khái niệm tính Bat hợp lý — một nên tang lý thuyết của luật hợp đồng. Tác giả dưới góc độ tiếp cận của bên yếu thế lập luận rằng, thay vì thực thi nghĩa vụ của những lời hứa, luật hợp đồng quan tâm hơn đến khiếu nại chống lại những sai phạm hứa hen.
Học thuyết Bat hợp lý được tác giả giải thích qua một so sánh như một bên tham gia vào “hành vi bóc lột” có thé mắt đi tư cách dao đức dé khiếu nại. Lý do đơn giản là do bên chiếm ưu thế trong quan hệ đã mắt đi lập trường đạo đức của minh dé luật pháp, thông qua học thuyết bat hợp lý, ngăn cản bên vốn đã ở vị trí có lợi hơn trong quan hệ đưa ra một khiếu nại pháp lý. Tác giả đã trình bày tóm lược một số nghiên cứu nổi bật liên quan đến học thuyết hợp đồng hiện đại đóng vai trò cơ sở lý thuyết nền tảng cho HĐLKSXTTNS. Mặc dù đã có khá nhiều nghiên cứu đa chiều trên thế giới về các vấn đề lý thuyết này, nhưng các nghiên cứu trước đây vẫn chưa lý giải nguồn gốc dẫn đến sự phân tách và khác biệt giữa HĐLKSXTTNS so với các loại hợp đồng thông thường khác, dẫn đến chưa xác định đúng bản chất của HĐLKSXTTNS, khiến pháp luật bỏ ngỏ việc công nhận va bảo vệ quyền người nông dân khi giao kết hợp đồng này.
Nguồn gốc van dé sẽ được nghiên cứu của tác giả làm sáng tỏ thông qua việc xác định khái niệm, ban chất của HĐLKSXTTNS, cùng 7 Duong Anh Son, Hoàng Vĩnh Long, (2013), "Thi bàn về bản chất cua hợp dong từ góc độ Kinh tế hoc", Tạp chí Nhà nước và Pháp Luật, số 2 (289). II với nghiên cứu triệt dé các cơ sở học thuyết có liên quan dé từ đó đề xuất các giải pháp pháp lý nham bao đảm quyền lợi tốt nhất cho người nông dân trong các HĐLKSXTTNS. Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về hợp đồng liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện liên quan đến HDLKSXTTNS và nhiều nghiên cứu được liệt kê trong Trung tâm tài nguyên nông nghiệp hợp đồng của Tổ chức Nông nghiệp (Food and Agriculture Organization — gọi tắt là FAO). Viện Ngân hàng Phát triển Châu Á (The Asian Development Bank Institute — gọi tat la ADBI) tai Tokyo đã thực hiện một loạt các nghiên cứu ở một vai nước châu A đề đánh giá các điều kiện có lợi cho nông dân — chủ thê yêu thé trong các hợp đồng này.
Tại Lào, nghiên cứu cho thay nông dân ký hợp đồng kiếm được lợi nhuận cao hơn đáng ké so với nông dân không kí kết hợp đồng. Điều này tạo điều kiện cho sự chuyền đôi của nông dân tự cung tự cấp sang nông nghiệp thương mai, mang lại tiềm năng giảm nghèo ở nông thôn). Một số nghiên cứu mới trên thế giới gần đây có thé kế đến: Prowse (2012) cung cấp một đánh giá toàn diện và dễ tiếp cận về các van đề hiện tại trong HDLKSXTTNS ở các nước đang phát triển. Một số nghiên cứu đưa ra một thông điệp tích cực về sự bao gồm của các hộ sản xuất nhỏ và lợi ích họ tích lũy được khi tham gia.
Ví dụ, trong một nghiên cứu được công bố vào năm 2014, Wang, Wang va Delgado xem xét một sỐ lượng lớn các nghiên cứu thực nghiệm về HĐLKSXTTNS. Họ kết luận rằng HDLKSXTTNS đã có tác động đáng kể trong việc cải thiện hiệu quả và năng suất của trang trại và thu nhập của nông dân!?, HĐLKSXTTNS đã được sử dụng bởi nhà nước thuộc địa Nhật Ban dé sản xuất đường ở Đài Loan trong giai đoạn sau năm 1885 và bởi các công ty chuối Hoa Kỳ ở Trung Mỹ vào đầu thé kỷ XX!!. Ở các nước tư bản tiên tiến, đường như HĐLKSXTTNS được sử dụng rộng rãi bởi ngành công nghiệp đồ hộp rau ở Bắc Mỹ và ngành công nghiệp hạt giống ở Tây Âu trong những năm 1930 và 1940. Tuy nhiên, vào cuối thế kỷ XX, trên khắp Tây ? Setboonsarng, S.
Leung, (2008), “Rice Contract Farming in Lao PDR: Moving from Subsistence to Commercial Agriculture” In Making Globalization Work Better for the Poor Through Contract Farming. (June 8, 2014), "The Transition To Modern Agriculture Contract Farming in Developing Economies", Am.